Người dân được chọn thửa đất để tách thửa; Hưởng lương hưu phải nhận tiền qua VNeID; Thời hạn nộp tiền sử dụng đất; Xử phạt lĩnh vực báo chí; Nhà chưa có sổ được chuyển nhượng

Người dân được quyền lựa chọn thửa đất để tách thửa

Đối với trường hợp sử dụng đất hỗn hợp, người dân được quyền lựa chọn đất ở hay đất nông nghiệp để đề nghị tách thửa. Cơ quan chức năng chỉ xét bảo đảm diện tích tối thiểu đối với phần diện tích mà người dân đề nghị tách do có hình thành thửa đất mới.

Sở Nông nghiệp và Môi trường TPHCM vừa có văn bản hướng dẫn tháo gỡ cho đất hỗn hợp nằm xen kẽ trong khu dân cư hiện hữu.

Theo đó, đối với trường hợp sử dụng đất hỗn hợp, người dân được quyền lựa chọn thửa đất (đất ở hay đất nông nghiệp) để đề nghị tách thửa. Cơ quan chức năng chỉ xét bảo đảm diện tích tối thiểu đối với phần diện tích mà người dân đề nghị tách do có hình thành thửa đất mới.

Đối với phần thửa đất còn lại mà người dân không đề nghị tách, cơ quan nhà nước không phải xem xét điều kiện này. Chỉ trong trường hợp người dân yêu cầu tách cho cả phần đất ở và đất nông nghiệp, cơ quan chức năng mới phải xem xét bảo đảm diện tích tối thiểu đối với từng loại đất theo quy định.

Cụ thể, nếu người dân chỉ muốn tách phần đất ở thì cơ quan chức năng chỉ xét điều kiện tách thửa đối với đất ở, diện tích tối thiểu để được tách thửa (từ 36 - 100 m2 tùy khu vực theo quyết định 67/2026), phần đất nông nghiệp còn lại không xét.

Trong khi đó, nếu chỉ muốn tách phần đất nông nghiệp, cơ quan chức năng chỉ xét điều kiện tách thửa đối với đất nông nghiệp (hạn mức tối thiểu để tách thửa là 500 m2 đất hằng năm, 1.000 m2 đất lâu năm).

Chỉ khi nào người dân muốn tách cả hai cùng lúc thì mới phải xét đủ điều kiện tách thửa của cả hai loại đất.

Trước đó, Sở Nông nghiệp và Môi trường TPHCM nhận được phản ánh của người dân, về việc khi thụ lý hồ sơ thửa đất hỗn hợp của người dân, cán bộ địa phương không căn cứ vào loại đất chính là đất ở để xét duyệt điều kiện tách.

Thay vào đó, người dân bị buộc phần đất nông nghiệp đính kèm trên cả thửa tách ra và thửa còn lại đều phải đạt hạn mức tối thiểu, dao động từ 500 m2 đến 1.000 m2.

Xem tiếp tại đường Link =>

https://share.google/E6xwJjlpltiM2tAIR

Từ 28/9/2026, người hưởng lương hưu có bắt buộc nhận tiền qua VNeID?

Từ ngày 28/9/2026, Nghị định 320/2026/NĐ-CP có hiệu lực, bổ sung quy định về chi trả lương hưu qua tài khoản hưởng an sinh xã hội trên ứng dụng định danh quốc gia. Quy định này có buộc mọi người hưởng lương hưu phải nhận tiền qua VNeID ngay từ thời điểm này?

Từ 28/9, người hưởng lương hưu có bắt buộc nhận tiền qua VNeID?

Không phải tất cả người hưởng lương hưu đều bắt buộc nhận tiền qua VNeID từ ngày 28/9/2026. Đây là thời điểm Nghị định 320/2026/NĐ-CP bắt đầu có hiệu lực. Quy định mới đặt ra hình thức chi trả lương hưu qua tài khoản hưởng an sinh xã hội trên ứng dụng định danh quốc gia, đồng thời nêu rõ cách xử lý đối với trường hợp người thụ hưởng chưa tạo lập tài khoản này.

Cụ thể, Điều 5 Nghị định 320/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 9 Điều 9 Nghị định 69/2024/NĐ-CP:

9. Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thực hiện việc chi trả các khoản hỗ trợ, hưu trí, chi trả an sinh xã hội và các khoản kinh phí hợp pháp khác từ ngân sách nhà nước qua hình thức chuyển khoản đến tài khoản hưởng an sinh xã hội trên ứng dụng định danh quốc gia; trừ trường hợp đối tượng thụ hưởng chưa tạo lập tài khoản hưởng an sinh xã hội và chưa có văn bản ủy quyền tiếp nhận thì thực hiện các khoản chi trả an sinh xã hội theo hình thức khác theo quy định…

Như vậy, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thực hiện chi trả các khoản hỗ trợ, hưu trí, an sinh xã hội và các khoản kinh phí hợp pháp khác từ ngân sách nhà nước bằng hình thức chuyển khoản đến tài khoản hưởng an sinh xã hội trên ứng dụng định danh quốc gia.

