Tiêu thụ mì gói kỷ lục; Bài toán dân số; Nga đào kho 'vàng trắng'; Liên minh hậu thuẫn Ukraine rạn nứt; Ukraine 'săn' nguồn tiền

Tiêu thụ mỳ gói toàn cầu đạt kỷ lục

(Ảnh minh họa).

Do tác động của lạm phát đến túi tiền người dân, thế giới đã tiêu thụ 121,2 tỷ gói mỳ năm ngoái, mức cao nhất mọi thời đại.

Số liệu mới được công bố bởi Hiệp hội mỳ ăn liền Thế giới, trụ sở chính tại Osaka (Nhật Bản). Dữ liệu được tính toán dựa trên ước tính xuất khẩu mỳ gói ở 56 nền kinh tế. So với 2021, số lượng tiêu thụ mỳ gói năm qua tăng 2,6%.

Tiêu thụ mỳ ăn liền toàn cầu đã tăng liên tục trong 7 năm qua. Đến 2022, Trung Quốc, bao gồm Hong Kong, là thị trường lớn nhất, Indonesia đứng thứ hai, tiếp theo là Ấn Độ, Việt Nam và Nhật Bản.

Vào năm 2020, khi nhiều người bị phong tỏa vì đại dịch, nhu cầu mỳ gói toàn cầu đã tăng 9,5%. Mức tăng giảm xuống còn 1,4% vào năm 2021, nhưng sau đó tăng trở lại vào năm 2022. Nguyên nhân bởi giá lương thực ở nhiều nước tăng vọt do lạm phát đã thúc đẩy người tiêu dùng chuyển sang sử dụng mỳ ăn liền như một lựa chọn hợp túi tiền.

Thị trường mỳ ăn liền mở rộng đặc biệt mạnh mẽ ở Mexico. Nhu cầu tại nước này tăng vọt 17,2% vào năm 2021 và vẫn duy trì mức tăng trưởng hai con số vào năm ngoái, đạt 11%. Ngược lại, thị trường Bắc Mỹ giảm 1,4% vào năm 2021, sau đó phục hồi 3,4% vào năm 2022. mỳ ăn liền phổ biến khắp châu Á, nơi các món mỳ là một phần lâu đời của văn hóa ẩm thực, nhưng ngày càng chúng cũng dần hiện diện rộng rãi ở những nơi như Mỹ và Mexico.

Theo nhà sản xuất mỳ ăn liền Nissin Foods, người tiêu dùng trung lưu trước đây không dùng mỳ ăn liền nhưng giờ cũng đang kết hợp món này vào thực đơn do lạm phát. Cùng với Nissin Foods, công ty mỳ gói khác là Toyo Suisan cũng ghi nhận lợi nhuận tăng đáng kể từ hoạt động ở nước ngoài trong năm tài chính kết thúc vào tháng 3/2023.

Cả hai đều có kế hoạch thành lập cơ sở sản xuất tại Mỹ vào năm 2025 để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng ở nước này cũng như Mexico. "Số lượng người tiêu dùng thường xuyên ăn mỳ ăn liền đang tăng lên và chúng tôi sẽ tăng thêm sự đa dạng về hương vị trong tương lai", Toyo Suisan cho biết.

Riêng ở Nhật Bản, các công ty mỳ ăn liền lớn đã tăng giá khoảng 10% vào năm ngoái và một lần nữa vào năm 2023 để ứng phó với chi phí nguyên liệu và bao bì tăng. Mức tăng 10% trong hai năm liên tiếp là điều bất thường, nhưng doanh số bán hàng không giảm đáng kể.

Ngoài những sản phẩm có giá cả phải chăng, xu hướng người tiêu dùng hiện còn muốn những sản phẩm giúp họ tiết kiệm thời gian nhưng vẫn có dinh dưỡng. Vì vậy, các nhà sản xuất mỳ ăn liền đang nỗ lực cải tiến sản phẩm bằng cách làm cho chúng có nhiều dinh dưỡng và sử dụng nguyên liệu tốt hơn.

Bài toán dân số thách thức nhiều quốc gia

Đến năm 2050, ước tính người từ 65 tuổi trở lên sẽ chiếm gần 40% dân số ở một số khu vực Đông Á và châu Âu... Với tình trạng số lượng lao động ngày càng giảm, các quốc gia sẽ phải đối mặt với sự suy giảm dần về phúc lợi và sức mạnh kinh tế.

