Việt Nam: Cơn hoảng loạn chưa hồi kết; Giá nhà vượt khả năng chi trả; Cuộc đua bất động sản công nghệ cao; Các tỷ phú đóng góp cho đất nước; Doanh nhân Tài Phạm

Cơn hoảng loạn chưa có hồi kết: 35% vốn công ty bị chất bán giá sàn, người mua gần như biến mất

Một tình huống hiếm gặp đang diễn ra trên thị trường chứng khoán Việt Nam khi lượng cổ phiếu tương đương gần 35% vốn của một doanh nghiệp được đặt bán ở mức giá thấp nhất trong ngày nhưng gần như không tìm được người mua. Đó là những gì đang xảy ra với cổ phiếu KOS của CTCP Kosy.

Phiên giao dịch ngày 13/10 tiếp tục chứng kiến cổ phiếu này giảm hết biên độ, nối dài chuỗi 17 phiên giảm sàn liên tiếp. Thị giá KOS rơi xuống mức giá sàn 8.960 đồng/cổ phiếu. Đáng chú ý, lượng cổ phiếu dư bán tại giá sàn đã lên tới 75,6 triệu đơn vị, đồng nghĩa khoảng 35% tổng số cổ phiếu của công ty bị đem bán.

Trong khi đó, lực cầu trên thị trường gần như không đáng kể, khiến những nhà đầu tư muốn thoát hàng tiếp tục gặp khó khăn ngay cả khi đã chấp nhận bán ở mức giá thấp nhất. Cổ đong KOS chỉ có thể nhìn giá trị tài sản trên bảng điện liên tục giảm nhưng khả năng chuyển số cổ phiếu đó thành tiền mặt lại rất hạn chế.

Thực tế, chỉ hơn một tháng trước, KOS vẫn giao dịch trên vùng giá 33.000 đồng/cổ phiếu. Từ ngày 21/9, mã này bắt đầu chuỗi giảm hết biên độ kéo dài, tới nay sau hơn 1 tháng nhưng đã mất giá hơn 70%. Cùng với đà lao dốc của thị giá, vốn hóa Kosy cũng liên tục thu hẹp. Từ mức khoảng 7.298 tỷ, giá trị thị trường của doanh nghiệp hiện chỉ còn gần 1.940 tỷ đồng, tương ứng mức sụt giảm hơn 5.250 tỷ đồng.

Áp lực giải chấp và bài toán thanh khoản chưa có lời giải

Đằng sau chuỗi giảm sàn của KOS là áp lực bán giải chấp kéo dài đối với cổ phiếu thuộc sở hữu của lãnh đạo doanh nghiệp và các bên liên quan. Chủ tịch Nguyễn Việt Cường từng bán hơn 4,26 triệu cổ phiếu trong giai đoạn cuối tháng 8 đến ngày 24/9, qua đó giảm tỷ lệ sở hữu về khoảng 33,43% vốn điều lệ. Sau đó, cổ phiếu của ông Cường tiếp tục bị công ty chứng khoán bán giải chấp, song lượng khớp lệnh thực tế trong giai đoạn 30/9-6/10 chỉ đạt vài trăm đơn vị.

Tình trạng tương tự cũng xuất hiện tại các cổ đông liên quan như CTCP Đầu tư Leo Regulus, Công ty TNHH Đầu tư Địa ốc Kosy và một số lãnh đạo doanh nghiệp. Khi lượng cổ phiếu chờ bán lên tới hàng chục triệu đơn vị, các lệnh xử lý tài sản bảo đảm của công ty chứng khoán cũng gặp trở ngại do thiếu bên mua đối ứng. Điều này khiến quá trình giải chấp có nguy cơ kéo dài, đồng thời duy trì áp lực cung đối với cổ phiếu trên thị trường.

Trước diễn biến bất thường, Kosy đã nhiều lần phải gửi văn bản giải trình tới Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM. Trong giải trình mới nhất liên quan đến chuỗi giảm sàn từ ngày 5-9/10, doanh nghiệp tiếp tục cho rằng thị trường diễn biến giảm theo quán tính, gây áp lực tâm lý bán lên nhà đầu tư. Đồng thời, việc một số công ty chứng khoán điều chỉnh giảm tỷ trọng cấp margin và thực hiện giải chấp cổ phiếu cũng góp phần gia tăng áp lực bán, ảnh hưởng đến thanh khoản KOS.

Về phía hoạt động kinh doanh, Kosy khẳng định các lĩnh vực cốt lõi, bao gồm đầu tư và phát triển bất động sản, năng lượng tái tạo cùng hoạt động vận hành dự án vẫn đang triển khai theo kế hoạch. Theo báo cáo tài chính hợp nhất soát xét bán niên 2026, doanh nghiệp ghi nhận doanh thu gần 723 tỷ đồng, tăng 9% so với cùng kỳ, trong khi lợi nhuận sau thuế đạt hơn 15 tỷ đồng, tăng khoảng 121%. Dù vậy, khoản lợi nhuận này mới hoàn thành gần 13% kế hoạch cả năm, cho thấy khoảng cách đáng kể so với mục tiêu 120 tỷ đồng mà doanh nghiệp đề ra.

Xem tiếp tại đường Link =>

https://share.google/w6ZwglBw45KFMklzk

Giá nhà vượt khả năng chi trả, bất động sản nghịch lý cung - cầu

Thị trường bất động sản quý III/2026 ghi nhận khoảng 51.950 căn hộ, lô đất tồn kho, trong khi giá nhà tại các đô thị lớn vẫn ở mức cao. Thực trạng này cho thấy nguồn cung chưa đáp ứng đúng nhu cầu thực, đặt ra yêu cầu tháo gỡ pháp lý, phát triển nhà ở xã hội và kiểm soát chi phí đầu vào.

