- Thời sự
.jpg)
Cùng nhân viên nhận hối lộ hàng chục tỉ đồng, cựu Cục trưởng Cục An toàn thực phẩm Nguyễn Thanh Phong lĩnh án 20 năm tù.
Chiều nay 14-1, TAND TP Hà Nội đã tuyên án đối với bị cáo Nguyễn Thanh Phong, cựu Cục trưởng Cục An toàn thực phẩm (Bộ Y tế), cùng 54 đồng phạm trong vụ án xảy ra tại đơn vị này.
Theo đó, Tòa tuyên bị cáo Nguyễn Thanh Phong 20 năm tù và cựu Cục trưởng Cục An toàn thực phẩm Trần Việt Nga 15 năm tù cùng về tội Nhận hối lộ. Cùng tội danh, 2 cựu Cục phó Nguyễn Hùng Long bị tòa tuyên phạt 12 năm tù, và Đỗ Hữu Tuấn lãnh 7 năm tù. Hơn 30 bị cáo còn lại trong nhóm tội Nhận hối lộ lĩnh án từ 30 tháng tù treo đến 9 năm tù.
Bản án sơ thẩm đánh giá hành vi phạm tội của các bị cáo diễn ra trong thời gian dài với sự cấu kết tham gia của nhiều lãnh đạo, quản lý trong lĩnh vực quản lý nhà nước và tổ chức thực thi pháp luật về lĩnh vực an toàn thực phẩm...
Hành vi này làm suy giảm niềm tin của nhân dân; dễ gây nhiều hệ lụy, cũng có thể là tác nhân dẫn đến thực phẩm không đảm bảo chất lượng, không rõ nguồn gốc được lưu thông trên thị trường, đe dọa trực tiếp tính mạng và sức khỏe của người tiêu dùng...
Về phân hóa vai trò trong vụ án, theo tòa, hai cựu cục trưởng Nguyễn Thanh Phong, Trần Việt Nga giữ vai trò chính, là chủ mưu đưa ra chủ trương nhận tiền ngoài lệ phí, quy định phân chia tiền hối lộ và chỉ đạo cấp dưới thống nhất chủ trương nhận tiền.
34 bị cáo bị quy kết trách nhiệm với tổng số tiền nhận hối lộ đặc biệt lớn, lên tới 93 tỉ đồng. Trong đó, Nguyễn Thanh Phong 44 tỉ đồng, Trần Việt Nga 8 tỉ đồng nên cần áp dụng mức hình phạt cao mới tương xứng với hành vi.
Theo cáo trạng, Cục An toàn thực phẩm là đơn vị chuyên ngành thuộc Bộ Y tế thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng quản lý nhà nước và tổ chức thực thi trong lĩnh vực an toàn thực phẩm. Tuy nhiên, từ 2018 - 2025, một số lãnh đạo, chuyên viên của cục đã lợi dụng các quy định pháp luật để tạo cơ chế "xin, cho", đưa và nhận hối lộ.
Các sai phạm này diễn ra trong quá trình thẩm định cấp giấy tiếp nhận đăng ký bản công bố sản phẩm; thẩm định giấy xác nhận nội dung quảng cáo; thẩm định, hậu kiểm, cấp giấy chứng nhận GMP (Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm đạt yêu cầu thực hành sản xuất tốt). Thông qua việc thẩm định xét hồ sơ cấp giấy tiếp nhận đăng ký bản công bố sản phẩm, một số cá nhân, doanh nghiệp làm dịch vụ đã thống nhất với chuyên viên của cục về việc "chi tiền để xong việc".
Cáo trạng thể hiện, các quy định về đăng ký, công bố sản phẩm với nhóm thực phẩm bảo vệ sức khỏe vẫn mang tính chung chung, chưa cụ thể. Quy định cũng chưa kèm theo hướng dẫn chi tiết về quy trình, tiêu chí kỹ thuật và thành phần hồ sơ. Điều này dẫn đến việc doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn, lúng túng khi thực hiện thủ tục công bố sản phẩm.
