VIỆT NAM: Mở rộng kiểm tra thuế nhóm doanh nghiệp thua lỗ liên tiếp; Sửa đổi, bổ sung quy định về Thuế giá trị gia tăng; Thêm hàng loạt dịch vụ vào diện miễn VAT

Mở rộng kiểm tra thuế với nhóm doanh nghiệp thua lỗ liên tiếp

Không chỉ doanh nghiệp có doanh thu lên đến nghìn tỉ đồng, lãi mỏng, ngành thuế còn mở rộng kiểm tra đối với doanh nghiệp có doanh thu vài trăm tỉ đồng nhưng lỗ liên tiếp, nhằm làm rõ rủi ro thuế.

Nhằm chống thất thu ngân sách, Cục Thuế cho biết đã chỉ đạo thuế các tỉnh, thành phố tiếp tục rà soát, cập nhật dữ liệu kê khai năm 2025 của các doanh nghiệp có doanh thu lên tới vài trăm tỉ đồng, mở rộng kinh doanh nhưng lại lỗ liên tiếp. Với những doanh nghiệp doanh thu lớn, lãi mỏng, lỗ kéo dài nhiều năm thì đưa vào diện kiểm tra.

Qua rà soát, Cục Thuế đã lập danh sách 302 doanh nghiệp có doanh thu trên 1.000 tỉ đồng nhưng lỗ liên tiếp trong hai năm 2023 - 2024. Các doanh nghiệp tập trung ở Hà Nội, TP.HCM, Đồng Nai, Thái Nguyên…

Theo Thuế TP Hà Nội, trong số 302 doanh nghiệp thuộc diện kiểm tra thì Hà Nội có tới 47 doanh nghiệp. Thuế TP Hà Nội đã chủ động mở rộng diện rà soát thêm 171 doanh nghiệp có doanh thu từ 500 tỉ đồng nhưng lợi nhuận mỏng dưới 1%, hoặc kê khai lỗ liên tiếp.

Việc thanh tra, kiểm tra sẽ tập trung chính vào các dự án FDI, các dự án đã hết ưu đãi thuế, các giao dịch liên kết, các doanh nghiệp có khả năng cao sử dụng hai sổ sách kế toán.

Ngoài ra, Cục Thuế vừa ban hành quyết định kiểm tra chuyên đề 108 doanh nghiệp có doanh thu lớn tập trung vào một số ngân hàng, công ty bất động sản, công ty chứng khoán. Đây là kế hoạch kiểm tra hằng năm của cơ quan thuế.

Trao đổi với Tuổi Trẻ, lãnh đạo Ban kiểm tra (Cục Thuế) cho biết doanh nghiệp lỗ có thể do yếu tố khách quan như ảnh hưởng của dịch COVID-19 giai đoạn 2021 - 2023, hoặc có thể do chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp.

Theo quy định, doanh nghiệp được chuyển lỗ trong vòng 5 năm. Tuy nhiên, nguyên nhân lỗ cũng có thể do chủ quan như chi phí quản lý tăng cao, chi phí lãi vay… Thậm chí có tình trạng tăng chi phí đầu vào, hợp thức hóa các khoản chi thông qua mua bán hóa đơn.

Do đó cơ quan thuế sẽ rà soát, bóc tách doanh thu, chi phí, lợi nhuận tại thời điểm kê khai, kiểm tra thuế giá trị gia tăng nhằm phát hiện sai lệch, đánh giá đúng bản chất tình trạng lỗ, lãi mỏng, tránh tình trạng "lỗ giả, lãi thật".

Theo vị này, không ít doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ - vốn có biên lợi nhuận cao nhưng lại báo lỗ hoặc chỉ ghi nhận mức lãi rất thấp. Nhiều trường hợp có doanh thu lớn nhưng tỉ suất lợi nhuận lại thấp hơn đáng kể so với mặt bằng chung của toàn ngành. Đây là dấu hiệu bất thường, có rủi ro về thuế.

Trường hợp doanh nghiệp cố tình sai phạm, cơ quan thuế sẽ phối hợp với các cơ quan chức năng để xử lý nghiêm theo quy định.

Cục Thuế cho biết năm 2025, ngành thuế kiểm tra 69.000 doanh nghiệp, qua đó xử lý giảm lỗ tại hơn 14.500 doanh nghiệp với số tiền gần 46.500 tỉ đồng.

Còn 3 tháng đầu năm nay, toàn ngành thực hiện khoảng 7.200 cuộc thanh tra, kiểm tra, kiến nghị xử lý tài chính 14,8 nghìn tỉ đồng, trong đó thu nộp ngân sách 4,4 nghìn tỉ đồng, giảm khấu trừ và giảm lỗ 10,4 nghìn tỉ đồng. Đồng thời, cơ quan thuế đã đôn đốc cưỡng chế thu hồi nợ thuế ước cả quý 1 khoảng 17 nghìn tỉ đồng.

Dù ngành thuế áp dụng các biện pháp quản lý theo quy định, nhưng tổng nợ thuế ước đến 31-3 đạt 264.176 tỉ đồng, tăng 15,4% so với ngày 31-12-2025.

