- Học tập - Lao động - Kinh doanh
- Kinh doanh

Từ quý IV/2026, doanh nghiệp Việt sẽ bắt tay triển khai gói thầu hơn 3 tỷ USD, góp phần tái phát triển mỏ dầu Maydan Mahzam đã vận hành gần 60 năm tại Qatar.
Ngày 25/9, Tổng CTCP Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí Việt Nam (PTSC, HNX: PVS) đã cập nhật chi tiết về Gói thầu EPIC-1 thuộc Dự án tái phát triển mỏ Maydan Mahzam (Maydan Mahzam Redevelopment Project).
Trước đó, ngày 13/9, PTSC được QatarEnergy – Tập đoàn năng lượng quốc gia Qatar trao Gói thầu EPIC-1 với giá trị hợp đồng dự kiến hơn 3 tỷ USD. Đây là dự án có quy mô và khối lượng công việc lớn nhất mà PTSC M&C được trao thầu, dự kiến triển khai từ quý IV/2026 đến cuối năm 2031.
Trong Dự án MM1, PTSC M&C đảm nhận vai trò Tổng thầu EPCIC, chịu trách nhiệm tổng thể từ thiết kế, mua sắm, chế tạo, vận chuyển, lắp đặt, đấu nối đến chạy thử 8 cấu kiện mới, với tổng trọng lượng hơn 100.000 tấn. Đồng thời, doanh nghiệp thực hiện công tác cải hoán, đấu nối và tích hợp với các công trình hiện hữu.
Các cấu kiện chính của Dự án MM1 được thể hiện trong sơ đồ dưới đây, gồm: Giàn công nghệ trung tâm (Processing Platform) PS2K; Giàn tiện ích và khu nhà ở (Utilities & Living Quarters Platform) PS2L; Giàn ống đứng (Riser Platform) PS2R; Giàn đầu giếng (Wellhead Platform) MMI06C; hệ thống cầu dẫn, kết cấu đỡ cầu dẫn và các hạng mục liên quan.
Với quy mô nêu trên, Dự án MM1 có giá trị và khối lượng công việc lớn nhất trong lịch sử PTSC M&C. Tuy nhiên, dự án được triển khai trên nền tảng năng lực và kinh nghiệm mà công ty đã tích lũy qua nhiều dự án.
Cụ thể, khối thượng tầng giàn công nghệ trung tâm khai thác dầu PS2K có trọng lượng khoảng 19.000 tấn. Trong khi đó, PTSC M&C hiện đang triển khai giàn công nghệ trung tâm khai thác khí có trọng lượng lên đến 26.000 tấn.
Các hạng mục còn lại, bao gồm công tác hoán cải ngoài khơi, cũng kế thừa kinh nghiệm thực tiễn của công ty qua các dự án đã thực hiện, trong đó có những dự án quốc tế nói chung và tại Qatar nói riêng.
QatarEnergy là công ty năng lượng quốc gia Qatar, giữ vai trò chủ đạo trong quản lý và phát triển các nguồn tài nguyên năng lượng của đất nước. Trong chiến lược hiện đại hóa hạ tầng và nâng cao hiệu quả khai thác, QatarEnergy đang triển khai chương trình tăng cường khai thác mỏ Maydan Mahzam – một trong những mỏ dầu ngoài khơi lâu đời của Qatar, được đưa vào khai thác từ năm 1965.
Sau hơn sáu thập niên vận hành, sản lượng mỏ Maydan Mahzam có xu hướng suy giảm. Trước mục tiêu duy trì sản lượng ở mức khoảng 25.000 thùng/ngày, QatarEnergy triển khai chương trình tăng cường khai thác trên toàn mỏ, gồm đóng mới, nâng cấp các giàn khai thác, mở rộng hệ thống đường ống và bổ sung trang thiết bị. Trong tổng thể chương trình này, Dự án MM1 giữ vai trò trung tâm.