Giá nhà cao, thị trường xuất hiện nghịch lý cung - cầu

Ngày 13/10, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc - Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về chính sách nhà ở và thị trường bất động sản, chủ trì phiên họp thứ nhất của Ban Chỉ đạo sau khi được kiện toàn.

Tại phiên họp, Phó Thủ tướng Thường trực chỉ ra ba vấn đề lớn của thị trường: tiến độ phát triển nhà ở xã hội và nhà ở cho thuê còn thấp; giá nhà vượt khả năng chi trả của phần đông người dân; nhiều dự án bất động sản tiếp tục vướng mắc kéo dài, chủ yếu liên quan đến pháp lý, đất đai và tài chính.

Theo báo cáo của Bộ Xây dựng, trong quý III/2026, cả nước ghi nhận khoảng 92.004 giao dịch bất động sản thành công, bằng 92% so với quý trước. Giá chung cư và đất nền trên thị trường thứ cấp có xu hướng giảm so với quý II, nhưng vẫn duy trì ở mức cao tại các đô thị lớn. Thanh khoản thị trường còn thấp, giao dịch tập trung chủ yếu tại những dự án có pháp lý đầy đủ và vị trí thuận lợi.

Đáng chú ý, theo báo cáo của 27/34 địa phương, lượng bất động sản tồn kho trong quý III vào khoảng 51.950 căn, lô đất nền, có xu hướng tăng so với quý trước. Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Văn Sinh lưu ý, số liệu này mới phản ánh lượng tồn kho do chủ đầu tư báo cáo, chưa bao quát đầy đủ bất động sản chưa tiêu thụ trên thị trường thứ cấp và nguồn vốn đang nằm trong các dự án dở dang.

Những con số trên cho thấy lượng sản phẩm chưa tiêu thụ và nhu cầu nhà ở thực tế có thể không gặp nhau ở cùng phân khúc, địa điểm và mức giá. Thị trường có thể tồn kho ở một số khu vực nhưng người có nhu cầu ở thực vẫn khó tìm được căn nhà phù hợp thu nhập.

Chi phí đất đai và thủ tục tác động đến giá bán

Lý giải nguyên nhân giá nhà cao, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng từng nhấn mạnh giá đất là đầu vào của các dự án và của nền kinh tế. Khi chi phí đất cao, các khoản chi phí liên quan được cộng vào giá thành sản phẩm. Nếu quy trình giao đất và thủ tục hành chính kéo dài, chi phí vốn và thời gian triển khai dự án cũng tăng lên, tạo thêm áp lực lên giá bán cuối cùng.

Quan điểm này được Thủ tướng nêu tại phiên thảo luận của Quốc hội ngày 19/8/2026 về định hướng sửa đổi Luật Đất đai năm 2024, Luật Nhà ở và Luật Kinh doanh bất động sản. Thủ tướng cho rằng cần giải quyết đồng bộ các vấn đề về xác định giá đất, dữ liệu đất đai, thủ tục hành chính và cơ chế giao đất để kiểm soát chi phí đầu vào.

Theo định hướng được đề cập, Nhà nước cần quyết định giá đất dựa trên dữ liệu và phương pháp khoa học, công khai, minh bạch; đồng thời kết nối cơ sở dữ liệu đất đai với các dữ liệu chuyên ngành. Việc giao đất, cho thuê đất và chuyển mục đích sử dụng đất cũng cần được quy định rõ, bảo đảm minh bạch và rút ngắn quy trình xử lý.

Đối với doanh nghiệp bất động sản, thời gian hoàn thiện thủ tục và tính dự báo của chi phí đất đai ảnh hưởng trực tiếp đến phương án tài chính, tiến độ triển khai và khả năng đưa sản phẩm ra thị trường. Vì vậy, tháo gỡ pháp lý không chỉ giúp khơi thông dự án mà còn có thể giảm những khoản chi phí phát sinh trong quá trình đầu tư.

Tuy nhiên, giảm chi phí đầu vào không tự động đồng nghĩa giá bán sẽ giảm tương ứng. Mức giá đến tay người mua còn phụ thuộc vào cơ cấu sản phẩm, vị trí, nhu cầu thị trường, chi phí xây dựng và cách doanh nghiệp xác định giá bán. Hiệu quả chính sách cần được đánh giá bằng khả năng bổ sung nguồn cung phù hợp và cải thiện khả năng tiếp cận nhà ở của người dân.

Nhà ở xã hội chưa theo kịp nhu cầu thực tế

Một điểm nghẽn khác là tiến độ phát triển nhà ở xã hội và nhà ở cho thuê. Theo thông tin tại phiên họp, chỉ tiêu nhà ở xã hội được giao cho các địa phương trong năm 2026 là hơn 97.000 căn. Tuy nhiên, sau chín tháng, cả nước mới hoàn thành gần 47.000 căn, đạt khoảng 48% kế hoạch.

Khoảng cách giữa chỉ tiêu và kết quả thực hiện cho thấy yêu cầu đẩy nhanh tiến độ dự án, đồng thời rà soát khả năng tiếp cận nhà ở của từng nhóm đối tượng. Với công nhân và người lao động, nơi ở không chỉ cần có mức giá phù hợp mà còn phải thuận tiện đến nơi làm việc, có hạ tầng giao thông và các dịch vụ thiết yếu.