Trên cương vị là Cục trưởng Cục An toàn thực phẩm, tháng 9-2018, bị cáo Nguyễn Thanh Phong chủ trì cuộc họp cấp ủy, lãnh đạo cục và thống nhất giao cho Trung tâm Ứng dụng và Đào tạo An toàn thực phẩm và Phòng Quản lý Tiêu chuẩn và Kiểm nghiệm thực hiện nhiệm vụ của Phòng Quản lý sản phẩm thực phẩm trong việc thẩm xét hồ sơ đăng ký bản công bố sản phẩm.
Sau cuộc họp trên và sau khi trao đổi với lãnh đạo các đơn vị, bị cáo Nguyễn Thanh Phong thống nhất chủ trương cho các chuyên viên nhận tiền, ngoài lệ phí quy định trong quá trình thẩm xét đăng ký hồ sơ công bố sản phẩm. Mức tiền từ 5 triệu đồng đến 10 triệu đồng/bộ hồ sơ và trung bình 7 triệu đồng/hồ sơ.
Bên cạnh đó, bị cáo Nguyễn Thanh Phong đồng ý chủ trương cho chuyên viên nhận tiền để giúp đỡ người nộp hồ sơ, song kèm theo đó là cơ chế ăn chia rõ ràng. Cục trưởng nhận từ 2,5 - 3 triệu đồng một bộ hồ sơ; còn lại chia theo các cấp, từ lãnh đạo phòng đến chuyên viên thụ lý.
Cơ quan tố tụng cho rằng lợi dụng quyền hạn, bị cáo Nguyễn Thanh Phong, Trần Việt Nga cùng 32 cấp dưới đã nhận hối lộ của 21 bị cáo là cá nhân, doanh nghiệp. Trong đó, tổng tiền nhận hối lộ trong hoạt động cấp giấy tiếp nhận là 93,7 tỉ đồng, cấp giấy xác nhận quảng cáo là 12,7 tỉ đồng và cấp GMP là 1 tỉ đồng.
Cáo trạng xác định cùng vai trò chỉ đạo, bị cáo Nguyễn Thanh Phong được hưởng lợi 43,9 tỉ đồng; bị cáo Nga hưởng lợi cá nhân 8 tỉ đồng. Cựu cục phó Nguyễn Hùng Long hưởng lợi 8,6 tỉ đồng, cựu cục phó Đỗ Hữu Tuấn hưởng 4,3 tỉ đồng.
Phía bị đơn cho rằng các thửa đất là tài sản của chùa Phật Quang, do phật tử cúng dường, không phải tài sản cá nhân ông Vương Tấn Việt
Liên quan vụ ông Vương Tấn Việt, trụ trì chùa Phật Quang, khởi kiện ông Ngô Quang Phú, Nguyễn Ngọc Tuấn và Phạm Duy Linh tranh chấp quyền sử dụng hơn 71.000 m² đất, Hội đồng xét xử (HĐXX) đã làm rõ nguồn gốc các thửa đất và những tài liệu liên quan.
Theo nhận định của tòa án, "giấy cam kết giao đất" ngày 9-12-2009 mà ông Việt ký tên với nội dung đồng ý cho tặng các bị đơn không nêu rõ thông tin 7,5 mẫu đất nhưng các bên đều thừa nhận đây là những thửa đất số 139, 1113, 150, 130, 1110 và 131, tờ bản đồ số 82, tại ấp 5, xã Tóc Tiên (nay là xã Châu Pha) đã được UBND huyện Tân Thành (cũ) cấp 4 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ). Số liệu đo đạc thực tế là 71.706 m².
Theo ông Vương Tấn Việt, nguồn gốc các thửa đất trên là tài sản cá nhân của ông, không phải tài sản của chùa Phật Quang. Đất có nguồn gốc do ông Việt nhận chuyển nhượng bằng tiền riêng, không phải tiền do phật tử cúng dường cho chùa. Phía chùa Phật Quang (người đại diện theo pháp luật là ông Vương Tấn Việt) cũng cho rằng các thửa đất trên là tài sản cá nhân của ông Việt, không phải tài sản của chùa.