Theo đánh giá của Vietcap, dự án Maydan Mahzam cho thấy bước tiến đáng kể của PVS về quy mô dự án tại thị trường nước ngoài. Nếu triển khai thành công, hợp đồng này có thể góp phần cải thiện vị thế của PVS trong các gói thầu dầu khí ngoài khơi quy mô lớn bên ngoài Việt Nam trong thời gian tới.
Xem tiếp tại đường Link =>
https://share.google/9Z25hi4gDu3cAMIb5
Phí sàn TMĐT, quảng cáo, khuyến mại và logistics ngày càng chiếm tỷ trọng lớn, khiến không ít người bán dù tăng doanh thu nhưng lợi nhuận thực nhận lại bị thu hẹp.
Bán được nhiều hàng hơn nhưng chưa chắc kiếm được nhiều tiền hơn. Đây là bài toán mà không ít nhà bán hàng trên các sàn thương mại điện tử (TMĐT) đang phải tính toán khi các khoản phí trực tiếp lẫn chi phí để duy trì khả năng tiếp cận khách hàng ngày càng lớn.
Chia sẻ trên báo chí, anh Đỗ Hữu Tân - Giám đốc Công ty CP Giải pháp đóng gói Magix, chủ thương hiệu Thùng hộp bao bì carton Magix, cho biết sau hơn 10 năm kinh doanh trên các sàn TMĐT, việc tính toán hiệu quả của từng đơn hàng hiện phải chi li hơn trước.
Theo anh Tân, người bán đang phải đối mặt với hai lớp chi phí. Một lớp là những khoản gần như bắt buộc, được tính trực tiếp theo doanh thu hoặc từng đơn hàng. Lớp còn lại gồm quảng cáo, voucher, các chương trình đồng tài trợ khuyến mại... Về lý thuyết, người bán có thể không tham gia, nhưng nếu đứng ngoài những chương trình này, khả năng tiếp cận khách hàng và phát sinh đơn hàng có thể giảm.
Điều đó tạo nên một nghịch lý: doanh thu tăng nhưng lợi nhuận chưa chắc tăng tương ứng. Anh Tân đưa ra ví dụ, trước đây một gian hàng đạt doanh thu 100 triệu đồng có thể thu về khoảng 30 triệu đồng lợi nhuận. Trong bối cảnh chi phí thay đổi, doanh thu dù tăng lên 200 triệu đồng nhưng lợi nhuận có thể chỉ còn 17 - 20 triệu đồng.
Áp lực chi phí tiếp tục gia tăng khi các nền tảng điều chỉnh chính sách phí. TikTok Shop vừa thông báo từ 0 giờ ngày 12/10/2026 sẽ áp dụng phí vận hành logistics đối với các kiện hàng có trọng lượng tính phí trên 10 kg.
Theo chính sách được TikTok Shop công bố, khoản phí được tính trên mỗi đơn hàng, mỗi kiện hàng và theo trọng lượng tính phí. Mức phí bắt đầu từ 3.000 đồng/kiện và tăng theo các bậc trọng lượng, tối đa 65.000 đồng/kiện. Người bán là bên chi trả và khoản tiền này được khấu trừ vào quyết toán đơn hàng.
Đáng chú ý, nếu đơn hàng đã giao thành công nhưng sau đó phát sinh trả hàng, hoàn tiền, phí vận hành logistics đã thu sẽ không được hoàn lại cho người bán.
Đây không phải lần đầu câu chuyện phí trên các sàn TMĐT được đặt ra. Trong tháng 5/2026, trước những phản ánh liên quan đến việc một số nền tảng điều chỉnh mức phí hoặc dự kiến áp dụng chính sách phí mới, Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia đã làm việc với một số người bán trên Shopee và TikTok Shop để ghi nhận những khó khăn, bất cập.