Nếu đối tượng thụ hưởng chưa tạo lập tài khoản hưởng an sinh xã hội và chưa có văn bản ủy quyền tiếp nhận, các khoản chi trả an sinh xã hội được thực hiện theo hình thức khác theo quy định. Vì vậy, không phải đến ngày 28/9/2026, người chưa có tài khoản hưởng an sinh xã hội trên VNeID sẽ không được nhận tiền.

Có thể thấy, Nghị định 320 không yêu cầu mọi cá nhân đang hưởng lương hưu phải lập tài khoản trên VNeID trước ngày 28/9/2026, cũng không ấn định ngày này là hạn cuối để người hưởng lương hưu hoàn tất việc tích hợp tài khoản.

Nghị định còn quy định mỗi cơ quan, tổ chức, cá nhân chỉ được tích hợp một tài khoản thanh toán, ví điện tử hoặc tài khoản tiền di động chính chủ có thông tin trùng khớp với tài khoản định danh điện tử để hưởng an sinh xã hội. Đây là yêu cầu đối với tài khoản được tích hợp để nhận khoản chi trả qua ứng dụng; không đồng nghĩa với việc VNeID tự trở thành một tài khoản ngân hàng hay nơi giữ tiền lương hưu.

Tài khoản hưởng an sinh xã hội trên VNeID là gì, dùng để nhận tiền như thế nào?

Theo Điều 1 Nghị định 320/2026/NĐ-CP bổ sung khoản 12 Điều 3 Nghị định 69/2024/NĐ-CP, tài khoản hưởng an sinh xã hội là thông tin định danh trên ứng dụng định danh quốc gia. Tài khoản cho phép chủ thể danh tính điện tử tích hợp thông tin tài khoản thanh toán, ví điện tử hoặc tài khoản tiền di động để tiếp nhận các khoản hỗ trợ, hưu trí, chi trả an sinh xã hội và các khoản kinh phí hợp pháp.

Theo cách quy định này, ứng dụng định danh quốc gia là nơi gắn thông tin định danh của người thụ hưởng với phương tiện nhận tiền được tích hợp. Khi áp dụng hình thức chi trả tại khoản 9 Điều 9 nêu trên, khoản tiền được chuyển đến tài khoản hưởng an sinh xã hội trên ứng dụng.

Người dùng cần lưu ý điều kiện chính chủ và trùng khớp thông tin và mỗi người dùng chỉ một tài khoản thanh toán, một ví điện tử hoặc một tài khoản tiền di động phù hợp được tích hợp để hưởng an sinh xã hội.

Nghị định cũng giao trách nhiệm triển khai cho các cơ quan có liên quan. Theo Điều 15 Nghị định 320/2026/NĐ-CP, khoản 16 được bổ sung vào Điều 34 Nghị định 69/2024/NĐ-CP quy định việc ban hành hướng dẫn chi tiết về chi trả các khoản hỗ trợ, hưu trí, bảo hiểm và các khoản chi trả khác qua tài khoản hưởng an sinh xã hội trên ứng dụng định danh quốc gia thuộc trách nhiệm của Bộ Công an.

Xem tiếp tại đường Link =>

https://share.google/Pq56vozGNgkNnbgSf

Thống nhất thời hạn nộp tiền sử dụng đất theo phương án đấu giá quyền sử dụng đất

Phó Thủ tướng thống nhất nội dung, yêu cầu thời hạn nộp tối đa không quá 12 tháng với nộp tiền sử dụng đất theo phương án đấu giá quyền sử dụng đất.

Ngày 28.9, tại trụ sở Chính phủ, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng chủ trì cuộc họp với các bộ, cơ quan liên quan để tiếp tục rà soát, hoàn thiện các nội dung của dự thảo dự án Luật Đất đai (sửa đổi), bảo đảm tính khả thi, hiệu quả, hạn chế tối đa vướng mắc trong quá trình tổ chức thực hiện.

Tại cuộc họp ngày 21.9 về dự án Luật Đất đai (sửa đổi), Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng đã giao Bộ Nông nghiệp và Môi trường (Bộ NNMT) chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tiếp tục rà soát, nghiên cứu kỹ, thống nhất phương án trong dự thảo luật, bảo đảm tính khả thi, hiệu quả, hạn chế tối đa các vướng mắc trong quá trình thực hiện sau khi ban hành.

Bộ NNMT cho biết, sau cuộc họp ngày 21.9 do Phó Thủ tướng chủ trì, Bộ đã tiếp thu tối đa các ý kiến của các bộ, cơ quan để tiếp tục hoàn thiện dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi).