“Bản đồ” lợi tức dân số thế giới đang thay đổi

Trong nhiều thập kỷ qua, các quốc gia dẫn đầu thế giới đã được hưởng lợi không nhỏ từ dân số đông đảo trong độ tuổi lao động, giúp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Trong khi đó, các nước đang phát triển có dân số trẻ lại bị hạn chế về nguồn lực dành cho trẻ em cũng như cơ hội kinh tế.

Nhưng “bản đồ” lợi tức dân số của thế giới hiện đang thay đổi nhanh chóng, trong đó Nhật Bản dường như là điểm nóng đáng chú ý nhất. Theo số liệu mới nhất do Bộ Nội vụ và Truyền thông Nhật Bản công bố hôm 18/9 vừa qua, tỷ lệ người cao tuổi - được xác định là từ 65 tuổi trở lên - hiện đang ở mức cao kỷ lục tại nước này, chiếm 29,1% dân số, cũng là tỷ lệ cao nhất thế giới.

Đồng thời, cứ 10 cư dân Nhật Bản thì có một người từ 80 tuổi trở lên.
Phần lớn các nước Tây Âu cũng đang “nối gót” Nhật Bản trong danh sách các quốc gia có dân số già kỷ lục, tiếp sau đó là Hàn Quốc, Anh và khu vực Đông Âu, cùng với Trung Quốc - nơi được dự báo sẽ có ít hơn 200 triệu dân trong độ tuổi lao động, là mức giảm cao hơn toàn bộ dân số của hầu hết các quốc gia.

Đến năm 2050, ước tính người từ 65 tuổi trở lên sẽ chiếm gần 40% dân số ở một số khu vực Đông Á và châu Âu, đồng nghĩa với việc một lượng lớn người về hưu sẽ sống phụ thuộc vào số lượng người trong độ tuổi lao động ngày càng giảm.

Do đó, các chuyên gia dự đoán rằng những thứ mà nhiều quốc gia giàu có đang coi là điều hiển nhiên - như lương hưu cao, tuổi nghỉ hưu thấp và chính sách nhập cư nghiêm ngặt - sẽ cần phải xem xét lại.

Đây là một sự thay đổi lớn đối với châu Âu, Mỹ, Trung Quốc và các nền kinh tế hàng đầu khác, những nơi vốn có nhiều người trong độ tuổi lao động nhất thế giới. Lực lượng lao động lớn của họ đã giúp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế quốc gia cũng như toàn cầu.

Các dự đoán cho biết thêm, chẳng bao lâu nữa, lực lượng lao động cân bằng nhất sẽ chủ yếu tập trung ở Nam và Đông Nam Á, châu Phi và Trung Đông. Sự thay đổi này có thể định hình lại tăng trưởng kinh tế và cán cân quyền lực địa chính trị. Các nước giàu hơn gần như chắc chắn sẽ chiếm tỷ trọng nhỏ hơn trong GDP toàn cầu.

Nhưng giới chuyên gia cũng cảnh báo, nếu không có chính sách đúng đắn, lượng dân số khổng lồ trong độ tuổi lao động có thể phản tác dụng. Nếu một số lượng lớn thanh niên không được tiếp cận với việc làm hoặc giáo dục, tình trạng thất nghiệp lan rộng có thể đe dọa sự ổn định của xã hội, đặc biệt là khi những người trẻ nhàn rỗi gia nhập các băng nhóm tội phạm.

Philip O'Keefe, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Già hóa châu Á tại CEPAR - nhóm tập hợp các nhà nghiên cứu hàng đầu trong lĩnh vực già hóa dân số - lưu ý, các quốc gia Đông Á đã đạt được điểm hấp dẫn về nhân khẩu học trong vài thập kỷ qua đã có các thể chế và chính sách đặc biệt tốt để tận dụng tiềm năng đó.

Cũng theo ông O'Keefe, một số khu vực khác trên thế giới - chẳng hạn như một số nước Mỹ Latinh - có cấu trúc tuổi tương tự như các nước Đông Á, nhưng chưa thấy nơi nào có mức tăng trưởng tương tự. Chuyên gia này giải thích: “Nhân khẩu học chỉ là nguyên liệu thô. Lợi tức dân số có được là nhờ sự phối kết hợp giữa nguyên liệu thô và các chính sách tốt”.

Tóm lại, nếu các quốc gia không chuẩn bị cho tình trạng số lượng lao động ngày càng giảm, họ sẽ phải đối mặt với sự suy giảm dần dần về phúc lợi và sức mạnh kinh tế. Các quốc gia cũng có thể bị suy giảm ảnh hưởng toàn cầu của mình, nhất là do dân số sẵn sàng tham gia nghĩa vụ quân sự ít hơn.