Cơ quan này sau đó cho biết sẽ tiếp tục theo dõi, giám sát việc xây dựng, điều chỉnh và áp dụng chính sách phí; đồng thời yêu cầu các doanh nghiệp liên quan cung cấp đầy đủ thông tin, tài liệu về cơ sở xây dựng, căn cứ điều chỉnh, phương thức áp dụng, cơ chế thu phí cũng như tính hợp lý, minh bạch và tác động của các chính sách này đối với hoạt động kinh doanh của nhà bán hàng.
Với người bán, sức ép không chỉ nằm ở một khoản phí riêng lẻ. Chi phí thực tế để tạo ra một đơn hàng còn có thể bao gồm phí nền tảng, phí giao dịch, quảng cáo, voucher, khuyến mại, logistics và những chương trình hỗ trợ bán hàng khác.
Nhiều ý kiến cho rằng, trong môi trường cạnh tranh trên sàn, cắt giảm quảng cáo hay không tham gia các chương trình ưu đãi cũng không phải lựa chọn dễ dàng. Tiết kiệm được một phần chi phí có thể đồng nghĩa với giảm khả năng tiếp cận khách hàng; ngược lại, dành thêm ngân sách để duy trì hiển thị và kích thích mua sắm lại khiến phần lợi nhuận trên mỗi đơn hàng tiếp tục bị thu hẹp.
Bài toán của người bán vì thế không còn đơn giản là bán được bao nhiêu sản phẩm, mà là sau khi trừ toàn bộ chi phí, phần thực nhận còn lại bao nhiêu.
Trao đổi với Diễn đàn Doanh nghiệp xung quanh câu chuyện này, Luật sư Lê Thị Nhung - Giám đốc Công ty Luật L&A Legal Experts cho rằng, việc các sàn TMĐT xây dựng và điều chỉnh chính sách phí gắn với hoạt động kinh doanh của nền tảng. Tuy nhiên, khi những thay đổi này tác động trực tiếp tới chi phí và phương án kinh doanh của nhà bán hàng, yêu cầu về tính công khai, minh bạch càng trở nên quan trọng.
“Người bán cần được biết rõ mình phải trả những khoản phí nào, căn cứ tính phí ra sao, thời điểm áp dụng và những trường hợp nào có thể phát sinh thêm chi phí. Thông tin càng rõ ràng thì doanh nghiệp, hộ kinh doanh càng có cơ sở tính toán giá bán, lợi nhuận và lựa chọn phương án kinh doanh phù hợp”, Luật sư Nhung phân tích.
Theo Luật sư Lê Thị Nhung, một vấn đề cũng cần được quan tâm là thời gian thông báo trước khi thay đổi chính sách. Những điều chỉnh tác động trực tiếp đến chi phí cần được thông tin kịp thời để người bán có thời gian tính toán lại giá bán, hàng tồn kho, chương trình khuyến mại cũng như các kế hoạch kinh doanh đang triển khai.
Xem tiếp tại đường Link =>
https://share.google/JmaLqzR8ZNAg4rGiE
Gỗ không phải một vật liệu mới của kiến trúc Việt Nam, nhưng từ một cấu kiện rời nhà máy đến một hệ kết cấu xuất hiện trên bản vẽ vẫn là một khoảng cách.
Khi kết cấu gỗ “tìm đường” vào công trình Việt Nam
Việt Nam đã sản xuất được CLT, Glulam. Một số hệ CLT thương mại có tấm dài 16-16,5 m, rộng khoảng 3,5 m; Structural Timber Association cho biết CLT có thể được sản xuất thành panel dài tới 24 m. Các lớp gỗ được xếp vuông góc nhau rồi liên kết thành tấm kết cấu dùng cho tường, sàn và mái.