Phát triển nhà ở cho thuê cũng là hướng cần được chú trọng. Hình thức này giúp người lao động có nơi ở ổn định mà không phải lập tức huy động khoản vốn lớn để mua nhà, phù hợp với những người thường xuyên thay đổi địa điểm làm việc hoặc chưa đủ điều kiện vay mua nhà dài hạn.

Để nguồn cung mới đáp ứng nhu cầu thực, việc xác định vị trí, loại hình và mức giá cần được tính toán ngay từ khâu quy hoạch. Nếu dự án nằm xa khu công nghiệp, thiếu giao thông kết nối hoặc không có dịch vụ thiết yếu, sản phẩm có thể khó được sử dụng hiệu quả dù đã hoàn thành.

Với doanh nghiệp phát triển nhà ở xã hội và nhà cho thuê, khả năng tiếp cận quỹ đất, nguồn vốn dài hạn và thủ tục đầu tư ổn định là những điều kiện quan trọng. Chính sách cần đồng thời tháo gỡ khó khăn cho bên cung và tạo điều kiện để người dân đủ khả năng thuê, mua, thay vì chỉ tập trung vào số lượng căn hộ được xây dựng.

Tín dụng bất động sản cần nguồn vốn bền vững

Theo Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Ngọc Cảnh, đến ngày 31/8/2026, tổng dư nợ tín dụng đối với lĩnh vực bất động sản đạt khoảng 5,21 triệu tỷ đồng, tăng 9,49% so với cuối năm 2025 và chiếm 25,39% tổng dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế.

Quy mô tín dụng lớn cho thấy bất động sản tiếp tục là lĩnh vực sử dụng nguồn vốn đáng kể của hệ thống ngân hàng. Tuy nhiên, đầu tư bất động sản thường kéo dài trong khi nguồn vốn huy động của ngân hàng chủ yếu có kỳ hạn ngắn hơn, tạo ra rủi ro chênh lệch kỳ hạn và áp lực thanh khoản.

Vì vậy, theo lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước, cần đa dạng hóa các kênh huy động vốn để tạo nguồn trung và dài hạn bền vững cho thị trường. Việc khơi thông dòng vốn cần đi cùng quản trị rủi ro, lựa chọn dự án có tính khả thi và ưu tiên những sản phẩm đáp ứng nhu cầu thực tế.

Đối với người mua nhà, điều kiện vay và chi phí tín dụng cũng ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sở hữu nhà ở. Một căn nhà có giá cao sẽ càng khó tiếp cận nếu người mua phải dành tỷ trọng lớn thu nhập cho tiền trả nợ trong nhiều năm. Do đó, chính sách phát triển nhà ở cần được xem xét đồng bộ với khả năng tiếp cận vốn của người dân, nhất là nhóm có thu nhập trung bình và thấp.

Chính sách cần hướng tới nhà ở phù hợp khả năng chi trả

Tại phiên họp ngày 13/10, Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc yêu cầu tiếp tục hoàn thiện thể chế, xử lý các dự án tồn đọng và đánh giá đúng quan hệ cung - cầu theo từng phân khúc, địa bàn, nhóm đối tượng. Việc phát triển nhà ở cần gắn với thu nhập và khả năng chi trả của người dân, thay vì chỉ căn cứ vào tổng số sản phẩm trên thị trường.

Các dự án đủ điều kiện cần được tháo gỡ vướng mắc để sớm triển khai, bổ sung nguồn cung, đặc biệt là sản phẩm có mức giá phù hợp. Cùng với đó, cơ quan quản lý cần nâng chất lượng dữ liệu thị trường, theo dõi sát tồn kho, hạn chế đầu cơ và xử lý những hành vi vi phạm làm méo mó cung - cầu.

Xem tiếp tại đường Link =>

https://share.google/EcMREqcbWttLx75Qy

Bất động sản công nghệ cao mở ra cuộc đua mới giữa các địa phương

Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo (AI), trung tâm dữ liệu và sản xuất công nghệ cao đang mở ra những hướng đi khác nhau cho thị trường bất động sản công nghiệp Việt Nam. Chia sẻ với PV Báo Tài chính - Đầu tư, ông John Campbell - Giám đốc phận Dịch vụ Bất động sản Công nghiệp, Savills Việt Nam cho rằng, mỗi nhóm dự án có yêu cầu riêng về địa điểm, trong khi lợi thế của từng địa phương cần được đánh giá dựa trên năng lực hạ tầng và khả năng triển khai thực tế.

PV: Làn sóng đầu tư AI và trung tâm dữ liệu đang tạo ra sự phân hóa như thế nào về nhu cầu bất động sản giữa các địa phương tại Việt Nam, thưa ông?

Ông John Campbell: TP. Hồ Chí Minh và Hà Nội là những địa điểm khởi đầu rõ ràng nhất khi tìm kiếm vị trí phát triển trung tâm dữ liệu. Trong khi đó, hoạt động sản xuất công nghệ cao đòi hỏi đánh giá trên phạm vi rộng hơn, bao gồm cả những địa phương có cụm sản xuất và chuỗi cung ứng đã hình thành. Vì vậy, không thể sử dụng cùng một bộ tiêu chí để đánh giá tiềm năng của tất cả các địa điểm.