Tại cuộc họp ngày 28.9, Bộ NNMT cùng các bộ, cơ quan tiếp tục trao đổi, làm rõ nhiều nội dung liên quan đến quản lý nhà nước về đất đai; công chứng, chứng thực đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; quy định thanh toán cho hợp đồng BT; việc sử dụng đất của công ty cổ phần hóa, doanh nghiệp nhà nước; bổ sung thời hạn nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất trong trường hợp đấu giá quyền sử dụng đất.

Sau khi nghe ý kiến, kết luận cuộc họp, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng nhấn mạnh, dự án Luật Đất đai (sửa đổi) là dự án luật có tác động sâu sắc, toàn diện tới các mặt của đời sống xã hội.

Quá trình hoàn thiện dự thảo phải tiếp tục được rà soát kỹ lưỡng, bảo đảm các quy định có tính khả thi, hiệu quả, hạn chế tối đa những vướng mắc phát sinh trong quá trình tổ chức thực hiện sau khi luật được ban hành.

Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) cần tập trung quy định những nguyên tắc chung, mang tính cốt lõi; những vấn đề cụ thể, chi tiết, mang tính thủ tục bắt buộc đưa vào các nghị định của Chính phủ, bảo đảm sự phù hợp và thuận lợi trong quá trình triển khai.

Đối với vấn đề công chứng, Phó Thủ tướng giao Bộ Tư pháp trong ngày 28.9 có ý kiến, quan điểm cụ thể đối với các quy định về công chứng, chứng thực trong dự thảo luật.

Về quy định thanh toán cho hợp đồng BT, Phó Thủ tướng thống nhất về nội dung nhưng yêu cầu phải quy định chặt chẽ, bảo đảm không để xảy ra thất thoát tài sản Nhà nước, đồng thời ngăn chặn các sai phạm.

Xem tiếp tại đường Link =>

https://share.google/mcJhUbHRTBrbSmjeh

Quy định mới về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực báo chí

Tại Nghị định 367/2026/NĐ-CP ngày 25/9/2026, Chính phủ đã quy định rõ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực báo chí.

Nghị định này quy định về hành vi vi phạm hành chính; hành vi vi phạm hành chính đã kết thúc và hành vi vi phạm hành chính đang thực hiện; hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả; đối tượng bị xử phạt; thẩm quyền lập biên bản, thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính; việc thi hành các hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả trong lĩnh vực báo chí.

Các hành vi vi phạm hành chính liên quan đến lĩnh vực báo chí không quy định tại Nghị định này thì áp dụng theo quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước có liên quan.

Trong đó, Điều 5 Thông tư này quy định cụ thể về mức phạt tiền và thẩm quyền phạt tiền đối với tổ chức, cá nhân. Theo đó, mức phạt tiền tối đa đối với mỗi hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực báo chí là 500.000.000 đồng đối với tổ chức, 250.000.000 đồng đối với cá nhân.

Mức phạt tiền quy định tại Chương II Nghị định này được áp dụng đối với hành vi vi phạm hành chính của tổ chức, trừ trường hợp quy định tại Điều 12 Nghị định này được áp dụng đối với cá nhân. Đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính, mức phạt tiền đối với cá nhân bằng 1/2 mức phạt tiền đối với tổ chức.

Thẩm quyền phạt tiền của các chức danh có thẩm quyền xử phạt quy định tại Chương III Nghị định này là thẩm quyền phạt tiền áp dụng đối với hành vi vi phạm hành chính của tổ chức; thẩm quyền phạt tiền đối với hành vi vi phạm hành chính của cá nhân bằng 1/2 thẩm quyền phạt tiền đối với tổ chức.

Tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi vi phạm hành chính nhiều lần thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm, trừ hành vi vi phạm quy định tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều 12; khoản 1, điểm e khoản 4 và điểm d khoản 5 Điều 14 Nghị định này thì xử phạt một lần và áp dụng tình tiết tăng nặng.

Việc xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động báo chí trên môi trường điện tử được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 118/2021/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 68/2025/NĐ-CP và Nghị định số 190/2025/NĐ-CP.