Về phía bị đơn, ông Phú và ông Tuấn cho rằng các thửa đất được cấp giấy chứng nhận cho ông Việt nhưng là tài sản của chùa Phật Quang, do phật tử cúng dường, không phải tài sản cá nhân ông Việt; trong đó có 34.576 m² đất của ông Ngô Quang Bảo và bà Trần Thị Bầy (cha mẹ ông Phú) hiến tặng cho chùa để làm chùa.
Về nguồn gốc đất, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai TP Phú Mỹ (nay là Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai khu vực số 34, TPHCM) xác định, diện tích 34.576 m² được cấp sổ cho ông Ngô Quang Bảo và bà Trần Thị Bầy năm 1995. Ngày 10-3-1997, ông Bảo và bà Bầy ký hợp đồng chuyển nhượng cho ông Việt, được UBND xã Tóc Tiên chứng thực, với nội dung: "Nguồn gốc đất do bà Trần Thị Bầy khai phá năm 1985 và trực tiếp canh tác cho đến nay. Vì tuổi già sức yếu nên không canh tác được nữa, nay xin nhượng lại phần đất trên cho ông Vương Tấn Việt để tiếp tục sản xuất nông nghiệp".
Cùng ngày 10-3-1997, ông Nguyễn Duy và bà Ngô Thị Quế, là chủ sử dụng 18.293 m² đất, cũng ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có chứng thực của UBND xã Tóc Tiên cho ông Việt với nội dung tương tự.
Ngoài ra, năm 2006, ông Nguyễn Văn Thắng và bà Nguyễn Thị Thùy Linh chuyển nhượng 2.214 m² đất cây lâu năm cho ông Việt. Năm 2008, bà Phạm Thị Kim Loan là chủ sử dụng 14.594 m² đất cũng ký hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất có chứng thực của UBND xã Tóc Tiên cho ông Việt.
Toàn bộ các thửa đất trên sau đó được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Việt dựa trên các hợp đồng chuyển nhượng và hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất.
Theo HĐXX, ông Phú và ông Tuấn cho rằng đất là tài sản của chùa Phật Quang do phật tử cúng dường nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh. Các hợp đồng chuyển nhượng cũng không thể hiện nội dung tặng cho chùa Phật Quang nên HĐXX không có cơ sở chấp nhận lời trình bày của bị đơn.
Đối với "giấy cam kết giao đất", HĐXX xác định văn bản này không được công chứng, chứng thực và không đăng ký theo quy định pháp luật. Sau khi ký giấy, ông Việt không làm thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất và không bàn giao đất trên thực tế, đồng thời có đơn khiếu nại lên UBND xã Tóc Tiên và đơn tố cáo gửi công an. HĐXX nhận thấy giấy cam kết chỉ thể hiện ý chí sẽ thực hiện giao dịch tặng cho quyền sử dụng đất trong tương lai, không có thỏa thuận ràng buộc hậu quả pháp lý nên bị vô hiệu cả về nội dung và hình thức.
Tháng 11-2025, ông Việt có "Đơn xin tặng cho quyền sử dụng đất" gửi tòa án, nêu rõ các thửa đất tranh chấp là tài sản riêng của cá nhân ông nhưng do ông là trụ trì chùa Phật Quang từ năm 1992, nay đã 66 tuổi, không có vợ con nên có nguyện vọng tặng lại cho chùa. Tuy nhiên, Sở Nông nghiệp và Môi trường TPHCM có văn bản trả lời không đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chùa Phật Quang nên tòa án không có cơ sở công nhận quyền sử dụng đất cho chùa theo nguyện vọng của ông Việt.
Về tiền và vàng trong két sắt, các bên thống nhất đây là tài sản của chùa Phật Quang, được giao cho các bị đơn quản lý.
Tại phiên phúc thẩm, ông Vương Tấn Việt tự nguyện thanh toán, hỗ trợ cho nhiều người với tổng số tiền hơn 7,7 tỉ đồng.
Theo đơn khởi kiện, tháng 12-2009, trong thời gian ông Việt ở tại Công ty TNHH Văn hóa Pháp Quang, các bị đơn cùng một số tăng ni yêu cầu ông ký giấy cam kết giao khoảng 7,5 mẫu đất. Ông Việt cho rằng việc ký kết diễn ra trong bối cảnh bị ép buộc và các bị đơn đã lấy 4 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông. Sau đó, nhiều tài sản của chùa, trong đó có két sắt chứa 186 lượng vàng SJC, ngoại tệ và tiền mặt, bị mang đi nơi khác; đồng thời các bị đơn xây dựng chùa Trí Nghiêm và chùa Hạnh Nghiêm trên phần đất tranh chấp.