Sửa đổi, bổ sung một số quy định về Thuế giá trị gia tăng

Chính phủ ban hành Nghị định số 144/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 181/2025/NĐ-CP ngày 1/7/2025 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng đã được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Nghị định số 359/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025.

Bổ sung đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng

Cụ thể, Nghị định số 144/2026/NĐ-CP bổ sung khoản 3a vào sau khoản 3 Điều 4 Nghị định số 181/2025/NĐ-CP quy định về đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng: “3a. Bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm người học, các dịch vụ bảo hiểm khác liên quan đến con người; bảo hiểm vật nuôi, bảo hiểm cây trồng, các dịch vụ bảo hiểm nông nghiệp khác; bảo hiểm tàu, thuyền, trang thiết bị và các dụng cụ cần thiết khác phục vụ trực tiếp đánh bắt thủy sản; tái bảo hiểm theo quy định của pháp luật về kinh doanh bảo hiểm; bảo hiểm các công trình, thiết bị dầu khí, tàu chứa dầu mang quốc tịch nước ngoài do nhà thầu dầu khí hoặc nhà thầu phụ nước ngoài thuê để hoạt động tại vùng biển Việt Nam, vùng biển chồng lấn mà Việt Nam và các quốc gia có bờ biển tiếp liền hay đối diện đã thỏa thuận đặt dưới chế độ khai thác chung.”.

Về các dịch vụ tài chính, ngân hàng, kinh doanh chứng khoán, thương mại thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng, Nghị định số 144/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung điểm đ khoản 4 Điều 4 Nghị định số 181/2025/NĐ-CP như sau: “đ) Bán nợ bao gồm bán khoản phải trả và khoản phải thu, bán chứng chỉ tiền gửi".

Nghị định số 144/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung khoản 14 Điều 4 đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng như sau:

“14. Sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản khai thác chưa chế biến thành sản phẩm khác và sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản khai thác đã chế biến thành sản phẩm khác theo định hướng của nhà nước về không khuyến khích xuất khẩu, hạn chế xuất khẩu các tài nguyên, khoáng sản thô được quy định tại Danh mục (Phụ lục I, Phụ lục II) ban hành kèm theo Nghị định này.

Trong trường hợp cần thiết phải điều chỉnh sản phẩm xuất khẩu tại Danh mục (Phụ lục I, Phụ lục II) để phù hợp với bối cảnh kinh tế - xã hội, định hướng của nhà nước về không khuyến khích xuất khẩu, hạn chế xuất khẩu các tài nguyên, khoáng sản thô trong từng thời kỳ, Bộ Công Thương xác định và đề xuất điều chỉnh Danh mục gửi Bộ Tài chính chủ trì, nghiên cứu, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan báo cáo Chính phủ xem xét, quyết định.”.

Sửa đổi quy định về khấu trừ thuế giá trị gia tăng

Nghị định số 144/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi điểm a và bổ sung điểm c của khoản 2 Điều 23 quy định về khấu trừ thuế giá trị gia tăng như sau:

2. Thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hóa (bao gồm cả tài sản cố định), dịch vụ sử dụng đồng thời cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế và không chịu thuế thì chỉ được khấu trừ số thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng. Cơ sở kinh doanh phải hạch toán riêng thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ và không được khấu trừ; trường hợp không hạch toán riêng được thì số thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ tính theo tỷ lệ % giữa doanh thu của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng so với tổng doanh thu hàng hóa, dịch vụ bán ra trong kỳ tính thuế. Trong đó:

a) Tổng doanh thu của hàng hóa, dịch vụ bán ra bao gồm doanh thu của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng; doanh thu của hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế giá trị gia tăng; giá trị gia tăng của hoạt động mua, bán, chế tác vàng, bạc, đá quý (trừ trường hợp giá trị gia tăng âm (-)) và doanh thu của hàng hóa, dịch vụ quy định tại khoản 2 Điều 40 Nghị định này (nếu có).

Riêng doanh thu của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được xác định theo quy định của pháp luật về các tổ chức tín dụng; doanh thu của hoạt động về chứng khoán và thị trường chứng khoán được xác định theo quy định của pháp luật về chứng khoán; doanh thu của hoạt động kinh doanh bảo hiểm được xác định theo quy định của pháp luật về kinh doanh bảo hiểm”.

“c) Doanh thu của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng quy định tại khoản này bao gồm cả doanh thu của hàng hóa không phải kê khai, tính nộp thuế giá trị gia tăng (nếu có) quy định tại khoản 1 Điều 5 Luật Thuế giá trị gia tăng số 48/2024/QH15 đã được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 149/2025/QH15.".

