- Cư trú - Luật pháp
- Chính trị - Xã hội
Trong đó được quy định chi tiết về mức thu nhập bảo đảm chi tiêu cho cuộc sống và diện tích nhà ở đối với người nước ngoài nhập cư vào Đức.
Mức bảo đảm chi tiêu cho cuộc sống Sicherung des Lebensunterhalts (được đánh số đúng theo danh mục trong nghị định)
2.3.1- Chi tiêu cho cuộc sống được coi là bảo đảm không cần trợ cấp xã hội, nếu được trang trải bằng nguồn tiền của người đó hoặc của những người khác không hưởng trợ cấp xã hội. Chi tiêu cho cuộc sống của một người bao gồm tất cả những khoản tiền cần thiết để trang trải nhu cầu của người đó. Khả năng chi tiêu cho cuộc sống cũng có thể được bảo đảm bởi những người cam kết chịu trách nhiệm về khoản tiền chi tiêu đó quy định tại Điều §68 Luật Lưu trú.
Khi có người cam kết chịu trách nhiệm, cũng chưa hẳn đã có nghĩa chi tiêu cho cuộc sống đã được bảo đảm theo quy định tại điều §5, đoạn 1, điểm 1, Luật Lưu trú. Cần phải chú ý xem xét từng trường hợp cụ thể khi kiểm tra cam kết đó.
2.3.1.1- Chi tiêu cho cuộc sống của một người nước ngoài được coi không bảo đảm, đặc biệt khi họ nhận
2.3.1.1.1- Tiền thất nghiệp bậc II hoặc tiền Xã hội theo Bộ Luật Xã hội SGB II,
2.3.1.1.2- Tiền trợ cấp cơ bản cho người cao tuổi sức khỏe kém theo Bộ Luật Xã hội SGB XII,
2.3.1.1.3- Hỗ trợ chi tiêu cho cuộc sống theo Bộ Luật Xã hội SGB XII hoặc tương tự theo Bộ Luật Xã hội SGB VIII, hoặc
2.3.1.1.4- Tiền trợ cấp theo Luật trợ cấp cho người xin tỵ nạn.
2.3.1.2- Ngược lại, chi tiêu cho cuộc sống vẫn được coi là bảo đảm, khi họ nhận những tiêu chuẩn xã hội mà họ đã đóng phí tổn để được hưởng tiêu chuẩn đó (chẳng hạn hưởng tiền bảo hiểm ốm đau, thất nghiệp bậc I, hay hưu trí) hoặc những khoản tiền xã hội cấp phục vụ cho chính mục đích lưu trú ở Đức. Học bổng là khoản tiền nhằm mục đích đó. Chi tiêu cho cuộc sống cũng được coi là bảo đảm khi nhận tiền học bổng dạng BAföG quy định tại Bộ Luật Xã hội SGB III, chương IV, phần 5, bởi một phần tiêu chuẩn này dưạ trên cơ sở vay dài hạn. Điều trên cũng có giá trị cho những đối tượng xin cấp giấy phép tạm trú Aufenthaltserlaubnis, theo điều §16 Luật lưu trú (điều khoản sang Đức học tiếng, phổ thông...).
2.3.2- Ngoài ra, người nước ngoài ở Đức tự bảo đảm được cuộc sống của mình là điều kiện để họ có thể hoàn thành nghiã vụ bảo đảm cuộc sống cho thành viên gia đình họ sống ở Đức. Khi kiểm tra trách nhiệm bảo đảm cuộc sống của người nước ngoài cần phải dựa trên những cân nhắc liên quan đến luật pháp và cơ chế nhà nước pháp quyền sau:
2.3.2.1- Tại điều §2, đoạn 3, câu 2, Luật Lưu trú, tiền con, tiền bổ sung cho con, tiền chăm sóc con hoặc tiền cha mẹ nhất thiết không được đưa vào bảng tính toán xác định trách nhiệm bảo đảm cuộc sống. Những nguồn đó chỉ được coi để bảo đảm chi tiêu cho cuộc sống của con cái, không phải cho cuộc sống của cha/mẹ.
2.3.2.2- Ngoài ra, người nứơc ngoài cũng tương tự như người Đức phải bảo đảm chu cấp cho mọi thành viên gia đình do mình chịu trách nhiệm, quy định tại Bộ Luật Công dân (như điều §1360, 1601, 1602 đoạn 2) BGB. Quy định trên có giá trị đối với người chịu trách nhiệm nuôi dưỡng gia đình, được coi là điều kiện cấp giấy phép lưu trú.
2.3.2.3- Trách nhiệm bảo đảm cuộc sống cần phải xem xét tổng thể, đặc biệt trong đoàn tụ gia đình, xuất phát từ mối quan hệ gia đình và trách nhiệm bảo đảm chi tiêu cho cuộc sống của nhau trong phạm vi gia đình.