Cho rằng quyền lợi bị xâm phạm, ông Việt khởi kiện đòi lại quyền quản lý, sử dụng đất và các sổ đỏ. Trong quá trình giải quyết, ông rút một phần yêu cầu và đồng ý nhận lại các công trình trên đất, thanh toán theo giá trị thẩm định.
Phía bị đơn cho rằng việc ký cam kết là tự nguyện, đất được giao để nhóm tăng ni tự quản lý, tu tập sau khi rời chùa Phật Quang, đồng thời không đồng ý trả lại đất và tài sản.
Tại phiên phúc thẩm, HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Việt, buộc các bị đơn trả lại hơn 71.763 m² đất và các sổ đỏ, đồng thời ông Việt phải thanh toán hơn 17,7 tỉ đồng giá trị công trình trên đất. Tòa không công nhận hiệu lực giấy cam kết giao đất và chấp nhận yêu cầu độc lập của chùa Phật Quang về đòi lại 186 lượng vàng SJC và các khoản ngoại tệ.
.jpg)
Quy hoạch chưa đồng bộ, giao thông quá tải, giải ngân đầu tư công chậm và chuyển đổi số vướng rào cản thể chế đang trở thành 4 điểm nghẽn kìm hãm tăng trưởng của TP.HCM.
Chiều 15.1, tại buổi họp báo cung cấp các vấn đề liên quan đến tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn TP.HCM, Viện Nghiên cứu phát triển TP.HCM chỉ rõ 4 điểm nghẽn mang tính cấu trúc đối với tăng trưởng TP.HCM.
Quy hoạch thiếu tầm nhìn lấy con người làm trung tâm
Bà Trương Thiết Hà, Phó trưởng phòng Nghiên cứu phát triển kinh tế (Viện Nghiên cứu phát triển TP.HCM) cho biết, công tác quy hoạch và tổ chức triển khai quy hoạch trong giai đoạn trước đây trên địa bàn chưa theo kịp yêu cầu thực tiễn, thiếu chiến lược phát triển lấy con người làm trung tâm.
Chất lượng một số quy hoạch còn thấp, thiếu đồng bộ, thiếu tầm nhìn dài hạn. Điều này dẫn đến điều chỉnh quy hoạch nhiều lần, thậm chí có trường hợp điều chỉnh tùy tiện, theo lợi ích của nhà đầu tư… gây ảnh hưởng đến môi trường, cảnh quan và quyền lợi chính đáng của người dân.
Nguyên nhân là do các quy định pháp luật về đất đai tiếp tục bất cập, chậm sửa đổi; hạn chế về nguồn lực thực hiện công tác giải phóng mặt bằng.
Đặc biệt, việc sáp nhập Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu vào TP.HCM dẫn đến việc tổ chức triển khai điều chỉnh quy hoạch cục bộ, quy hoạch phân khu khó khăn, chưa thống nhất và đồng bộ.
Đáng chú ý, tình trạng quy hoạch treo kéo dài nhiều năm vẫn chưa được xử lý dứt điểm, gây lãng phí nguồn lực và bức xúc trong xã hội.
Giao thông quá tải, chi phí logistics tăng
Điểm nghẽn tiếp theo là hạ tầng giao thông. TP.HCM đã chú trọng đầu tư, nâng cấp hạ tầng giao thông và khởi công một số công trình trọng điểm như: Vành đai 3, Vành đai 4, mở rộng quốc lộ 13 và các tuyến cao tốc dọc hành lang trọng điểm logistics, đưa vào vận hành metro số 1… Tuy nhiên, hạ tầng giao thông vẫn quá tải và thiếu đồng bộ, thường xuyên ùn tắc tại các cửa ngõ đô thị.
Trong khi đó, khả năng mở rộng các tuyến đường hiện hữu rất khó khăn, dẫn đến chi phí logistics của doanh nghiệp tăng, đồng thời chất lượng cuộc sống một bộ phận người dân giảm sút.