Quy định mới về chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt trong một số trường hợp đặc biệt

Về điều kiện khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào, Nghị định số 144/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung điểm g khoản 2 Điều 26 quy định về chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt trong một số trường hợp đặc biệt như sau:

“g) Đối với hàng hóa, dịch vụ mua trả chậm, trả góp có giá trị hàng hóa, dịch vụ mua từ 05 triệu đồng trở lên, cơ sở kinh doanh căn cứ vào hợp đồng mua hàng hóa, dịch vụ bằng văn bản, hóa đơn giá trị gia tăng và chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt của hàng hóa, dịch vụ mua trả chậm, trả góp để khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào. Trường hợp chưa có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt do chưa đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng, phụ lục hợp đồng thì cơ sở kinh doanh vẫn được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào. Đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng, phụ lục hợp đồng, cơ sở kinh doanh không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thì cơ sở kinh doanh phải kê khai, điều chỉnh giảm số thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ đối với phần giá trị hàng hóa, dịch vụ không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt vào kỳ tính thuế phát sinh nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng, phụ lục hợp đồng. Trường hợp sau khi điều chỉnh, cơ sở kinh doanh có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thì cơ sở kinh doanh được kê khai, khấu trừ số thuế giá trị gia tăng đầu vào đối với phần giá trị hàng hóa, dịch vụ có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt vào kỳ tính thuế có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt.”.

Nghị định số 144/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 20/6/2026.

Từ ngày 20/6, thêm hàng loạt dịch vụ vào diện miễn VAT

Nghị định 144/2026 có hiệu lực từ ngày 20/6, mở rộng danh mục đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng, trong đó bổ sung thêm nhiều loại dịch vụ, đặc biệt ở lĩnh vực bảo hiểm và tài chính.

Chính phủ ngày 6/5 ban hành Nghị định số 144/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 181/2025 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng (VAT). Nghị định mới có hiệu lực từ ngày 20/6.

Bổ sung đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng

Nghị định số 144/2026 mở rộng nhóm đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng (VAT). Nhiều loại hình bảo hiểm được đưa vào diện này, gồm bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm người học và các dịch vụ bảo hiểm liên quan đến con người; bảo hiểm nông nghiệp như bảo hiểm vật nuôi, cây trồng; bảo hiểm phục vụ trực tiếp hoạt động khai thác thủy sản; tái bảo hiểm theo quy định pháp luật...

Đối với lĩnh vực tài chính - ngân hàng và chứng khoán, Nghị định cũng sửa đổi quy định theo hướng bổ sung hoạt động bán nợ vào diện không chịu thuế giá trị gia tăng, bao gồm cả bán khoản phải thu, khoản phải trả và chứng chỉ tiền gửi.

Bên cạnh đó, quy định về hàng hóa xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản cũng được điều chỉnh. Cụ thể, các sản phẩm tài nguyên, khoáng sản xuất khẩu thuộc danh mục không khuyến khích hoặc hạn chế xuất khẩu sẽ thuộc đối tượng không chịu thuế. Danh mục này được ban hành kèm theo nghị định và có thể được điều chỉnh linh hoạt theo từng thời kỳ, trên cơ sở đề xuất của Bộ Công Thương và sự phối hợp, thẩm định của Bộ Tài chính trước khi trình Chính phủ xem xét, quyết định.

Sửa đổi quy định về khấu trừ thuế giá trị gia tăng

Nghị định số 144/2026 sửa đổi, bổ sung quy định về khấu trừ VAT đầu vào theo hướng chặt chẽ và rõ ràng hơn trong việc phân bổ thuế.

Theo đó, với hàng hóa, dịch vụ (kể cả tài sản cố định) sử dụng đồng thời cho hoạt động chịu thuế và không chịu thuế, doanh nghiệp chỉ được khấu trừ phần thuế đầu vào tương ứng với hoạt động chịu thuế. Cơ sở kinh doanh phải hạch toán riêng phần thuế được khấu trừ và không được khấu trừ; trường hợp không thể tách bạch, số thuế được khấu trừ sẽ được xác định theo tỷ lệ doanh thu chịu thuế trên tổng doanh thu trong kỳ.

Đáng chú ý, nghị định làm rõ cách xác định tổng doanh thu. Theo đó, tổng doanh thu bao gồm doanh thu chịu thuế, không chịu VAT từ hoạt động vàng bạc, đá quý (trừ trường hợp âm) và một số khoản doanh thu khác theo quy định. Với các lĩnh vực đặc thù như ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, doanh thu được xác định theo pháp luật chuyên ngành tương ứng.

Bên cạnh đó, Nghị định 144/2026 bổ sung quy định về chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với các giao dịch mua trả chậm, trả góp từ 5 triệu đồng trở lên.

Theo đó, doanh nghiệp được khấu trừ VAT đầu vào khi có đầy đủ hợp đồng bằng văn bản, hóa đơn và chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt. Trường hợp chưa đến hạn thanh toán theo hợp đồng, doanh nghiệp vẫn được tạm khấu trừ dù chưa có chứng từ thanh toán.

Tuy nhiên, đến thời điểm thanh toán nếu không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt, doanh nghiệp phải kê khai điều chỉnh giảm số thuế đã khấu trừ tương ứng. Nếu sau đó bổ sung được chứng từ hợp lệ, phần thuế này sẽ được kê khai, khấu trừ lại vào kỳ phát sinh chứng từ.

Nguồn: Tuổi Trẻ; Báo Điện tử Chính phủ; Dân Trí

Xem thêm:
Về trang trước

Chủ đề:

Bình luận và đánh giá
Gửi nhận xét đánh giá
Lên đầu trang