Glulam là loại gỗ dán nhiều lớp với màu sắc đa dạng, độ bền cao, khả năng chống ẩm tốt và có thể tạo ra các miếng lớn với hình dạng độc đáo. Một trong những ưu điểm khiến glulam trở thành vật liệu ưa thích của các nhà thiết kế và xây dựng chính là khả năng bẻ cong tốt hơn 80% so với gỗ tự nhiên và có thể tăng chiều dài của gỗ bằng cách ghép kiểu nối ngón. Do có độ biến dạng lớn hơn bê tông nên glulam có thể chống chịu sức ép tốt hơn, trong khi trọng lượng lại nhẹ và có sức mạnh kết cấu tương đương, tạo thuận lợi cho công tác lắp ráp, bảo trì hay tháo gỡ. Theo Natural Resources Canada, độ dài của loại này có thể lên tới 130 feet (~40 m) nhưng phụ thuộc lớn vào điều kiện thực tế và vận chuyển.
Sử dụng gỗ có vòng đời từ 10-25 năm và xuất xứ từ các khu vực có quy hoạch của Nhà Nước, Glulam nhanh chóng trở thành “ngôi sao xanh” trong các công trình xây dựng thân thiện với môi trường.
Nhưng từ một cấu kiện rời nhà máy đến một hệ kết cấu xuất hiện trên bản vẽ vẫn là một khoảng cách. Ngày 23/9 tại Hà Nội, hai hội thảo về Mass Timber do Tập đoàn Trần Đức phối hợp cùng Viện Khoa học Công nghệ Xây dựng (IBST) tổ chức đã đi thẳng vào khoảng cách ấy: Việt Nam còn cần gì để kết cấu gỗ thực sự bước vào công trình?
Có một nghịch lý với Mass Timber ((hay còn gọi là gỗ khối, gỗ kỹ thuật xây dựng) tại Việt Nam. Công nghệ sản xuất đã có. Những cấu kiện gỗ kỹ thuật kích thước lớn không còn là câu chuyện chỉ có thể nhìn thấy ở Nhật Bản, châu Âu hay Bắc Mỹ. Nhưng với một kiến trúc sư muốn đưa kết cấu gỗ lên bản vẽ, một kỹ sư phải tính toán hay một chủ đầu tư phải quyết định đầu tư, câu hỏi khó lại bắt đầu từ đây: Lấy gì để thiết kế? Lấy gì để kiểm chứng? Và lấy gì để tin rằng công trình sẽ đứng vững không chỉ trên bản tính, mà qua nhiều năm sử dụng?
Sản xuất được không đồng nghĩa với có 1 ngành xây dựng gỗ
Mở đầu hội thảo buổi sáng, TS. Nguyễn Hồng Hải - Viện trưởng IBST đặt câu chuyện trong bối cảnh rộng hơn của Net Zero, kinh tế tuần hoàn và khả năng nâng giá trị chuỗi gỗ Việt Nam. Nguyên liệu có, ngành chế biến lớn có, và những sản phẩm như CLT, Glulam đã được sản xuất ngay trong nước. Nhưng một ngành xây dựng gỗ cần nhiều hơn thế.
Kinh nghiệm New Zealand được Ông Andrea Stocchero chia sẻ ngay sau đó cho thấy phía sau những công trình gỗ là một hệ thống tiêu chuẩn đủ chặt, từ vật liệu, thiết kế, xử lý bảo quản đến thi công và bảo trì. Quan trọng hơn, tiêu chuẩn ấy phải được đặt trong chính môi trường nơi công trình tồn tại.
Đó cũng là điểm TS. Vũ Thành Trung - IBST đưa câu chuyện trở lại Việt Nam với thiết kế kết cấu gỗ theo BS EN 1995-1-1. Dự thảo tiêu chuẩn Việt Nam đang được xây dựng trên nền tiêu chuẩn quốc tế, nhưng một bộ tiêu chuẩn không thể chỉ được dịch từ một khí hậu sang một khí hậu khác. Độ ẩm, gió bão, mối mọt hay chính đặc tính của nguồn gỗ đều có thể thay đổi những giả định phía sau phép tính. Trước khi có một con số trên bản tính của kỹ sư, phải có một mẫu vật được thử. Đây cũng là phần ít hào nhoáng nhưng có lẽ quan trọng nhất trong chương trình hợp tác giữa Trần Đức và IBST.