2.3.3- Khả năng bảo đảm chi tiêu cho cuộc sống được phép giới hạn trong một thời gian nhất định. Theo đó cần phải đưa ra được quyết định mang tính dự báo, liệu chi tiêu cho cuộc sống của người nước ngoài trong thời gian dự định lưu trú ở Đức có được bảo đảm hay không. Vấn đề trên cần phải kiểm tra, đặc biệt như khi nhận tiền chăm sóc con (Erziehungsgeld) được bảo đảm tối đa 24 tháng và không được coi là thu nhập theo quy định tại Bộ Luật Xã hội SGB XII, dẫn đến mặc dù cuộc sống được bảo đảm nhưng vẫn có thể xin trợ cấp xã hội quy định tại Bộ Luật Xã hội SGB XII. Đối với những đối tượng làm việc theo hợp đồng có thời hạn, bên cạnh kiểm tra tổng hợp từng trường hợp cụ thể, phải chú ý xem hợp đồng như vậy có phải phổ biến trong ngành lĩnh vực kinh tế đó hay không, liệu hợp động có được ký lại với cùng chủ cũ hoặc với chủ mới hay có nguy cơ bị thất nghiệp khi hết thời hạn hợp đồng.
2.3.4- Luật lưu trú quy định người nứơc ngoài phải bảo đảm được cuộc sống, nhưng không nói chính xác trong thời gian nào. Vì vậy, khi 1 người nứơc ngoài không nhận những khoản tiền nêu ở mục 2.3.1.1, thì cần phải kiểm tra xem nhu cầu cuộc sống của họ tính theo quy định tại Bộ Luật Xã hội XII là bao nhiêu. Trong trường hợp đón đoàn tụ gia đình cần phải tính nhu cầu cuộc sống của toàn bộ gia đình. Có thể nhờ Sở Xã hội cung cấp số liệu tính toán thích hợp. Nếu tính toán cho thấy nhu cầu chỉ có thể được bảo đảm bằng trợ cấp xã hội thì có nghĩa không thể bảo đảm được chi tiêu cho cuộc sống. (Từ đó suy ra: người đệ đơn mời người nhà sang Đức thăm, đoàn tụ có thể lấy tiêu chuẩn Hartz IV năm hiện tại tính cho toàn bộ thành viên gia đình cộng với tiền nhà, phụ phí nhà, tiền bảo hiểm ốm đau, cộng thêm 100 Euro gọi là tiền “du di, xê dịch“ trong chi tiêu, sẽ bằng mức bảo đảm cuộc sống mà người mời phải có thu nhập bảo đảm - Người dịch).
Tiền BAföG chỉ chấp nhận dùng để bảo đảm chi tiêu cho cuộc sống trong trương hợp cấp và gia hạn giấy phép tạm trú Aufenthaltserlaubnis, dựa theo điều §16 Luật Lưu trú.
2.3.4.1- Chi tiêu cho cuộc sống cũng có thể được bảo đảm thông qua các khoản tiền của các thành viên gia đình hay của người khác dành để trang trải cuộc sống. Chỉ đưa ra bằng chứng có người sống ở Đức giúp đỡ, chịu trách nhiệm bảo đảm chi tiêu cho cuộc sống, chưa đủ để chứng minh bảo đảm được cuộc sống. Chi tiêu cho cuộc sống bằng khoản tiền của người giúp đỡ chỉ có thể bảo đảm, khi và chừng nào người sống hợp pháp ở Đức đó có thể bảo đảm được cuộc sống của chính họ không cần đến trợ cấp của xã hội. Nếu người giúp đỡ không sống ở Đức mà ở nước thứ 3, theo điều §82, đoạn 1, Luật Lưu trú, người nứơc ngoài phải chứng minh được có đủ tiền từ người đó, sử dụng cho đến hết thời hạn sống ở Đức.
2.3.4.2- Nếu chi tiêu cho cuộc sống được bảo đảm bằng các khoản tiền không phải của người chịu trách nhiệm pháp lý bảo đảm cuộc sống thì phải đòi người đó nộp bản cam đoan chịu trách nhiệm theo điều §68 Luật Lưu trú. Các khoản tiền như vậy bao gồm tiền mặt hoặc những khoản giúp đỡ thay thế tiền đưa đến tăng thu nhập của người được bảo đảm cuộc sống (như giấy chuyển tiền) hoặc giảm chi phí cho họ (như cho mượn chỗ ở). Người nhà chu cấp tiền không nhất thiết phải sống cùng với người nhận tiền. Người nhà là những thành viên của gia đình, do mối quan hệ gia đình đứng ra chu cấp tiền, chẳng hạn chị em ruột, bố dượng, mẹ kế.