Đối với trung tâm dữ liệu, quy mô thị trường, nhu cầu sử dụng dịch vụ số và hạ tầng hiện hữu là những yếu tố quan trọng. Theo thông tin được công bố vào tháng 8/2026, TP. Hồ Chí Minh có 20 trung tâm dữ liệu đang hoạt động và 9 dự án được đề xuất, dẫn nguồn từ Sở Khoa học và Công nghệ thành phố. Những số liệu này phản ánh nền tảng hiện hữu và sự quan tâm của nhà đầu tư, nhưng cần phân biệt giữa dự án đề xuất và nguồn cung có khả năng đưa vào vận hành.

Tại Hà Nội, khu vực Hòa Lạc đã hình thành hạ tầng trung tâm dữ liệu. Trong thông báo khai trương tháng 4/2024, Viettel cho biết cơ sở của doanh nghiệp tại đây có tổng công suất điện 30 MW và hơn 2.400 tủ rack. Cơ sở Hòa Lạc của VNPT, khánh thành vào tháng 10/2023, được công bố có sức chứa lên tới 2.000 tủ rack. Tuy nhiên, những thông số tại thời điểm khai trương không phản ánh mức độ sử dụng hiện tại hoặc công suất còn khả dụng.

Trong khi đó, nhu cầu bất động sản phục vụ sản xuất công nghệ cao gắn chặt hơn với hệ sinh thái công nghiệp, nguồn lao động, nhà cung cấp và logistics. Sản xuất chip, linh kiện điện tử và các hoạt động công nghiệp hỗ trợ tạo ra nhu cầu khác với việc xây dựng cơ sở lưu trữ và xử lý dữ liệu. Vì vậy, các địa phương có cụm sản xuất đã hình thành cần được xem xét bên cạnh những trung tâm kinh tế lớn khi đánh giá cơ hội đầu tư.

PV: TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội, Bắc Ninh và Thái Nguyên có những lợi thế khác nhau ra sao trong việc thu hút trung tâm dữ liệu và các dự án sản xuất công nghệ cao?

Ông John Campbell: TP. Hồ Chí Minh có lợi thế từ nhu cầu thương mại, hoạt động công nghệ và nền tảng trung tâm dữ liệu hiện hữu. Số lượng cơ sở đang hoạt động cùng các dự án được đề xuất cho thấy thành phố có cơ sở để tiếp tục thu hút đầu tư trong lĩnh vực này. Tuy nhiên, khả năng cung cấp điện thực tế, tiến độ đấu nối và mức độ ổn định của nguồn điện tại từng địa điểm vẫn cần được xác minh.

Hà Nội có lợi thế từ hạ tầng số đã được hình thành, trong đó Hòa Lạc là một khu vực đáng chú ý khi đánh giá địa điểm phát triển trung tâm dữ liệu. Dù vậy, công suất được công bố của các cơ sở hiện hữu không đồng nghĩa với khả năng tiếp nhận thêm dự án. Nhà đầu tư vẫn cần xác minh nguồn lực còn khả dụng và khả năng đáp ứng yêu cầu vận hành của dự án mới.

Đối với sản xuất công nghệ cao, Bắc Ninh nổi bật nhờ hệ sinh thái điện tử và bán dẫn. Theo thông tin được công bố vào tháng 8/2026, dẫn nguồn từ Sở Khoa học và Công nghệ của tỉnh, địa phương có 33 dự án bán dẫn và công nghiệp hỗ trợ, với tổng vốn đăng ký hơn 2,742 tỷ USD. Trong đó, 6 dự án liên quan đến bán dẫn hoặc vật liệu bán dẫn; 27 dự án liên quan đến thiết bị và linh kiện hỗ trợ. Những số liệu này cho thấy vai trò của chuỗi cung ứng rộng hơn trong việc hình thành nhu cầu bất động sản công nghiệp chuyên biệt. Cần lưu ý rằng vốn đăng ký không đồng nghĩa với vốn đã thực hiện.

Thái Nguyên cũng là địa phương đáng chú ý trong phát triển sản xuất công nghệ cao, đặc biệt ở lĩnh vực điện tử. Tuy nhiên, cần đối chiếu thêm dữ liệu về quy mô sản xuất, chuỗi cung ứng, nguồn lao động và các dự án hiện hữu để đánh giá khả năng thu hút đầu tư mới của tỉnh.

Bên cạnh các địa phương trên, Đà Nẵng có thể mở ra hướng phát triển khác trong lĩnh vực trung tâm dữ liệu. Thông tin từ cơ quan chính phủ ghi nhận dự án AIDC DeCenter của IPTP được chấp thuận vào tháng 8/2025. Tuy nhiên, tình trạng triển khai và thời điểm dự kiến đưa dự án vào vận hành cần được xác nhận trước khi đánh giá khả năng đóng góp vào nguồn cung thị trường.

Nhìn chung, lợi thế của từng địa phương không giống nhau. Những khu vực có nền tảng thương mại, công nghệ và hạ tầng số có thể phù hợp với nhu cầu phát triển trung tâm dữ liệu; các địa phương có hệ sinh thái sản xuất điện tử, bán dẫn và công nghiệp hỗ trợ lại có những điều kiện thuận lợi riêng để thu hút dự án sản xuất công nghệ cao. Việc lựa chọn cần căn cứ vào đặc thù vận hành của từng dự án thay vì chỉ dựa trên quy mô đầu tư được công bố.

PV: Theo ông, nhà đầu tư cần xác minh những điều kiện nào để phân biệt một địa điểm có tiềm năng với địa điểm thực sự sẵn sàng tiếp nhận dự án?