Tại hội thảo buổi chiều, TS. Đỗ Tiến Thịnh cập nhật tiến độ xây dựng hai tiêu chuẩn quốc gia về thiết kế kết cấu gỗ, gồm yêu cầu chung và thiết kế chịu lửa, dự kiến trình thẩm định và công bố trong năm 2027. Song song với quá trình đó, các thử nghiệm cơ tính và tính cháy của SIP đã được thực hiện; GLT và CLT là những bước tiếp theo, với các chỉ tiêu từ bắt cháy, lan truyền lửa đến cường độ chịu uốn, mô đun đàn hồi và độ bền đường keo. Một cấu kiện vì thế không chỉ cần được sản xuất. Những đặc tính của nó phải được đo, kiểm chứng và chuyển thành dữ liệu mà kỹ sư có thể sử dụng. Đến lúc ấy, khoảng cách từ nhà máy tới bản vẽ mới thực sự bắt đầu ngắn lại.
“Gỗ có cháy không?” chưa phải câu hỏi đúng
Khi nói đến kết cấu gỗ, cháy thường là câu hỏi đầu tiên. Nhưng tại hội thảo ngày 23/9, các chuyên gia đặt vấn đề theo một cách khác. Từ kinh nghiệm Nhật Bản, Yamaoka Yoshihiko - Life Design Kabaya tiếp cận khả năng chịu lửa từ chính đặc tính của vật liệu. Gỗ cháy, nhưng quá trình than hóa, phần tiết diện còn lại của cấu kiện và các giải pháp bảo vệ có thể trở thành những yếu tố của thiết kế. Nói cách khác, câu hỏi không còn chỉ là “gỗ có cháy không?”, mà là “chúng ta hiểu nó đủ rõ để tính toán khi cháy hay chưa?”. Cũng với logic ấy, TS. Đoàn Thị Bích Ngọc - Viện Nghiên cứu Công nghiệp rừng đưa cuộc thảo luận về một thách thức gần với Việt Nam hơn: độ bền trong khí hậu nhiệt đới. Một cấu kiện có thể vượt qua thử nghiệm chịu lực trong phòng lab. Nhưng công trình không sống trong phòng lab. Một vật liệu còn phải đi qua thời gian.
Độ ẩm, mưa nắng, nấm mục, mối mọt khiến việc lựa chọn gỗ không thể dừng ở câu hỏi loại nào “tốt” hơn. Gỗ trong nội thất, trên mặt dựng, ngoài trời hay tham gia chịu lực đang làm những công việc khác nhau và chịu những điều kiện khác nhau. Phần trình bày của KTS. Nguyễn Huy Hiển - Giám đốc Kỹ thuật Tập đoàn Trần Đức về kinh nghiệm ứng dụng kết cấu gỗ tại Việt Nam đưa những vấn đề ấy từ tiêu chuẩn trở lại công trình.
“Là người làm thiết kế, tôi hiểu cảm giác phải bỏ một phương án gỗ chỉ vì không có gì để chứng minh nó an toàn. Mỗi mẫu thử Trần Đức đưa vào phòng thí nghiệm hôm nay là để những kiến trúc sư đi sau không phải bỏ phương án ấy nữa,” KTS. Nguyễn Huy Hiển chia sẻ.