Vậy trên thực tế, các nước là điểm nóng trong cuộc khủng hoảng nhân khẩu học đã và đang làm gì để đối phó với thách thức sống - còn này?

Bài học từ các điểm nóng

Quốc gia “già nhất thế giới” là Nhật Bản, dân số đã đạt đỉnh 128 triệu người vào năm 2008 và kể từ đó đã giảm xuống dưới 123 triệu người. Dân số nước này dự kiến sẽ giảm xuống còn 72 triệu người vào cuối thế kỷ này do tỷ lệ sinh thấp, dân số già đi và các hạn chế nhập cư. Chính phủ Tokyo từ lâu đã thực thi đa dạng các sáng kiến nhằm làm chậm lại sự suy giảm này, bao gồm thay đổi luật nhập cư và hẹn hò được nhà nước tài trợ.

Đáng chú ý, dù chạm mức thấp kỷ lục vào năm 2022 nhưng tổng tỷ suất sinh (TFR) - số con mà một phụ nữ sẽ sinh trong đời - của Nhật Bản hiện vẫn cao hơn Trung Quốc và Hàn Quốc.

Kể từ năm 2006, Hàn Quốc đã đầu tư hơn 200 tỷ USD vào việc thành lập các trung tâm giữ trẻ công lập, nhà trẻ miễn phí, trợ cấp chăm sóc trẻ và các sáng kiến khác nhằm tăng tỷ lệ TFR. Nhưng với mức 0,78 như hiện nay, TFR của Hàn Quốc vẫn thuộc hàng thấp nhất thế giới.

Chính phủ Seoul cũng đưa ra các cải cách nhập cư vào đầu thế kỷ XXI, đồng thời dẫn đầu thế giới về tự động hóa với 1.000 robot/10.000 nhân viên, cao hơn gấp đôi tỷ lệ của nước đứng thứ 2 thế giới về lĩnh vực này là Nhật Bản.

Còn tại Ấn Độ, đang giữ vị trí là quốc gia đông dân nhất thế giới nhưng TFR của nước này hiện vẫn ở dưới mức sinh thay thế - tổng tỷ suất sinh mà tại đó phụ nữ sinh đủ số con để duy trì mức dân số. Trong khi dân số Ấn Độ cuối cùng được dự đoán sẽ bắt đầu giảm vào những năm 2060, quốc gia Nam Á này hiện đang quản lý dân số trẻ của mình thông qua các sáng kiến như thúc đẩy cơ hội việc làm ở nước ngoài.

Ở châu Âu, những nỗ lực thúc đẩy dân số cũng đã diễn ra trong nhiều thập kỷ qua. Ví dụ, Romania đã hình sự hóa việc phá thai và cấm các biện pháp tránh thai, ngoại trừ một số tình trạng bệnh lý, kể từ năm 1966.

Nhưng cũng vì vậy, tỷ lệ phá thai bất hợp pháp đã gia tăng ở Romania và nước này cũng có tỷ lệ tử vong ở bà mẹ cao nhất châu Âu trong những năm 1980.

Trong khi TFR của Romania ổn định ở mức 2,3 vào cuối những năm 1980, thì nó lại sụp đổ vào những năm 1990, cùng với làn sóng di cư vẫn tiếp diễn ngay cả sau khi Romania gia nhập Liên minh châu Âu vào năm 2007.

Nhiều quốc gia Đông Âu khác cũng trải qua tình trạng giảm TFR và tình trạng di cư tương tự. Trong khi đó, các nước Tây Âu đã cố gắng thúc đẩy tăng trưởng dân số nhẹ kể từ năm 2000, nhưng phần lớn chỉ nhờ vào nhập cư.

Dù vậy, các quốc gia như Italia vẫn phải chứng kiến việc dân số sụt giảm, thúc đẩy loạt sáng kiến của Chính phủ, bao gồm cung cấp nhà cho người nước ngoài với giá chỉ 1 euro nhằm nỗ lực tái định cư các thị trấn nhỏ.

Mỹ là nước có độ tuổi trung bình thấp hơn hầu hết các nước châu Âu và chứng kiến tỷ lệ TFR tăng trở lại vào những năm 2000. Nhưng điều này đã sụt giảm sau cuộc suy thoái tài chính năm 2008 và chưa bao giờ hồi phục.

Chính sách nhập cư của Washington trong nhiều năm đã giảm thiểu những vấn đề này, nhưng cũng như ở châu Âu, điều này ngày càng bị chính trị hóa, khiến tốc độ tăng trưởng dân số ở cường quốc kinh tế số 1 thế giới chậm lại đáng kể.

