- Cư trú - Luật pháp
- Người Việt ở Đức
Lực lượng thuyền nhân
Tính từ năm 1975, có tổng cộng 38.000 thuyền nhân tới Đức, kể cả thân nhân họ đoàn tụ sau này. Họ chỉ là số thoát chết khỏi hành trình 1 sống 10 chết trên biển cả, may mắn được tàu hàng, tàu cứu trợ nhân đạo „Cap Anamur“ cứu sống, đưa vào các trại tiếp nhận trung chuyển tại các nước Đông Nam Á. Từ đó họ được tổ chức cứu trợ Liên hợp quốc UNHCR phân bổ vào Đức. Phần lớn ngay từ đầu đã xác định Đức là quê hương mới của mình, không còn đường lựa chọn, phải cố gắng hoà nhập vào xã hội bản địa như có thể; đến những người cao tuổi, bao khó khăn do tuổi tác, vẫn vượt qua được rào cản ngôn ngữ để tìm được việc làm, một số tự hành nghề, mở nhà hàng, tiệm ăn nhanh hay cửa hàng thực phẩm. Lớp trẻ ít khó khăn hơn trong học tiếng, theo học phổ thông hoặc đại học, trường dạy nghề. Thuyền nhân tới Đức được hưởng mọi quy chế hỗ trợ dành cho người được công nhận tỵ nạn, được cấp ngay giấy phép lưu trú và lao động, được học tiếng Đức, tham gia các khoá học nghề, chuyển đổi nghề do nhà nứơc đài thọ, được hưởng học bổng Bafög, được tư vấn miễn phí, được sự ủng hộ của phiá chính quyền, của các tổ chức xã hội, của dân chúng Đức. Thế hệ thứ 2, hoặc cùng gia đình vượt biên, hoặc sinh ra ở Đức, hầu hết học hành thành đạt, nhờ tập quán gia đình người Việt thường tập trung cho sự nghiệp của con cái, tuy nhiên mối liên hệ gắn bó giữa chúng với Việt Nam bị giảm. Phần lớn biết nói tiếng Việt nhưng không biết đọc, biết viết, gặp trở ngại khi giao lưu tiếp xúc với trong nứơc. Mặt khác chúng chỉ biết qua loa phong tục tập quán dân tộc, thông qua dự Tết do Hội Người Việt lánh nạn tổ chức hàng năm, hoặc tham gia các hoạt động văn hoá một năm đôi ba lần của các hội đoàn sinh viên, phụ nữ, công giáo, phật giáo. Theo đánh giá của ngân hàng Đức, Deutschbank, hàng năm người Việt chuyển về nước chừng 30-35 triệu Euro, bình quân mỗi gia đình chừng 1000 Euro, thường qua bạn bè thân nhân về nước hoặc qua các dịch vụ chuyển tiền, như Western Union, hoặc bưu điện, ngân hàng.
Lao động hợp tác
Hoàn cảnh ra đi của lao động hợp tác khác hẳn với thuyền nhân. Trước năm 1980 đã có hàng nghìn người Việt sang Đức du học, nhưng phải đến khi có Hiệp định chính phủ 2 nước Việt Nam và DDR ký kết vào ngày 11.4.1980, thì mới khởi đầu thời kỳ làn sóng người Việt sang Đông Đức lao động, mỗi năm bổ sung tới 1.500 người, nhiều nhất 20.448 người vào năm 1987, và 30.567 người vào năm 1988, tới năm 1989 đạt con số tổng cộng tới 60.000 người. Năm 1990 làn sóng trên kết thúc với 48 lao động hợp tác cuối cùng sang Đức. Theo hiệp định, thời hạn lưu trú mỗi lao động 5 năm. Tiền lương của họ được xí nghiệp Đức giữ lại 12% trả trực tiếp cho Chính phủ Việt Nam để bổ sung ngân sách thiếu hụt thời đó. Còn người lao động hợp tác sang Đức làm việc nhằm mua sắm hàng hoá gửi về nuôi sống gia đình, kèm học nghề, và tìm hiểu kinh nghiệm của nước bạn. Để bảo đảm chắc chắn người lao động hồi hương, hiệp định quy định, mỗi gia đình chỉ được phép 1 người và đang có việc làm trong nước. Lực lượng lao động cho Đông Đức này đã không được chuẩn bị đầy đủ tại Việt Nam cũng như tại Đức cho công việc sắp làm. Trước khi nhận việc, họ chỉ được đào tạo 3 tháng mọi kiến thức cần thiết, từ ngôn ngữ, đến chuyên môn, sức khoẻ và điều kiện lao động. Lao động hợp tác người Việt làm việc chủ yếu trong các ngành nghề may mặc, xây dựng và công nghiệp luyện kim. Do lưu trú có thời hạn, cả hai nhà nứơc Đức và Việt đều không chú ý đến hoà nhập họ vào xã hội bản điạ. Họ sống tập trung trong các ký túc xá của công ty và chịu sự quản lý chặt chẽ của phiá Việt Nam cả mọi mặt của cuộc sống. Hiệp định quy định lao động Việt Nam có quyền lợi, được đối xử bình đẳng như người Đức, nhưng trên thực tế chỉ được sử dụng như công nhân tạp vụ, thường phải làm những việc lao động Đức ít muốn, như làm việc theo băng chuyền, 3 ca hay công việc cơ bắp nặng nhọc.