Bên cạnh đó, kết cấu giao thông liên kết vùng, đặc biệt là các đường cao tốc và đường vành đai chưa được đầu tư hoặc chưa được đầu tư hoàn chỉnh theo quy hoạch. Từ đó, làm ảnh hưởng đến sự phát triển của địa phương và sức lan tỏa của vùng.
Tổng vốn đầu tư xã hội chưa tương xứng quy mô kinh tế
Về đầu tư toàn xã hội, trong đó đầu tư công giải ngân chậm; mới đạt khoảng 78% kế hoạch vốn năm 2025. Việc huy động đầu tư tư nhân chưa đạt mục tiêu.
Hiện, tổng vốn đầu tư xã hội của TP.HCM chỉ chiếm 17,4% cả nước, chưa tương xứng với quy mô kinh tế.
Nhu cầu đầu tư công giai đoạn 2026 - 2030 ước lên đến 3,2 triệu tỉ đồng, nhưng ngân sách thành phố chỉ đáp ứng được khoảng 30%. Điều đó buộc TP.HCM phải dựa vào một khuôn khổ thể chế đủ mạnh, minh bạch và linh hoạt để huy động nguồn lực tư nhân.
Dù vốn FDI (đầu tư trực tiếp nước ngoài) tiếp tục tăng trưởng, song còn hạn chế trong chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp nội địa.
Chuyển đổi số chậm vì "vướng" thể chế và con người
Điểm nghẽn cuối cùng được chỉ ra là chuyển đổi số, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Các rào cản về thể chế, dữ liệu, công nghệ và đặc biệt là nguồn nhân lực đang làm chậm quá trình chuyển đổi trong khu vực công.
Theo Viện Nghiên cứu phát triển TP.HCM, việc xây dựng văn hóa số, khuyến khích cán bộ, công chức sẵn sàng đổi mới, chấp nhận thay đổi quy trình và thói quen làm việc là yếu tố then chốt.
Đồng thời, cần sớm tháo gỡ các vướng mắc pháp lý để tránh tình trạng chậm giải ngân ngân sách cho khoa học công nghệ, ảnh hưởng đến các quyết sách quan trọng theo Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị.
"TP.HCM đang rất nỗ lực và quyết tâm tháo gỡ những khó khăn, bất cập này để hoàn thành mục tiêu tăng trưởng 2 con số trong giai đoạn sắp tới", bà Hà nhấn mạnh.
Thủ tướng Chính phủ vừa yêu cầu các bộ ngành, địa phương tiếp tục khẩn trương rà soát, không bỏ lọt dự án khó khăn, vướng mắc kéo dài đồng thời yêu cầu trong tháng 1/2026 đề xuất các cơ chế, giải pháp tháo gỡ. Việc tháo gỡ nhanh dự án còn tồn đọng, theo người đứng đầu Chính phủ, sẽ góp phần quan trọng thực hiện mục tiêu tăng trưởng, tạo không gian, dư địa cho sự phát triển, tránh thất thoát, lãng phí tài nguyên đất đai và củng cố niềm tin cho doanh nghiệp, nhà đầu tư…
Kết luận thanh tra chuyên đề các công trình, dự án có khó khăn, vướng mắc, chậm tiến độ trên địa bàn tỉnh Cà Mau công bố tháng 12/2025 cho thấy, có những dự án đến 20 năm chưa hoàn thành.
Cụ thể, Thanh tra tỉnh Cà Mau chỉ ra, Dự án Xây dựng hạ tầng kỹ thuật Khu Trung tâm hành chính tỉnh triển khai thực hiện trên 20 năm nhưng chưa hoàn thành. Nguyên nhân được chỉ ra là vướng công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) dẫn đến nhiều gói thầu phải tạm dừng thi công, có gói thầu dừng 20 năm, hiện có 6 trong số 34 gói thầu chưa hoàn thành do còn vướng GPMB.