Ông John Campbell: Nhà đầu tư cần đánh giá tổng chi phí và mức độ chắc chắn để đưa dự án vào vận hành, thay vì chỉ dựa vào giá mua hoặc giá thuê đất. Một địa điểm có lợi thế về vị trí hoặc chi phí ban đầu vẫn có thể không phù hợp nếu các điều kiện cần thiết để triển khai dự án chưa được bảo đảm.

Đối với trung tâm dữ liệu, cần xác minh khả năng cung cấp điện trên thực tế, tiến độ đấu nối và phương án bổ sung công suất trong tương lai. Khả năng kết nối cũng cần được đánh giá dựa trên lựa chọn nhà mạng, tính độc lập của các tuyến cáp quang và khả năng kết nối với khách hàng. Những yếu tố liên quan đến làm mát, nguồn nước khi cần thiết, thoát nước và nguy cơ ngập lụt cũng ảnh hưởng đến tính liên tục của hoạt động.

Đối với sản xuất công nghệ cao, yêu cầu thẩm định có thể khác nhau đáng kể giữa các ngành. Sản xuất và đóng gói bán dẫn, cơ khí chính xác và lắp ráp điện tử có thể đòi hỏi những điều kiện khác nhau về nhà xưởng, hệ thống tiện ích chuyên biệt, nguồn lao động có kỹ năng và mạng lưới nhà cung cấp. Do đó, không gian công nghiệp tiêu chuẩn có thể cần được điều chỉnh để đáp ứng nhu cầu thực tế.

Xem tiếp tại đường Link =>

https://share.google/0H3IJnP8nLvizZ0Uo

Doanh nghiệp của các tỷ phú Việt đang đóng góp thế nào cho đất nước?

Năm 2025 và những tháng đầu năm 2026 ghi nhận sự mở rộng đáng kể của nhiều tập đoàn tư nhân lớn tại Việt Nam.

Đằng sau những con số doanh thu, lợi nhuận là câu chuyện về nguồn lực mà các doanh nghiệp này đóng góp cho nền kinh tế. Đó là các khoản phải nộp ngân sách, tạo công ăn việc làm cho người lao động, tăng nhu cầu với nhà cung cấp trong nước, cũng như khả năng đầu tư vào những lĩnh vực đòi hỏi nguồn vốn lớn.

Đóng góp lớn cho ngân sách Nhà nước

Vingroup - doanh nghiệp gắn với tỷ phú Phạm Nhật Vượng, là trường hợp nổi bật về tốc độ mở rộng quy mô kinh doanh.

Theo công bố của tập đoàn, năm 2025, doanh thu hợp nhất Vingroup đạt khoảng 331.800 tỷ đồng, tăng 76% so với năm trước; lợi nhuận sau thuế đạt khoảng 11.100 tỷ đồng. Sang 6 tháng đầu năm 2026, doanh thu thuần hợp nhất đạt 222.300 tỷ đồng, tăng 72,5% so với cùng kỳ; lợi nhuận sau thuế đạt 20.375 tỷ đồng, gấp 4,5 lần cùng kỳ.

Đáng chú ý, lợi nhuận nửa đầu năm 2026 đã vượt đáng kể kết quả cả năm 2025. Diễn biến này phản ánh sự thay đổi mạnh về quy mô và hiệu quả kinh doanh hợp nhất.

Trong hệ sinh thái Vingroup, bất động sản tạo ra nguồn thu từ phát triển và bàn giao dự án; VinFast mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh ô tô điện; các lĩnh vực du lịch, nghỉ dưỡng, y tế và giáo dục cung cấp dịch vụ cho thị trường trong nước và quốc tế.

Những hoạt động này tạo ra nhu cầu đối với nhiều ngành nghề khác nhau, từ kỹ thuật, xây dựng, sản xuất công nghiệp đến vận tải, thương mại và dịch vụ. Đặc biệt, nếu các dự án công nghiệp và sản xuất tiếp tục mở rộng, tác động kinh tế không chỉ giới hạn trong số lao động trực tiếp mà còn lan sang các nhà cung cấp linh kiện, nguyên vật liệu, logistics và dịch vụ kỹ thuật.

Theo số liệu công bố về bảng xếp hạng doanh nghiệp tư nhân nộp ngân sách, Vingroup nộp khoảng 148.773 tỷ đồng trong năm 2025, tăng 165% so với mức hơn 56.200 tỷ đồng của năm 2024. Tập đoàn này cũng có hơn 104.000 người lao động đang làm việc, tăng hơn 37.000 người so với năm 2024.

Ở lĩnh vực sản xuất công nghiệp, Tập đoàn Hòa Phát của tỷ phú Trần Đình Long cho thấy vai trò của doanh nghiệp tư nhân trong việc phát triển năng lực sản xuất vật liệu cơ bản.

Năm 2025, Hòa Phát ghi nhận doanh thu hơn 158.300 tỷ đồng, tăng 13% so với năm trước. Lợi nhuận sau thuế đạt hơn 15.500 tỷ đồng, tăng 29% so với năm 2024. Riêng ngành gang thép và các sản phẩm liên quan đóng góp khoảng 94% doanh thu tập đoàn.

Sang 6 tháng đầu năm 2026, doanh thu Hòa Phát đạt 108.870 tỷ đồng, tăng 47% so với cùng kỳ năm ngoái. Lợi nhuận sau thuế đạt 15.480 tỷ đồng, tăng 103% so với cùng kỳ năm trước.

Hòa Phát cũng là doanh nghiệp đóng góp ngân sách đáng kể. Năm 2025, tập đoàn nộp khoảng 13.000 tỷ đồng tại 20 tỉnh, thành phố. Phần lớn khoản nộp gắn với các hoạt động sản xuất thép và những công ty thành viên có quy mô lớn.