Ở chiều ngược lại, Pakistan lại đang cố gắng giảm mức tăng dân số để tránh làm trầm trọng thêm căng thẳng về tài nguyên, cơ sở hạ tầng, giáo dục và hệ thống chăm sóc sức khỏe. Mối quan ngại của Pakistan cũng tương tự như phần lớn châu Phi.

Ngoài Afghanistan, 20 quốc gia có TFR cao nhất đều ở châu Phi. Dân số Nigeria được dự đoán sẽ tăng từ 213 triệu hiện nay lên 550 triệu vào năm 2100, trong khi một số dự báo cho thấy một nửa số ca sinh ở châu Phi trong khoảng thời gian từ 2020 - 2100. Dù vậy, các chương trình kế hoạch hóa gia đình đã giúp làm chậm tốc độ tăng trưởng trong những năm gần đây trên khắp lục địa.

Nga "xắn tay" đào kho "vàng trắng" khổng lồ 75 triệu tấn: Quyết gia nhập hàng ngũ các nhà sản xuất hàng đầu thế giới

(Ảnh minh họa).

Nếu đạt được công suất tối đa trong vòng ba năm, Nga sẽ không chỉ không còn phụ thuộc vào nhập khẩu mà còn dư thừa khối lượng sản xuất.

Dự kiến khai thác 45.000 tấn/năm

Hãng RT đưa tin, theo ông Mikhail Metyolkin, người đứng đầu bộ phận kinh doanh công ty con TVEL thuộc Tập đoàn Rosatom, Nga đang tập trung vào sản xuất lithium và chuẩn bị bắt đầu khai thác loại khoáng sản có giá trị này tại một mỏ lớn nằm trên Bán đảo Kola ở khu vực Bắc Cực.

Chia sẻ với giới truyền thông hôm 21/9, ông Metyolkin nói rằng động thái chiến lược này phản ánh tham vọng của Nga trong việc gia nhập hàng ngũ các nhà sản xuất 'vàng trắng' hàng đầu thế giới.

"Rosatom đã thực hiện bước đầu tiên hướng tới việc triển khai sản xuất lithium bằng cách xin được giấy phép trên Bán đảo Kola...", ông tiết lộ, Nga có kế hoạch khai thác 45.000 tấn lithium hàng năm tại khu mỏ ở Kola, đủ để đáp ứng nhu cầu trong nước.

Trước đó, hãng thông tấn Interfax đưa tin, Polar Lithium, liên doanh giữa Nornickel và Rosatom, đã nhận được giấy phép phát triển mỏ lithium Kolmozerskoye (vùng Murmansk, bán đảo Kola) vào tháng 2 năm nay và giấy phép này có hiệu lực đến ngày 20/2/2043.

Số tiền chính phủ Nga bỏ ra cho chi phí khai thác lên tới 1,7 tỷ rúp. Mỏ Kolmozerskoye được coi là mỏ lớn nhất ở Nga, chiếm 18,9% trữ lượng quốc gia tương đương 75 triệu tấn và được đánh giá là có triển vọng nhất.

Hồi tháng 4, ông Vladislav Vasiliyev, người đứng đầu Bộ phận Luyện kim, Bộ Công nghiệp và Thương mại Nga nói rằng, nếu khai thác lithium đạt được công suất tối đa trong vòng ba năm, Nga sẽ không chỉ không còn phụ thuộc vào nhập khẩu mà còn dư thừa khối lượng sản xuất.

Còn theo ông Metyolkin, ngoài mỏ vùng Murmansk, Nga sẽ sớm triển khai khai thác kim loại này ở một số mỏ khác. Moscow đang chuẩn bị cho sự phát triển lớn trong ngành công nghiệp lithium, bao gồm việc xây dựng các nhà máy chế biến toàn chu trình.

Nhu cầu về lithium tăng cao

Nhu cầu về lithium ngày càng tăng trên toàn thế giới vì nó được sử dụng để sản xuất pin lithium-ion, loại pin rất quan trọng đối với hầu hết các thiết bị điện tử tiêu dùng cũng như xe điện. Liên Hợp Quốc đã mô tả những loại pin này là "trụ cột quan trọng để xây dựng nền kinh tế không có nhiên liệu hóa thạch" và Nga có trữ lượng lớn nguyên liệu đáng kể.

Hồi cuối tháng 8, tờ CNBC News trích dẫn báo cáo của cơ quan nghiên cứu Fitch Solutions BMI, cho hay nguồn cung lithium toàn cầu dự kiến sẽ không đủ nhu cầu vào đầu năm 2025.

Các nhà phân tích chủ yếu cho rằng, sự thiếu hụt tiềm năng là do nhu cầu lithium ở Trung Quốc hiện vượt quá nguồn cung sẵn có của nước này.