Tương tự, Dự án Xây dựng hạ tầng kỹ thuật khu tái định cư 2 bên đường số 16 khu hành chính tỉnh Bạc Liêu (nay là đường Nguyễn Tất Thành, phường Bạc Liêu, tỉnh Cà Mau) cũng được triển khai từ hơn 20 năm trước kéo dài đến nay. Nguyên nhân chủ yếu do công tác GPMB còn vướng mắc chưa được tháo gỡ và xử lý dứt điểm dẫn đến không thể thi công hoàn thành.
Đối với nguồn vốn tư nhân, nhiều dự án trải qua hơn 1 thập kỷ mà chưa thể hoạt động, khai thác. Đơn cử Dự án Khu đô thị mới Licogi, do Công ty TNHH Licogi 9.1 làm chủ đầu tư được cấp giấy chứng nhận đầu tư lần đầu từ tháng 12/2008; Dự án Khu dân cư giáp Khu tái định cư Bến xe - Bộ đội Biên phòng, do Công ty TNHH Tư vấn và Đầu tư Tràng An đầu tư, được cấp giấy chứng nhận đầu tư lần đầu tháng 11/2011...
Không riêng Cà Mau, các địa phương khác cũng có những dự án đầu tư kéo dài nhiều năm chưa thể hoàn thành, đi vào sử dụng. Các khó khăn, vướng mắc chủ yếu tập trung ở công tác bồi thường, GPMB; thủ tục pháp lý liên quan đến đất đai, quy hoạch, giá đất; năng lực của một số chủ đầu tư, nhà thầu, nhà đầu tư…
Theo Thông báo số 18/TB-VPCP ngày 9/1/2026 của Văn phòng Chính phủ, đến nay có 5.203 dự án đã được tháo gỡ và đã có định hướng giải pháp tháo gỡ, trong đó 3.289 dự án đất đai với tổng mức đầu tư khoảng 1,67 triệu tỷ đồng, khoảng hơn 70 nghìn ha đất đã được tháo gỡ vướng mắc, tiếp tục triển khai hoàn thành, sớm đưa vào khai thác. Hệ thống cơ sở dữ liệu của Ban Chỉ đạo về giải quyết các vấn đề khó khăn vướng mắc các dự án tồn đọng theo Quyết định số 751/QĐ-TTg ngày 11/4/2025 (Ban chỉ đạo 751) ghi nhận 2.991 dự án có khó khăn, vướng mắc tồn đọng, kéo dài cần tháo gỡ với quy mô diện tích đất khoảng hơn 153 nghìn ha và tổng mức đầu tư là 2,46 triệu tỷ đồng.
Nhiều ý kiến cho rằng, nếu nhanh chóng tháo gỡ các dự án vướng mắc, sẽ huy động thêm được nguồn lực lớn cho phát triển. Trao đổi với phóng viên Báo Đấu thầu, một nhà đầu tư dự án BT thuộc diện chuyển tiếp còn vướng mắc chia sẻ, nếu được gỡ vướng mắc, giao đất thực hiện dự án đối ứng theo hợp đồng, thì nhà đầu tư sẽ dồn lực triển khai ngay dự án đối ứng, vừa có cơ hội hoàn vốn khi đã rót hàng trăm tỷ đồng đầu tư vào công trình BT từ năm 2013 đến nay, vừa tạo ra công ăn việc làm cho người lao động. Nhà đầu tư này cho biết, dự án của họ đã được địa phương tổng hợp lên Hệ thống 751 và đang rất kỳ vọng được tháo gỡ từ Nghị quyết của Chính phủ về cơ chế tháo gỡ khó khăn, vướng mắc các dự án BT chuyển tiếp.
Dự thảo Nghị quyết đã được Bộ Tài chính công bố xin ý kiến từ cuối tháng 12/2025, đề xuất nhiều nhóm giải pháp xử lý vướng mắc cho các dự án BT chuyển tiếp, với khoảng 160 dự án đã được tổng hợp.