Kết quả trên cho thấy sức bật của một doanh nghiệp sản xuất quy mô lớn khi sản lượng, thị trường tiêu thụ và hiệu quả hoạt động cải thiện. Với ngành thép, tác động kinh tế còn nằm ở khả năng cung ứng nguyên vật liệu cho xây dựng, hạ tầng giao thông, công nghiệp chế tạo và các dự án đầu tư dài hạn.

Việc phát triển năng lực sản xuất thép trong nước có thể giúp giảm phụ thuộc vào nguồn cung nhập khẩu ở một số chủng loại sản phẩm, đồng thời tạo thị trường cho các ngành công nghiệp phụ trợ.

Tạo hàng chục nghìn việc làm chất lượng

Ngân hàng Techcombank là doanh nghiệp gắn với tỷ phú Hồ Hùng Anh. Ngân hàng này ghi nhận lợi nhuận trước thuế 18.500 tỷ đồng trong 6 tháng đầu năm 2026, tăng 22,5% so với cùng kỳ. Tổng thu nhập hoạt động đạt 28.600 tỷ đồng, tăng 17,5%. Tăng trưởng đến từ cả thu nhập lãi thuần và hoạt động dịch vụ.

Tại thời điểm cuối tháng 6, tổng tài sản Techcombank đạt khoảng 1,273 triệu tỷ đồng, tiền gửi khách hàng đạt 697.413 tỷ đồng. Những con số này cho thấy quy mô nguồn lực tài chính mà ngân hàng quản lý và khả năng cung cấp vốn cho nền kinh tế.

Năm 2025, Techcombank có gần 13.000 người lao động đang làm việc. Thu nhập bình quân của người lao động ngân hàng này đạt khoảng 47 triệu đồng/tháng. Techcombank đóng góp cho ngân sách Nhà nước hơn 8.600 tỷ đồng.

Tương tự, ngân hàng VPBank là doanh nghiệp gắn với tỷ phú Ngô Chí Dũng. Ngân hàng này ghi nhận tổng thu nhập hoạt động hợp nhất 43.400 tỷ đồng trong 6 tháng đầu năm 2026, tăng 35,2%. Lợi nhuận trước thuế đạt gần 18.900 tỷ đồng, tăng 68% so với cùng kỳ. Riêng ngân hàng mẹ đạt lợi nhuận trước thuế khoảng 15.600 tỷ đồng.

Về thu nhập, số liệu công bố của VPBank cho thấy, năm 2025, ngân hàng này đang có khoảng hơn 17.500 người lao động. Thu nhập bình quân của cán bộ, nhân viên đạt hơn 33 triệu đồng/tháng. Ngân hàng cũng đóng góp cho ngân sách Nhà nước gần 7.000 tỷ đồng.

Tập đoàn Masan Group gắn với tỷ phú Nguyễn Đăng Quang cũng đang đóng góp rất lớn cho nền kinh tế nước nhà.

Năm 2025, Masan ghi nhận doanh thu thuần hơn 81.600 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế gần 6.800 tỷ đồng. Trong 6 tháng đầu năm 2026, doanh thu thuần hợp nhất Masan đạt khoảng 54.000 tỷ đồng, tăng trưởng được thúc đẩy bởi nền tảng tiêu dùng tích hợp và mảng vật liệu công nghệ cao. Lợi nhuận sau thuế thuộc cổ đông công ty mẹ tăng gấp 3 lần. EBITDA (lợi nhuận trước lãi vay, thuế, chi phí) hợp nhất đạt khoảng 12.000 tỷ đồng.

Masan có hơn 40.000 lao động đang làm việc với thu nhập trung bình khoảng 19 triệu đồng/tháng. Trong năm 2025, tập đoàn này đóng góp cho ngân sách hơn 4.800 tỷ đồng.

Xem tiếp tại đường Link =>

Doanh nghiệp của các tỷ phú Việt đang đóng góp thế nào cho đất nước?

Doanh nhân Tài Phạm: Khát vọng làm chủ nền tảng AI

Từ niềm tin người Việt có thể viết phần mềm cho thế giới, doanh nhân Tài Phạm, nhà sáng lập kiêm CEO của Vietnam Silicon (VNS) tại TP.HCM, đang theo đuổi khát vọng đưa người Việt làm chủ nền tảng AI để giải quyết những bài toán thực của nền kinh tế.

Đặt niềm tin vào trí tuệ người Việt

“Tôi rời Việt Nam với hai bàn tay trắng và xây dựng sự nghiệp ở Hoa Kỳ bằng đúng một thứ không ai lấy đi được: khả năng học. Với tôi, công nghệ là con đường cho người không có gì ngoài trí tuệ”, ông Tài Phạm, CEO của Vietnam Silicon (VNS), bộc bạch khi nói về hành trình đến với ngành công nghệ.

Hành trình ấy của ông bắt đầu từ ngành khoa học máy tính tại Đại học Illinois Urbana-Champaign và Viện Công nghệ Illinois. Sau đó, ông có 8 năm làm việc tại AT&T Bell Labs, tham gia thiết kế các thành phần của hệ thống tổng đài số 5ESS - hạ tầng viễn thông từng kết nối hàng trăm triệu người. Môi trường công nghệ hàng đầu này giúp ông nhận ra rằng kỹ thuật ở đẳng cấp cao nhất không có quốc tịch; điều quan trọng là con người được đào tạo đúng và được tin tưởng giao việc.