2.3.5- Bảo hiểm ốm đau quy định tại điều §2 đoạn 3 Luật Lưu trú không bao hàm bảo hiểm chăm sóc.
2.3.5.1- Thông thường được coi là đã có đủ bảo hiểm ốm đau, nếu người nước ngoài được bảo hiểm tại một hãng bảo hiểm nhà nước. Trong trường hợp đó không cần kiểm tra gì thêm.
2.3.5.2- Bảo hiểm ốm đau cũng có thể được coi là đã có đủ , nếu người nứơc ngoài được bảo hiểm tại một hãng bảo hiểm tư nhân. Trong trường hợp này cần phải kiểm tra tiếp tục từng trường hợp cụ thể xem liệu ốm đau thực sự đã được bảo hiểm đầy đủ hay không. Trong đó cần chú ý đền mục đích lưu trú và thời gian lưu trú.
2.3.6- Các khoản tiền cấp cho sinh viên chi tiêu được coi là bảo đảm được cuộc sống quy định tại điều §16 Luật Lưu trú, nếu số lượng các khoản đó tương đương với mức tiêu chuẩn học bổng BAföG (điều §13 và §13a đoạn 1 BAföG). Mức tiêu chuẩn học bổng đó được Bộ Nội vụ công bố vào cuối mỗi năm trên công báo (Bundesanzeiger).
2.4 Bảo đảm chỗ ở
2.4.0- Chỗ ở phải bảo đảm được nhân phẩm con người. Tuy nhiên không đòi hỏi phải có một căn hộ khép kín.
2.4.1- Để khẳng định chỗ ở được bảo đảm, phải phân tích 2 yếu tố: Chất lượng xây dựng và diện tích tính cho đầu người. Tiêu chuẩn nhà ở xã hội (Sozialwohnungsniveau) được coi là giới hạn trên, nghĩa là không đòi hỏi chỗ ở cao hơn tiêu chuẩn nhà ở xã hội. Giới hạn dưới được lấy từ quy định của các tiểu bang dành cho người Đức, Luật xem xét nhà ở (Wohnungsaufsichtsgesetz).
2.4.2- Phòng ở được coi là bảo đảm, không vi phạm quy định của từng tiểu bang, nếu mỗi thành viên trên 6 tuổi sống trong đó bình quân sử dụng một diện tích 12 m2, dưới 6 tuổi sử dụng 10 m2. Công trình phụ (bếp, nhà vệ sinh, tắm giặt) dùng chung phục vụ đủ cho tổng số thành viên gia đình. Diện tích nói trên được phép xê dịch 10%. Những diện tích ở dành cho người khác cùng sử dụng không được tính gộp vào. Diện tích công trình phụ được phép cho họ dùng chung.
Đức Việt Online
Đức: Thủ tướng đáp trả xung đột Ukraine; Lãi suất vay mua nhà cao nhất; Vụ nổ Nord Stream; HUTECH và Leibniz University Hannover hợp tác; Tìm động lực tăng trưởng kinh tế
Đức: Phe đối lập muốn mua dầu Nga; “Tỉnh ngộ” sau thoả thuận Mỹ-Nga; TP.HCM bắt tay Hamburg; Làn sóng khởi nghiệp AI; Phát triển xe tăng mới
Đức: Xét xử cựu sĩ quan Ukraine phá hoại đường ống Nord Stream; Điều tiêm kích sau cảnh báo không tặc giả trên máy bay; Đánh thuế đồ uống có đường từ 2027
Đức: “Bức tường lửa” ngăn AfD rạn nứt; Lên tiếng khi Mỹ mua dầu Nga; Đối đầu Pháp về ngân sách EU; Mua thêm 4 tàu khu trục; Mercedes-Benz khai tử 2 dòng xe
Đức: Thúc đẩy hợp tác chiến lược với Việt Nam; Robot bị cáo buộc sàm sỡ thiếu nữ; Nhiều ưu đãi thu hút sinh viên Việt Nam; Trường học đóng cửa sau đe dọa xả súng
Đức: Cú sốc năng lượng mới; Hợp tác AI với Nvidia, Amazon; Thu hút đầu tư 225 tỷ euro; Google bị tòa án phán quyết; Giá năng lượng tăng gây sức ép kinh tế
Đức: Thủ tướng quyết tâm cải cách; Mất 500.000 việc làm công nghiệp; Viện trợ Ukraine là “gánh nặng khổng lồ”; Giá sản xuất tăng 6,7%; Tâm lý nhà đầu tư giảm
Người Việt hải ngoại: 127 người bị bắt ở Hong Kong; Hòa nhạc Giao lưu Văn hóa Việt-Nhật; Rời Google lập công ty AI; Người đầu tiên chơi Ai Là Triệu Phú không quốc tịch Việt Nam
Bình luận và đánh giá
Gửi nhận xét đánh giá