"Chúng tôi dự đoán nhu cầu lithium đối với xe điện của Trung Quốc sẽ tăng với tốc độ trung bình hàng năm là 20,4% từ năm 2023 đến năm 2032", báo cáo viết. Trung Quốc hiện là nước sản xuất lithium lớn thứ ba thế giới.

Sản lượng lithium toàn cầu đạt 540.000 tấn vào năm 2021, trong khi Diễn đàn Kinh tế Thế giới dự đoán nhu cầu toàn cầu sẽ lên tới hơn 3 triệu tấn vào năm 2030.

Theo dự báo của S&P Global Commodity Insights, doanh số bán ô tô điện toàn cầu dự kiến sẽ đạt 13,8 triệu chiếc trong năm nay nhưng sau đó sẽ tăng vọt lên hơn 30 triệu chiếc vào năm 2030.

"Về cơ bản, chúng tôi chắc chắn ngành công nghiệp lithium sẽ thiếu hụt nhiên liệu. Dù chúng tôi dự báo tăng trưởng nguồn cung nhưng nhu cầu sẽ tăng với tốc độ nhanh hơn nhiều", bà Corinne Blanchard, giám đốc nghiên cứu của Deutsche Bank, nói với CNBC.

Chuyên gia này dự đoán, đến cuối năm sau, mức thâm hụt sẽ rơi vào khoảng 40.000 đến 60.000 tấn lithium và đến cuối năm 2030, mức thâm hụt sẽ lớn hơn lên tới 768.000 tấn.

Liên minh hậu thuẫn Ukraine rạn nứt?

Sự ủng hộ mà Ukraine nhận được từ các đồng minh phương Tây từng vững như bàn thạch, nhưng nay đang xuất hiện nhiều dấu hiệu rạn nứt.

Không khí chính trị ở những quốc gia như Ba Lan và Slovakia đang trở nên căng thẳng vì mâu thuẫn thương mại với Ukraine, và sự chia rẽ trong đảng Cộng hòa ở Mỹ về khoản viện trợ lớn dành cho Ukraine gây ra cảm giác bất ổn về cam kết của phương Tây trong ủng hộ Kiev, khi cuộc xung đột đã kéo dài hơn 18 tháng.

Và chắc chắn Nga sẽ tranh thủ cơ hội nếu nhận thấy Ukraine thiếu các hệ thống phòng không hoặc những loại vũ khí tối tân khác.

Phương Tây lâu nay kề vai sát cánh với Ukraine để chống lại Nga. Nhưng sau những lời khẩn cầu giúp đỡ liên tục từ Ukraine và những khoản tài trợ khổng lồ, dấu hiệu bất hòa đã xuất hiện.

Hồi tháng 7, Bộ trưởng Quốc phòng Anh nói rằng Ukraine nên thể hiện “lòng biết ơn” với phương Tây, sau khi Kiev tiếp tục thúc giục việc kết nạp họ vào Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) nhưng không thành công.

Tuần này, mâu thuẫn mới lại nổi lên sau khi Ukraine đệ đơn khiếu nại lên Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) chống lại ba nước láng giềng, gồm Hungary, Ba Lan và Slovakia, vì những quốc gia này cấm nhập khẩu nông sản Ukraine. Nông sản đang là hàng xuất khẩu chủ chốt của nền kinh tế bị tàn phá bởi chiến tranh ở Ukraine.

Cả ba quốc gia đều nổi giận trước bước đi này của Ukraine. Thủ tướng Ba Lan Mateusz Morawiecki tuyên bố sẽ không chuyển bất kỳ vũ khí nào cho Ukraine nữa, với lý do là Ba Lan đang nỗ lực trang bị vũ khí hiện đại cho quân đội của mình.

Một số quan chức Liên minh châu Âu (EU) cảnh báo rằng Nga chắc chắn đang vui mừng khi thấy những biểu hiện bất hòa mới ở phương Tây, vào thời điểm lực lượng Ukraine mới giành được những thành tựu hạn chế trong chiến dịch phản công ở miền đông và nam đất nước.

Tuy nhiên, từ Washington đến Warsaw, các quan chức gạt bỏ bất kỳ ý kiến nào nói về sự rạn nứt.

Tổng thống Ba Lan Andrzej Duda phát biểu: “Tôi không tin một tranh chấp chính trị sẽ dẫn đến đổ vỡ”. Ông cho biết thêm rằng thủ tướng nước này chỉ đề cập đến vũ khí mới đặt hàng, những loại sẽ không được chuyển đến Ukraine.