Lao động hiệp định ở lại sau 1990
Sau biến cố Đông Đức sụp đổ, với hiệp định sát nhập vào Tây Đức ký kết ngày 3.1.1990, chừng 34.000 trong tổng số 60.000 lao động Việt Nam lúc đó nhận tiền bồi thường 3.000 DM trở về nước, do lo ngại, bỡ ngỡ với nền chính trị thay đổi, tình trạng bài xích người nước ngoài phát triển, không thấy có triển vọng trong tương lai. Những người khác ở lại thì nuôi hy vọng một cuộc sống và môi trường làm ăn mới, tuy nhiên họ lại phải đối mặt với bao khó khăn đầu tiên là mất việc làm, không thông hiểu xã hội mới nên rất khó khăn để tìm kiếm cơ hội cho cuộc sống của mình. Ngoài ra tương lai lưu trú của họ không rõ ràng phải về hay được ở lại, sau khi hợp đồng lao động từ thời DDR bị hủy bỏ. Các ký túc xá trước đây dành cho họ ở không mất tiền thuê nhà bị đóng cửa, đẩy thêm một bộ phận phải chọn con đường về nước. Ngược lại, nhiều người Việt từ Liên xô, Tiệp, Bungari nhập cảnh lậu sang Đức, đệ đơn xin tị nạn, bị từ chối nhưng không thể trục xuất vì phiá Việt Nam không nhận, lưu trú lại Đức dưới dạng tạm dung. Trong hoàn cảnh trên, hiện tượng buôn lậu thuốc lá của người Việt đã bùng nổ bức xúc dư luận Đức vào những năm 90, còn gây ra các thảm kịch thanh toán lẫn nhau đẫm máu, tới gần 100 nhân mạng.
Số phận những người lao động hợp tác, rốt cuộc được quyết định bởi nghị quyết hội nghị bộ trưởng nội vụ các tiểu bang ngày 14.5.1993, cho phép họ được quyền ở lại, với điều kiện: Người lao động đang có việc làm xét tại thời điểm tháng 4.1994; nếu đã xin tỵ nạn thì phải rút đơn trước ngày 17.4.1994; không phạm tội hình sự như buôn bán thuốc lá lậu; không xin hưởng trợ cấp nhà nứơc; sang Đức trước thời điểm 13.6.1990 và không gián đoạn. Những lao động hợp tác thoả mãn điều kiện trên được cấp giấy phép lưu trú có thời hạn 2 năm và gia hạn tiếp tục. Những người tới thời hạn 17.4.1994 không có công ăn việc làm được hưởng tạm dung, để tìm việc. Thoạt đầu hội nghị dự tính chỉ một nửa lao động hợp tác thoả mãn điều kiện đưa ra. Nhưng chính nhờ có quyết định quyền được ở lại, hầu hết lao động hợp tác đã nhanh chóng hoà nhập vào xã hội Đức, tự lo toan cuộc sống, đa phần mở nhà hàng, tiệm ăn nhanh, cửa hàng bán lẻ quần áo, thực phẩm, hoa quả, xuất nhập khẩu. Kết qủa thống kê năm 2000 tại Berlin cho thấy, chừng 1.500 người, chiếm 1/6 lao động hợp tác ở Berlin tìm được việc làm trong các hãng xưởng công sở Đức. Phần còn lại tự hành nghề, mở tiệm kinh doanh.