Tại hội thảo buổi chiều, cách tiếp cận ấy được Trần Đức mở rộng qua TD ShieldWood - hệ vật liệu phát triển theo điều kiện và vị trí sử dụng, thay vì xem một loại gỗ là lời giải cho mọi yêu cầu. Ông Andrea Stocchero cũng nhắc đến An Lâm Ninh Vân Bay – khu nghỉ dưỡng ven biển nơi Trần Đức tham gia thiết kế, thi công– như một ví dụ về việc vật liệu chỉ thực sự có ý nghĩa khi được đặt trong một điều kiện sử dụng cụ thể. Hiểu được vật liệu và có tiêu chuẩn để thiết kế đã rút ngắn một phần khoảng cách. Nhưng chúng vẫn chưa tự động tạo ra một công trình.
Từ bản vẽ đến công trường
Một dự án Mass Timber không bắt đầu và kết thúc ở việc mua được CLT. Phía trước nhà máy là nguồn gỗ. Phía sau nhà máy là kiến trúc sư, kỹ sư, chuyên gia PCCC, đơn vị thẩm tra, nhà thầu và chủ đầu tư. Nếu những mắt xích ấy không gặp nhau, một cấu kiện dù đã được sản xuất và kiểm chứng vẫn có thể dừng lại trước khi trở thành công trình.
Có nhiều cuộc thảo luận từ những vị trí khác nhau nhưng cùng chỉ ra một vấn đề: không một mắt xích nào có thể tự mình tạo nên một công trình Mass Timber. Khoảng trống lúc này không còn nằm ở một công nghệ riêng lẻ, mà ở khả năng kết nối những người đang nắm giữ từng phần của lời giải.
TD Tech Hub - nền tảng do Tập đoàn Trần Đức xây dựng và kết nối để đưa những năng lực đó vào cùng một chuỗi: từ nguyên liệu, nghiên cứu, thiết kế đến sản xuất và ứng dụng Mass Timber. Tại Hà Nội, SEQUAL - doanh nghiệp New Zealand cung cấp nguồn gỗ từ các khu rừng đạt chứng nhận FSC - chính thức gia nhập TD Tech Hub, đồng thời ký kết hợp tác chiến lược với Tập đoàn Trần Đức. Sự tham gia của SEQUAL bổ sung nguồn nguyên liệu quốc tế vào mạng lưới hiện có Life Design Kabaya (Nhật Bản), Tập đoàn Trần Đức, cùng Hội đồng Cố vấn gồm IBST, AIA Southeast Asia và Rothoblaas (Ý).
Xem tiếp tại đường Link =>
https://share.google/oB2TDV5j0AKrt20F4
Rô phi là loại cá phổ biến có giá rẻ được bán đầy chợ Việt. Song, loại cá này đang được Brazil chi tiền gấp hơn 222 lần để chốt mua, còn Nhật Bản cũng chọn nhập khẩu về làm sushi, sashimi.
Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), 8 tháng vừa qua, xuất khẩu cá rô phi mang về 90 triệu USD, tăng mạnh 43% so với cùng kỳ năm 2025.
Đáng chú ý, Brazil đóng vai trò nổi bật trong cơ cấu thị trường xuất khẩu cá rô phi Việt Nam. Chỉ riêng tháng 8, kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này đạt 4 triệu USD.
Lũy kế 8 tháng năm 2026, xuất khẩu cá rô phi sang thị trường Brazil đạt 44 triệu USD, tăng đột biến 22.142% so với cùng kỳ (gấp hơn 222 lần).
Mức tăng đột biến này phản ánh sự mở rộng nhanh chóng về quy mô xuất khẩu từ nền kim ngạch thấp của cùng kỳ năm trước. Với 44 triệu USD, Brazil chiếm gần 49% tổng kim ngạch xuất khẩu cá rô phi của Việt Nam trong 8 tháng, qua đó trở thành một trong những thị trường quan trọng đối với ngành hàng này.
Tương tự, xuất khẩu cá rô phi sang Trung Đông và Nhật Bản cũng ghi nhận những tín hiệu tích cực.
Theo đó, xuất khẩu cá rô phi sang Ả Rập Xê Út đạt 2 triệu USD trong tháng 8, nâng kim ngạch 8 tháng lên 7 triệu USD, tăng 23% so với cùng kỳ năm ngoái.