Theo Thông báo số 18/TB-VPCP, Thủ tướng yêu cầu ngay trong tháng 1/2026, Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Thanh tra Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, các bộ, cơ quan, địa phương tổng hợp, trình Chính phủ ban hành danh mục các dự án, đất đai đáp ứng đủ điều kiện áp dụng cơ chế, chính sách tại Nghị quyết số 170/2024/QH15 để các địa phương có cơ sở triển khai; trình Chính phủ ban hành Nghị quyết về cơ chế tháo gỡ khó khăn, vướng mắc các dự án BT chuyển tiếp. Đồng thời, Bộ Tài chính rà soát, tổng hợp báo cáo Thủ tướng thông báo danh mục các dự án khó khăn, vướng mắc thuộc thẩm quyền xử lý của các bộ, cơ quan trung ương, địa phương được tổng hợp trên Hệ thống 751 để các đơn vị chủ động xử lý theo thẩm quyền; tổng hợp báo cáo Thủ tướng kết quả xử lý; mở Hệ thống 751 để các bộ, cơ quan, địa phương tiếp tục cập nhật danh mục, thông tin các dự án theo hướng dẫn…
Thủ tướng cũng chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương tiếp tục rà soát các dự án, cập nhật thông tin, dữ liệu lên Hệ thống 751; không được để sót, để lọt danh mục các dự án cần được tháo gỡ khó khăn, vướng mắc mà đến thời điểm ngày 31/12/2025 chưa được xử lý và có giải pháp giải quyết, nhất là các dự án đã có kết luận thanh tra, kiểm tra, bản án, tình huống pháp lý tương tự…
Thủ tướng nêu rõ, việc tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc cho các dự án là vấn đề khó, phức tạp, nhạy cảm, không cầu toàn, không nóng vội nhưng không bỏ lỡ cơ hội. Đây là nhiệm vụ phải làm thường xuyên, liên tục, tổng thể trên tất cả các lĩnh vực, kịp thời đề xuất bổ sung các cơ chế, chính sách trong quá trình thực hiện để khơi thông, giải phóng nguồn lực đang tồn đọng, giải quyết bức xúc của người dân, doanh nghiệp.
Nguồn: Người Lao Động; Kenh14; Thanh Niên; Báo Đấu Thầu
Việt Nam: Ngọc nữ lọt top mỹ nhân đẹp nhất thế giới; Đường dây rửa tiền xuyên quốc gia; Quy hoạch công viên Thủ Lệ; Thánh đường 5.000 người trước ngày khánh thành
Việt Nam: Đề nghị kỷ luật Sử Ngọc Anh; Cáp treo mới 16.234 tỷ; Thiên đường nghỉ dưỡng; Cựu Phó TGĐ Ngân hàng VNCB trốn truy nã; Đấu giá biệt thự Chủ tịch AIC
Việt Nam: EU đưa ra khỏi danh sách quốc gia không hợp tác thuế; Phải khai báo trường hợp chuyển khoản sau; Top quốc gia được yêu thích nhất; Xác minh giao dịch 300 triệu
Người Việt hải ngoại: Mỹ nhân mở tiệc 3 ngày 3 đêm ở Mỹ; Du học sinh tốt nghiệp ở Bắc Kinh, về quê làm khu công nghiệp; Đại hội Phụ nữ vùng Kansai, Nhật Bản
Việt Nam: Lãi suất ngân hàng 12/10; Khách sạn lọt top 3 tốt nhất Đông Nam Á; Chung cư 90 triệu đồng/m2; Chuyển trái phép 900 tỷ ra nước ngoài; Ngân hàng bán bất động sản xử lý nợ
Việt Nam: Cảnh báo sớm sai sót thuế; Cho thuê chung cư để lưu trú; Giải phóng mặt bằng các dự án lớn Hà Nội; Lừa bán phụ nữ sang Trung Quốc làm vợ; Đường dây đánh bạc, rửa tiền
Người Việt hải ngoại: Nữ chuyên gia có 200 bằng sáng chế; Nữ Tổng Quản Lý Marriott International; phát triển trạm sạc nhanh tại Mỹ; Cựu Phó Thủ tướng Đức vào HĐQT Chứng khoán HD
Việt Nam: Giá vàng hôm nay; Điều chỉnh quy hoạch đô thị sông Hồng; Xử lý 18 000 căn hộ sai quy hoạch; Shark Thủy bị truy tố lần 2; Hộ kinh doanh “đứng tên” bị hoãn xuất cảnh
Bình luận và đánh giá
Gửi nhận xét đánh giá