Ngày 21/9, Cố vấn An ninh quốc gia Mỹ Jake Sullivan bày tỏ tin tưởng rằng “Ba Lan sẽ tiếp tục là nước ủng hộ Ukraine”.

Trong chuyến thăm Washington tuần này, Tổng thống Ukraine Volodymir Zelensky nỗ lực vận động Washington duy trì viện trợ, trong bối cảnh Mỹ sẽ có một cuộc bầu cử tổng thống vào năm tới. Cựu Tổng thống Donald Trump và đối thủ hàng đầu của đảng Cộng hòa - Thống đốc Ron DeSantis của bang Florida – đều khẳng định họ muốn Mỹ ngừng gửi vũ khí tới Ukraine.

Sau cuộc gặp ông Zelensky ngày 21/9, Thượng nghị sĩ Joe Manchin thừa nhận rằng “mọi người đang nói về số tiền” chi tiêu. Tuy nhiên, ông nói thêm: “Chúng tôi đang đầu tư vào nền dân chủ”.

Trong khi đó, các ứng cử viên tổng thống khác của đảng Cộng hòa như cựu Phó Tổng thống Mike Pence, cựu Thống đốc Nam Carolina Nikki Haley và cựu Thống đốc New Jersey Chris Christie vẫn ủng hộ Ukraine.

Tình hình tương tự đang diễn ra ở Đông Âu. Tổng thống Lithuania Gitanas Nausea, một người ủng hộ Ukraine mạnh mẽ, đăng lên mạng xã hội X lời kêu gọi lãnh đạo Ukraine và Ba Lan “giải quyết những khác biệt hiện tại”, đồng thời khẳng định Lithuania sẵn sàng làm trung gian cho hai nước đối thoại.

“Mối quan hệ Ba Lan - Ukraine trở thành con tin cho chiến dịch bầu cử Ba Lan”, Piotr Buras, thành viên cấp cao của Hội đồng Quan hệ Đối ngoại châu Âu tại Warsaw, nói về cuộc bầu cử quốc hội nước này vào tháng tới.

Tuy nhiên, ông vẫn cảnh báo tác hại từ những phát biểu của Thủ tướng Ba Lan Morawiecki.

“Nó gây thiệt hại rất lớn cho Ukraine, vì câu chuyện này củng cố một dòng tư tưởng hoài nghi ở châu Âu về sự cần thiết phải cung cấp vũ khí cho Ukraine”, Buras nói với AP .

Ông Robert Fico , người từng hai lần giữ chức thủ tướng Slovakia, đang trở lại với tư cách ứng viên dẫn đầu trong cuộc bầu cử quốc hội nước này. Đảng dân túy, cánh tả của ông đưa ra tư tưởng ủng hộ Nga và tuyên bố sẽ đảo ngược sự hỗ trợ chính trị và quân sự mà Slovakia đang dành cho Ukraine nếu họ chiến thắng trong cuộc bầu cử ngày 30/9.

Niklas Masuhr, một nhà phân tích quân sự tại Trung tâm Nghiên cứu An ninh thuộc Viện Công nghệ Liên bang ở Zurich, cho rằng một số chính đảng đang đề cao chủ nghĩa dân tộc để lấy lòng cử tri, khi ấn tượng về “sự đoàn kết quá mức cho Ukraine” gây tổn hại đến lợi ích trong nước.

“Sẽ thật ngây thơ nếu nghĩ rằng không có sự đánh đổi giữa lợi ích của từng quốc gia NATO và lợi ích của Ukraine”, Masuhr nói.

Chiến sự làm cạn kiệt ngân khố, Ukraine chật vật săn lùng nguồn tiền

(Ảnh minh họa).

Xung đột ngày càng khốc liệt với Nga cùng với chiến dịch phản công kéo dài trong những tháng qua khiến ngân sách Ukraine ngày càng cạn kiệt và Kiev đang chật vật tìm nguồn tiền duy trì nền kinh tế.

Chiến sự ở Ukraine đang rất tàn khốc và cũng tốn kém. Hiện cuộc phản công của Kiev chống lại các lực lượng Nga ở khu vực phía nam đã bị sa lầy.

Đối mặt với nguy cơ chiến sự kéo dài và thâm hụt ngân sách hơn 40 tỷ USD vào năm 2024, các quan chức tài chính ở Ukraine đang phải nỗ lực huy động nguồn tiền để duy trì hoạt động của nền kinh tế thời chiến.

Trong đó, Kiev đang đưa ra những chiến lược rất đơn giản: bán trái phiếu cho các tập đoàn và cá nhân, vận động viện trợ quốc tế và tái cơ cấu các khoản nợ hiện có.