Thị trường Nhật Bản cũng ghi nhận mức tăng đáng chú ý trong tháng 8 với kim ngạch 400 nghìn USD, tăng mạnh 192% so với cùng kỳ. Tính chung 8 tháng, xuất khẩu sang Nhật Bản đạt 2 triệu USD, tăng 77%.
Đáng chú ý, cá rô phi nước lợ của Việt Nam bắt đầu được đưa vào phân khúc sushi, sashimi tại Nhật Bản. Việc được đưa vào phân khúc sushi, sashimi cho thấy cá rô phi nước lợ Việt Nam đang có cơ hội tiếp cận phân khúc sản phẩm có yêu cầu cao hơn tại thị trường Nhật Bản. Theo VASEP, đây cũng là tín hiệu cho thấy cá rô phi Việt Nam có khả năng mở rộng giá trị sử dụng, thay vì chỉ cạnh tranh ở phân khúc phổ thông.
Ở chiều ngược lại, xuất khẩu cá rô phi sang Mỹ trong 8 tháng đạt 21 triệu USD, giảm 48%. Nguyên nhân do sức mua tại Mỹ vẫn chưa phục hồi rõ rệt, trong khi lượng hàng tồn kho còn tương đối cao khiến các nhà nhập khẩu thận trọng hơn với việc mua hàng mới.
VASEP cho rằng, sự xuất hiện của cá rô phi Việt Nam trong phân khúc sushi, sashimi tại Nhật Bản có thể mở ra hướng phát triển mới, không chỉ tại thị trường này mà còn ở các thị trường có yêu cầu cao khác.
Xem tiếp tại đường Link =>
https://share.google/QgqKAT3Hy2VqsS3N4
Vingroup góp 510 tỷ đồng, tương đương 51% vốn, để thành lập Vin Oil&Gas Global, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xăng dầu và khí đốt.
Tập đoàn Vingroup vừa công bố quyết định góp vốn thành lập Công ty Cổ phần Vin Oil&Gas Global (VOG), doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực đầu tư, kinh doanh xăng dầu và khí đốt.
Theo thông tin công bố, VOG có vốn điều lệ 1.000 tỷ đồng, trong đó Vingroup nắm 51% vốn điều lệ, tương ứng phần vốn góp 510 tỷ đồng.
VOG đặt trụ sở tại Tòa nhà văn phòng Symphony, đường Chu Huy Mân, Khu đô thị Vinhomes Riverside, phường Phúc Lợi, Hà Nội.
Lĩnh vực kinh doanh chính của doanh nghiệp là đầu tư và kinh doanh xăng dầu, dầu và khí đốt. Với tỷ lệ sở hữu 51%, Vingroup là cổ đông chi phối tại doanh nghiệp mới thành lập.
Việc thành lập VOG diễn ra trong bối cảnh Vingroup đang mở rộng hoạt động sang các lĩnh vực liên quan đến hạ tầng và năng lượng.
Từ tháng 8/2025, Vingroup công bố bổ sung hai trụ cột hoạt động mới là hạ tầng và năng lượng xanh, bên cạnh các lĩnh vực công nghệ - công nghiệp, thương mại - dịch vụ và thiện nguyện xã hội. Tập đoàn cho biết định hướng này nhằm mở rộng sự tham gia vào các lĩnh vực hạ tầng cơ bản và năng lượng của Việt Nam.
Trong lĩnh vực năng lượng, Vingroup những năm gần đây cũng phát triển hệ sinh thái xoay quanh giao thông xanh và xe điện thông qua VinFast, cùng các hoạt động liên quan đến hạ tầng phục vụ quá trình chuyển đổi sang phương tiện điện.
Việc thành lập VOG mở thêm một hướng hoạt động của tập đoàn trong lĩnh vực năng lượng, dù chưa có thông tin về mảng kinh doanh cụ thể mà doanh nghiệp mới sẽ tập trung.