Năm 1994, sau khi Hoa Kỳ bãi bỏ lệnh cấm vận thương mại đối với Việt Nam, ông nhìn thấy ở quê hương một cơ hội, mà thị trường thế giới khi ấy chưa nhìn ra: một thế hệ trẻ giỏi toán, ham học hỏi nhưng chưa có môi trường đào tạo và nơi làm việc xứng tầm. Vì vậy, ông quyết định trở về Việt Nam và sáng lập Công ty Paragon Solutions với niềm tin người Việt có thể viết phần mềm cho các tập đoàn Hoa Kỳ. Khi đó, không ít người cho rằng, đây là quyết định “liều lĩnh”, bởi Việt Nam được biết đến như một nguồn lao động giá rẻ, chưa phải điểm đến của nguồn nhân lực công nghệ.

Theo lời ông kể, Paragon khởi đầu trong điều kiện thiếu kỹ sư phần mềm thương mại, thiếu quy trình chuẩn và thiếu niềm tin từ các tập đoàn Hoa Kỳ. Doanh nghiệp sau đó tuyển và đào tạo đội ngũ kỹ sư để phát triển phần mềm thương mại, đưa chuẩn kỹ thuật Hoa Kỳ vào từng dòng mã nguồn và xây dựng mô hình phối hợp giữa đội ngũ trong nước và nước ngoài.

Thế rồi, Paragon phát triển lên hơn 400 nhân sự tại ba quốc gia. Theo ông Tài Phạm, doanh nghiệp đã phát triển nền tảng đào tạo SAP và Oracle Financials từng đoạt giải, trước khi được chuyển nhượng thành công vào năm 2001. Song, điều ông tự hào nhất lại không nằm trong những con số tài chính. Ông cho biết, những kỹ sư và nhà quản lý từng làm việc tại Paragon sau này tiếp tục tham gia sáng lập, xây dựng TMA Solutions, KMS Technology cùng nhiều doanh nghiệp phần mềm lớn tại Việt Nam.

Sau đó, Việt Nam từng bước trở thành điểm đến gia công phần mềm trên thế giới. “Tôi không phải là người tạo ra ngành công nghiệp này. Tôi chỉ là người đầu tiên dám tin và chứng minh rằng Việt Nam hoàn toàn có thể làm được. Bài học lớn nhất tôi rút ra là, nếu bạn tin vào năng lực của người Việt Nam trước khi thế giới nhận ra điều đó, họ sẽ cho bạn thấy niềm tin ấy là đúng”, vị doanh nhân này nhớ lại.

Những bài học từ các tập đoàn công nghệ toàn cầu

Sau Paragon, ông Tài Phạm đầu quân cho nhiều tập đoàn công nghệ lớn tại Hoa Kỳ như Amazon, Microsoft. Tại Amazon, trong giai đoạn 2005  - 2007, ông giữ vị trí Giám đốc Dịch vụ web thương mại điện tử, phụ trách đội ngũ hỗ trợ các nhà phát triển và người bán khai thác nền tảng thương mại điện tử của Amazon tại 7 thị trường, gồm Mỹ, Canada, Anh, Pháp, Đức, Nhật Bản và Trung Quốc. Trong 2 năm ông và các cộng sự đạt mức tăng trưởng 150% mỗi năm và hoàn thành mục tiêu doanh thu 1,2 tỷ USD như kế hoạch đề ra.

Tiếp đến, trong giai đoạn 2018 - 2021 tại Microsoft, ông là chiến lược gia công nghệ doanh nghiệp cấp cao, đóng vai trò “CTO ảo” (Virtual CTO) cho 50 khách hàng doanh nghiệp lớn nhất tại bờ Đông Hoa Kỳ, thuộc các lĩnh vực bán lẻ, hàng tiêu dùng, tài chính và viễn thông. Ông cho biết, mình chịu trách nhiệm về doanh thu từ 25 đến 75 triệu USD mỗi năm.

“Nếu Paragon dạy tôi cách xây dựng một công ty, thì Amazon và Microsoft dạy tôi cách xây dựng một nền tảng”, vị doanh nhân này đúc kết.

Chính vì lẽ đó, khi trở lại Đông Nam Á, ông không mang theo câu chuyện về công nghệ như một thứ để trình diễn. Ông mang theo ba nguyên tắc: xây nền tảng một lần để phục vụ hàng nghìn doanh nghiệp; công nghệ phải tự trả tiền bằng hiệu quả đo được; và tốc độ triển khai phải tính bằng tháng, không phải bằng năm. Những năm tháng làm việc tại các tập đoàn toàn cầu đã giúp ông kiểm chứng những nguyên tắc ấy bằng những kết quả cụ thể. Ở Zenith Administrators, ông quản lý 120 nhân sự công nghệ, giúp cắt giảm 40% chi phí vận hành. Tại Vertafore, ông hợp nhất hơn 50 phần mềm cũ trên một nền tảng duy nhất, giúp dự án giành giải Gold Stevie. Tiếp đó, ông đưa sản phẩm mới của INTTRA lên nền tảng đám mây AWS và ra thị trường sau 7 tháng, tạo thêm 4 triệu USD doanh thu mỗi năm. Còn tại quỹ đầu tư Point72, chương trình tối ưu chi phí điện toán đám mây giúp tiết kiệm khoảng 2 triệu USD.