Ngoài ra còn có những chiến lược khác như đánh thuế các trung gian tài chính như Euroclear, vốn được hưởng lợi từ tài sản bị đóng băng của Nga hoặc sử dụng các cơ cấu phức tạp để huy động tiền từ các nhà đầu tư trái phiếu quốc tế.

"Nếu không thể bù đắp những thiếu hụt ngân sách thì chính phủ Ukraine sẽ không thể có đủ tiền cho nỗ lực quân sự của mình", ông Vitaliy Vavryshchuk, người đứng đầu bộ phận nghiên cứu kinh tế vĩ mô tại công ty môi giới ICU có trụ sở tại Kiev, cho biết.

Công ty ICU trong tuần này triển khai một chương trình tư vấn về việc bán trái phiếu chính phủ Ukraine cho các cá nhân ở nước ngoài, đặc biệt là ở Tây Âu. Tuy nhiên, các khoản đầu tư tiềm năng có thể sẽ chỉ như "muối bỏ biển".

"Nếu chúng tôi giành chiến thắng cuộc xung đột trong vòng 1 năm, Nga vẫn là nỗi sợ hãi lớn nhất của chúng tôi", người đứng đầu bộ phận quản lý nợ công của Bộ Tài chính Ukraine Yury Butsa, cho biết.

Ngoài ra, Kiev còn có một lựa chọn lâu dài: gia nhập Liên minh châu Âu (EU), điều này có thể giúp Ukraine tiếp cận hàng trăm tỷ euro tiền trợ cấp và tài trợ cơ sở hạ tầng.

Theo nghiên cứu của ICU, nền kinh tế Ukraine đã ổn định phần nào trong năm nay và chính phủ đã nâng dự báo tăng trưởng năm 2023 từ 1% lên 4%. Điều đó khiến giá trái phiếu quốc tế tăng mạnh kể từ tháng 6. Tuy nhiên, theo nghiên cứu của ICU, hoạt động kinh tế kết thúc trong năm nay sẽ thấp hơn khoảng 25% so với mức trước xung đột.

Thực tế hiện nay là quân đội Ukraine đang tiêu tốn 90.000 quả đạn pháo mỗi tháng và Quốc hội nước này sẽ sớm bỏ phiếu về việc tăng chi tiêu quốc phòng lần thứ ba, nâng mức chi tiêu dự kiến trong năm nay lên 40 tỷ USD, từ mức 30 tỷ USD.

Bộ Tài chính Ukraine hồi tuần trước cũng đã công bố kế hoạch tăng chi tiêu an ninh lên 45 tỷ USD vào năm tới.

Hầu hết các giao dịch mua vũ khí của Ukraine đều do châu Âu và Mỹ tài trợ. Nhưng không rõ sự hỗ trợ đó sẽ kéo dài bao lâu, đặc biệt nếu một ứng viên Cộng hòa nắm quyền ở Nhà Trắng vào năm tới, nguy cơ Mỹ giảm dần sự hỗ trợ cho Ukraine là rất rõ ràng.

Sự hỗ trợ của Mỹ sẽ còn đặc biệt khó khăn hơn nữa khi xung đột kết thúc, nhưng Ukraine vẫn sẽ cần chi tiêu cho quốc phòng.

Hiện Ukraine đang tăng tốc thị trường trái phiếu trong nước. Chính phủ nước này đã vay 10 tỷ USD thông qua việc bán trái phiếu địa phương trong năm nay, vượt quá 8,5 tỷ USD mà họ đã nhận được từ viện trợ của Mỹ.

Hồi mới bùng nổ xung đột, Ngân hàng trung ương Ukraine đã mua hầu hết trái phiếu chính phủ mới để ổn định nền kinh tế. Hiện khu vực tư nhân đang thúc đẩy tăng trưởng, được thu hút bởi lợi suất được điều chỉnh theo lạm phát ở mức khoảng 10%.

Theo dữ liệu của Bộ Tài chính, các ngân hàng, công ty và cá nhân đã tăng quyền sở hữu trái phiếu kho bạc Ukraine thêm 3 tỷ USD trong năm nay, trong khi tỷ lệ nắm giữ của Ngân hàng trung ương giảm khoảng 400 triệu USD.

Konstantin Lykhytsky, giám đốc ngân khố và đầu tư, cho biết công ty bảo hiểm tài sản và tai nạn ARX có trụ sở tại Kiev đã tăng lượng nắm giữ trái phiếu chính phủ lên khoảng 75% trong số 80 triệu USD mà công ty này đầu tư trong năm nay, so với mức 60% trước xung đột. "Chúng tôi muốn mua nhiều hơn để hỗ trợ chính phủ và quân đội cũng như để đạt được mức lợi suất hấp dẫn", ông cho biết.