Thị trường xăng dầu và khí đốt hiện chịu ảnh hưởng đáng kể từ biến động địa chính trị và giá năng lượng thế giới.
Bộ Công Thương mới đây đánh giá thị trường năng lượng trong những tháng cuối năm 2026 và năm 2027 tiếp tục chịu tác động từ xung đột tại Trung Đông, nhu cầu năng lượng, chi phí vận tải, bảo hiểm và nguy cơ gián đoạn các tuyến cung ứng quốc tế.
Theo Bộ Công Thương, nguồn cung xăng dầu trong nước hiện cơ bản được bảo đảm, song việc đa dạng hóa nguồn nhập khẩu và duy trì mức dự trữ phù hợp đang trở nên quan trọng hơn trong bối cảnh thị trường quốc tế biến động.
Giá dầu thế giới cũng tăng mạnh trong thời gian gần đây do lo ngại nguồn cung bị gián đoạn bởi căng thẳng tại Trung Đông. Diễn biến giá dầu có tác động trực tiếp đến chi phí đầu vào, giá bán và biên lợi nhuận của các doanh nghiệp trong chuỗi kinh doanh xăng dầu.
Đối với thị trường trong nước, Việt Nam vẫn phụ thuộc đáng kể vào nguồn dầu thô và sản phẩm xăng dầu nhập khẩu.
Xem tiếp tại đường Link =>
Vingroup lập công ty nghìn tỷ, lấn sân lĩnh vực kinh doanh mới
Nguồn: Người Quan Sát; Diễn Đàn Kinh Tế; CafeF; Vietnamnet; The Leader
Việt Nam: Bức tranh bất động sản Hà Nội; Giá nhà giảm khắp nơi; Chuyện bán đất “cắt lỗ sớm”; Một cổ phiếu tăng hơn 200% sau 12 phiên
Việt Nam: Điểm nhấn bất động sản tuần qua; “Bộ lọc” mới đầu tư bất động sản; 150 nghìn doanh nghiệp thành lập mới; Vàng giảm 50 triệu đồng từ đỉnh
Việt Nam: Tỷ phú Nguyễn Thị Phương Thảo thăng hoa; Xe nhập khẩu ồ ạt về nước; Đặng Lê Nguyên Vũ có động thái đặc biệt; Vingroup xây 20 đại dự án; Gia tăng tầng lớp siêu giàu
Việt Nam: Cơn hoảng loạn chưa hồi kết; Giá nhà vượt khả năng chi trả; Cuộc đua bất động sản công nghệ cao; Các tỷ phú đóng góp cho đất nước; Doanh nhân Tài Phạm
Việt Nam: Hệ sinh thái 8 tỷ phú USD; Giá đất nền giảm sâu; Mô hình tàu cao tốc của Trần Bá Dương; 5 mẫu xe hybrid hút khách nhất; Bất động sản TP.HCM
Việt Nam: Hạ tầng Đà Nẵng “cất cánh”; Giá đất nền ven Hà Nội giảm; Tài sản 112 ha của Đặng Lê Nguyên Vũ; “Ông lớn” thuốc lá lãi 1.300 tỷ; Nhà đầu tư PNJ tháo chạy
Việt Nam: Chu kỳ mới bất động sản; Tập đoàn của giáo sư giàu nhất báo lãi; Novaland lãi 1.100 tỷ đồng; Xe buýt điện Phạm Nhật Vượng chạy ở Mỹ; Lãi suất BIDV cao nhất
Việt Nam: Người mua ô tô tất toán khoản vay; Tổng tài sản 5 tỉ phú; Dự báo giá vàng; Bất động sản được “hậu thuẫn” từ nhu cầu ở thực; Yếu tố cạnh tranh mới bất động sản công nghiệp
Bình luận và đánh giá
Gửi nhận xét đánh giá