Sự kiện tiếp theo tác động đến người Việt ở Đức là hiệp định nhận hồi hương, kèm quy chế bảo lãnh xuất khẩu và viện trợ cho Việt Nam ký kết giữa 2 nhà nước tháng 7.1995. Hiệp định dự kiến tới năm 2000, hồi hương tổng cộng chừng 40.000 người Việt không giấy phép lưu trú, trong đó có lao động hợp tác tính tới thời điểm 17.4.1994 không thoả mãn điều kiện được quyền ở lại, và những người đơn xin tỵ nạn bị bác. Tuy nhiên hiệp định thực hiện cực kỳ rắc rối, 5 năm trên chỉ trục xuất được tổng cộng dưới 10.000 người, trên tổng số 40.000 người dự kiến, bị phía Đức đánh giá gặp phải khó khăn từ phía Việt Nam không muốn nhận lại công dân họ đã trực tiếp chứng kiến sự sụp đổ của một nhà nứơc xã hội chủ nghĩa, và không muốn mất đi một khoản tiền chuyển cho người thân trong nước bình quân 1000 DM/người/năm. Hiệp định cũng tác động đến một số lượng người xin tỵ nạn không thống kê được lo ngại bị trục xuất về Việt Nam, chuyển sang nhập cư Hà Lan hoặc Canada, nơi chưa ký hiệp định hồi hương với Việt Nam.
Con đường lưu trú bấp bênh của lao động hợp tác chính thức chấm dứt khi luật ngoại kiều sửa đổi được ban hành ngày 4.7.1997 quy định cấp giấy phép lưu trú dài hạn cho họ, ngoại trừ trường hợp bị án tù. Từ đó, lao động hợp tác chính thức coi nứơc Đức là quê hương mới, nơi an cư lập nghiệp ổn định lâu dài. Tuy nhiên bấp bênh vẫn chưa hết đối với lực lượng lao động hợp tác nhận tiền bồi thường về nước, rồi quay trở lại, đệ đơn xin tỵ nạn, ước bình quân tính từ năm 1990 chừng 100 người/năm. Một dòng người Việt khác nhập cư được luật ngoại kiều cho phép là đoàn tụ gia đình, nâng số lượng người Việt ở Đức ngày một tăng.
Dr. Nguyễn Sỹ Phương
Chủ cửa hàng người Việt tại Đức cần biết: Đừng vội mua máy tính tiền POS vì lo sợ quy định thuế mới
Cảnh báo: Một người Việt nhập cư lậu vào Đức, bị bắt trả trở lại, phạt 1.200 Euro
Sự kiện cộng đồng Việt nổi bật: Chùa Taucha, Leipzig, Sachsen - Công trình hai thập kỷ sắp khánh thành
Kinh doanh tại Đức cần biết: Hai loại Hóa đơn điện tử B2B và B2C với những quy định mới – Phần I
Trang mạng cộng đồng người Việt Nam tại Đức kêu gọi tìm nam học sinh mất tích; Nhập quốc tịch cần biết: Kỷ lục chờ xét duyệt ở Dresden Sachsen
5 năm lan tỏa văn hóa Việt Nam tại Đức; Nửa thế kỷ vun đắp tình đoàn kết giữa nhân dân Việt Nam - Đức
Phụ nữ Việt Nam tại Đức giữ gìn, lan tỏa bản sắc văn hoá dân tộc; Người Việt ở Đức cần biết: Biểu tình được đăng ký tại nhiều thành phố Đức vào thứ 7, 31.10
Tòa án Münchner Landgericht: Mở phiên đầu tiên xét xử vụ án nhân viên Sở Ngoại kiều München mua bán giấy phép cư trú với 85 người Việt
Bình luận và đánh giá
Gửi nhận xét đánh giá