Từ những bài toán công nghệ trị giá hàng triệu USD trong ngân hàng, logistics và đầu tư, ông đặt câu hỏi liệu công nghệ có thể tạo ra thay đổi tương tự trên đồng ruộng. Đó cũng là khởi đầu cho hành trình phát triển công nghệ nông nghiệp của ông.

Đưa dữ liệu ra đồng ruộng

Năm 2024, khi một nhóm nhà đầu tư đề nghị ông xây dựng “Paragon Solutions 2.0” cho Đông Nam Á. Theo lời ông kể, khi ấy, ông đang ở New York và làm việc tại một quỹ đầu tư lớn với thu nhập cao. Nhưng ông vẫn nhận lời, chấp nhận giảm thu nhập để phát triển sản phẩm của riêng mình. “Đây không phải chuyện tài chính. Tôi đang đầu tư thời gian để xây dựng sản phẩm của chính mình. Và thời gian là thứ duy nhất tôi không mua lại được”, ông chia sẻ về quyết định của mình.

Thế rồi, bước ngoặt đến khi ông xây dựng Green Passport - một hệ thống quản lý xuất khẩu nông sản của Thái Lan, kết nối Phòng thí nghiệm Trung tâm Thái Lan với công nghệ chuỗi khối Xinghuo và hệ thống hải quan Trung Quốc. Sau 3 tháng thử nghiệm, 5 cơ sở đóng gói xuất khẩu 15 lô hàng, tổng khối lượng 270 tấn, không lô nào bị hải quan Trung Quốc trả về, so với thời điểm trước khi thử nghiệm Green Passport. Tại nhiều tỉnh của Thái Lan, ứng dụng công nghệ giúp năng suất lúa và sầu riêng tăng 35%, rút ngắn thời gian giải ngân trợ cấp từ 30 ngày xuống 5 ngày và tăng 320% số nông dân tham gia đào tạo kỹ năng số, so với quy trình thủ công trước đây.

Nhưng những con số ấy không phải điều khiến vị doanh nhân người Việt nhớ nhất. Điều ông nhớ nhất, là khoảnh khắc một người nông dân trồng sầu riêng lần đầu cầm trong tay bằng chứng số cho thấy, trái cây của mình đạt chuẩn quốc tế và được trả đúng giá. Từ đó, ông nhận ra mình đã tìm thấy công việc xứng đáng cho phần đời còn lại. Từ kinh nghiệm tại Thái Lan, ông Tài Phạm cho rằng, nông nghiệp Việt Nam cần giải quyết 4 vấn đề: truy xuất nguồn gốc, dự báo bằng AI, hạ tầng dữ liệu phục vụ chính sách và nguồn nhân lực. Ông tin rằng, những mô hình đã được kiểm chứng tại Thái Lan có thể áp dụng ở Việt Nam trong 12-18 tháng, thay vì mất cả thập kỷ thử nghiệm. Xa hơn, ông muốn xây dựng hạ tầng dùng chung cho nông sản Đông Nam Á, giúp khu vực chủ động định giá thay vì phụ thuộc vào đối tác.

Xem tiếp tại đường Link =>

Doanh nhân Tài Phạm: Khát vọng làm chủ nền tảng AI

Nguồn: CafeF; Doanh Nghiệp Hội Nhập; Thời Báo Tài Chính; CafeBiz; Báo Đầu Tư

Xem thêm:
Về trang trước

Chủ đề:

Bình luận và đánh giá
Gửi nhận xét đánh giá

Đọc nhiều nhất

Việt Nam: Bức tranh bất động sản Hà Nội; Giá nhà giảm khắp nơi; Chuyện bán đất “cắt lỗ sớm”; Một cổ phiếu tăng hơn 200% sau 12 phiên

Việt Nam: Dòng tiền rời bỏ bất động sản đầu cơ; Dòng tiền đổ vào bất động sản không giảm; Hơn 48.700 doanh nghiệp rút lui; Vốn ngoại vượt 50 tỷ USD; Nhiều tỉ phú tăng mạnh tài sản

Việt Nam: Điểm nhấn bất động sản tuần qua; “Bộ lọc” mới đầu tư bất động sản; 150 nghìn doanh nghiệp thành lập mới; Vàng giảm 50 triệu đồng từ đỉnh

Việt Nam: Tỷ phú Nguyễn Thị Phương Thảo thăng hoa; Xe nhập khẩu ồ ạt về nước; Đặng Lê Nguyên Vũ có động thái đặc biệt; Vingroup xây 20 đại dự án; Gia tăng tầng lớp siêu giàu

Việt Nam: Hệ sinh thái 8 tỷ phú USD; Giá đất nền giảm sâu; Mô hình tàu cao tốc của Trần Bá Dương; 5 mẫu xe hybrid hút khách nhất; Bất động sản TP.HCM

Việt Nam: Hạ tầng Đà Nẵng “cất cánh”; Giá đất nền ven Hà Nội giảm; Tài sản 112 ha của Đặng Lê Nguyên Vũ; “Ông lớn” thuốc lá lãi 1.300 tỷ; Nhà đầu tư PNJ tháo chạy

Việt Nam: Chu kỳ mới bất động sản; Tập đoàn của giáo sư giàu nhất báo lãi; Novaland lãi 1.100 tỷ đồng; Xe buýt điện Phạm Nhật Vượng chạy ở Mỹ; Lãi suất BIDV cao nhất

Việt Nam: Bất động sản chịu sức ép thanh khoản; Doanh thu bất động sản TP HCM tăng; Agribank rao bán khoản nợ 126 tỉ; Doanh nghiệp kiếm tiền rất dễ; HPG về đáy 1 năm

Lên đầu trang