Theo Ngân hàng Thế giới (WB), Ukraine sẽ cần rất nhiều tiền để tái thiết sau chiến tranh, ít nhất là 411 tỷ USD. Nếu gia nhập EU, nước này có thể nhận được hàng trăm tỷ USD thông qua các khoản tài trợ phát triển, trợ cấp nông nghiệp và các hỗ trợ khác.

Các quốc gia như Ba Lan, Hungary và Cộng hòa Séc đã gia nhập EU gần 20 năm trước và mang lại những lợi ích to lớn cho nền kinh tế của họ. Hiện tại, ông Butsa và các quan chức khác đang áp dụng phương pháp chắp vá để bù đắp các lỗ hổng ngân sách.

Hồi năm 2022, các trái chủ quốc tế, bao gồm MFS Investment Management, BlackRock và Fidelity Investments đã đồng ý cho Ukraine tạm hoãn thanh toán khoản nợ khoảng 20 tỷ USD cho đến giữa năm 2024. Một nỗ lực khác là nhằm tăng thu nhập lãi mà các cơ quan thanh toán bù trừ tài chính như Euroclear đã thu được từ khoảng 280 tỷ USD tài sản bị đóng băng của Nga.

Các nhà phân tích cho biết, việc cung cấp cho Ukraine các khoản tiền của Nga, bao gồm cả dự trữ của Ngân hàng trung ương, sẽ gây ra những tranh cãi về mặt pháp lý và ngoại giao nhưng thu nhập từ lãi là vấn đề thực tế.

Euroclear đã thu được 1,7 tỷ USD tiền lãi trong nửa đầu năm từ 150 tỷ USD tài sản của Nga vốn đang bị vướng vào các lệnh trừng phạt quốc tế. Công ty có trụ sở tại Bỉ này đang thảo luận với các quan chức EU về việc chuyển một số tiền sang Ukraine thông qua khoản thuế được trả cho Ủy ban châu Âu.

Nguồn: Vnexpress; Kinh tế & Đô thị; CafeF; Soha; Dân Trí

Xem thêm:
Về trang trước

Chủ đề:

Bình luận và đánh giá
Gửi nhận xét đánh giá

Đọc nhiều nhất

Việt Nam: Ngọc nữ lọt top mỹ nhân đẹp nhất thế giới; Đường dây rửa tiền xuyên quốc gia; Quy hoạch công viên Thủ Lệ; Thánh đường 5.000 người trước ngày khánh thành

Việt Nam: Đề nghị kỷ luật Sử Ngọc Anh; Cáp treo mới 16.234 tỷ; Thiên đường nghỉ dưỡng; Cựu Phó TGĐ Ngân hàng VNCB trốn truy nã; Đấu giá biệt thự Chủ tịch AIC

Việt Nam: EU đưa ra khỏi danh sách quốc gia không hợp tác thuế; Phải khai báo trường hợp chuyển khoản sau; Top quốc gia được yêu thích nhất; Xác minh giao dịch 300 triệu

Người Việt hải ngoại: Mỹ nhân mở tiệc 3 ngày 3 đêm ở Mỹ; Du học sinh tốt nghiệp ở Bắc Kinh, về quê làm khu công nghiệp; Đại hội Phụ nữ vùng Kansai, Nhật Bản

Việt Nam: Lãi suất ngân hàng 12/10; Khách sạn lọt top 3 tốt nhất Đông Nam Á; Chung cư 90 triệu đồng/m2; Chuyển trái phép 900 tỷ ra nước ngoài; Ngân hàng bán bất động sản xử lý nợ

Người Việt hải ngoại: Sắp diễn ra Hội nghị người Việt ở nước ngoài toàn thế giới lần thứ 5; Hoa hậu 2 lần đổ vỡ sang Canada cưới người yêu đơn phương 5 năm

Việt Nam: Cảnh báo sớm sai sót thuế; Cho thuê chung cư để lưu trú; Giải phóng mặt bằng các dự án lớn Hà Nội; Lừa bán phụ nữ sang Trung Quốc làm vợ; Đường dây đánh bạc, rửa tiền

Người Việt hải ngoại: Nữ chuyên gia có 200 bằng sáng chế; Nữ Tổng Quản Lý Marriott International; phát triển trạm sạc nhanh tại Mỹ; Cựu Phó Thủ tướng Đức vào HĐQT Chứng khoán HD

Lên đầu trang