Đáng chú ý, Điều 10 Nghị định nêu rõ về việc chuyển hồ sơ đối với những hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự. Theo đó, đối với hành vi vi phạm hành chính quy định tại khoản 8 và khoản 9 Điều 14; khoản 7 Điều 23 Nghị định này, người có thẩm quyền đang thụ lý vụ việc phải chuyển hồ sơ vụ vi phạm đến cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự để xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại các khoản 1, 2 và 4 Điều 62 Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Đối với hành vi vi phạm hành chính quy định tại khoản 4 Điều 12, khoản 3 và khoản 4 Điều 13; điểm c khoản 3, điểm a và điểm c khoản 5, điểm b khoản 6 Điều 14; khoản 4, 5 và 6 Điều 17; khoản 4, 5 và 6 Điều 21; khoản 3 Điều 22; điểm b khoản 6 Điều 23; khoản 5 Điều 25 Nghị định này, khi xem xét hành vi vi phạm có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự thì người có thẩm quyền đang thụ lý vụ việc phải chuyển hồ sơ vụ vi phạm đến cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự để xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại các khoản 1, 2 và 4 Điều 62 Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng hình sự không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì chuyển hồ sơ vụ vi phạm đến người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại khoản 3 Điều 62 Luật Xử lý vi phạm hành chính để xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Nghị định này.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 26/9/2026. Kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành, các quy định chung về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động báo chí tại Chương I, các quy định về hành vi vi phạm hành chính trong hoạt động báo chí, hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả tại Chương II, trừ Điều 20 và quy định về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm quy định tại Chương II, trừ Điều 20 được phân định tại Điều 40a Nghị định số 119/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động báo chí, hoạt động xuất bản và hoạt động in sản phẩm không phải là xuất bản phẩm được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 14/2022/NĐ-CP hết hiệu lực.

Nghị định cũng nêu rõ, đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực báo chí xảy ra và kết thúc trước thời điểm Nghị định này có hiệu lực mà sau đó mới bị phát hiện hoặc đang xem xét, giải quyết thì áp dụng Nghị định của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan có hiệu lực tại thời điểm thực hiện hành vi vi phạm để xử lý.

Xem tiếp tại đường Link =>

https://share.google/ymobO5o01vGC8U3Cy

Đề xuất nhà chưa có sổ đỏ được chuyển nhượng: Cần cơ chế kiểm soát chặt

Theo luật sư, đề xuất cho phép chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà chưa có sổ đỏ có thể tháo gỡ vướng mắc cho người mua nhưng cần cơ chế kiểm soát chặt.

Tháo gỡ vướng mắc cho người mua

Trong dự thảo Luật Kinh doanh bất động sản (sửa đổi) đang lấy ý kiến, Bộ Xây dựng đề xuất bổ sung công trình xây dựng hình thành trong tương lai và nhà ở chưa có giấy chứng nhận (sổ đỏ) cũng được chuyển nhượng hợp đồng mua bán. Phần diện tích sàn xây dựng trong công trình xây dựng có sẵn nhưng chưa có sổ cũng nằm trong phạm vi này.

Trao đổi với Lao Động, luật sư Hoàng Hà - Đoàn Luật sư TP Hồ Chí Minh - nhận định, đề xuất này trước hết nhằm tháo gỡ một khoảng trống khá rõ của pháp luật hiện hành. Khoản 1 Điều 49 Luật Kinh doanh bất động sản 2023 hiện chỉ cho phép chuyển nhượng một số loại hợp đồng, trong đó có hợp đồng mua bán, thuê mua nhà ở hình thành trong tương lai và hợp đồng thuê mua công trình xây dựng có sẵn. Phạm vi này chưa bao quát hết những tình huống phát sinh trên thực tế.

Vướng mắc điển hình là căn hộ đã hoàn thành, đã bàn giao cho người mua nhưng nhiều năm chưa được cấp Giấy chứng nhận. Lúc này, tài sản không còn là nhà ở hình thành trong tương lai để dễ dàng áp dụng cơ chế chuyển nhượng hợp đồng, nhưng người mua lại chưa có Giấy chứng nhận để thực hiện việc chuyển nhượng quyền sở hữu theo cách thông thường. Điều đó khiến một tài sản có giá trị lớn bị hạn chế khả năng lưu thông chỉ vì thủ tục cấp sổ chưa hoàn tất, trong nhiều trường hợp nguyên nhân lại không thuộc về người mua.

Nếu được thông qua, đề xuất sẽ tạo cơ sở pháp lý để người mua chuyển giao quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng cho người khác trong thời gian chưa được cấp Giấy chứng nhận. Qua đó có thể giảm tình trạng các bên phải sử dụng những giải pháp vòng như ủy quyền, đặt cọc hoặc các thỏa thuận dân sự tiềm ẩn tranh chấp.

Tuy nhiên, cần hiểu đây là chuyển nhượng hợp đồng, không phải mặc nhiên công nhận việc mua bán bất động sản không có Giấy chứng nhận. Vì vậy, cơ chế kiểm soát tình trạng pháp lý, thế chấp, tranh chấp và lịch sử chuyển nhượng của hợp đồng phải được thiết kế chặt chẽ để bảo vệ người nhận chuyển nhượng.

Theo luật sư Hoàng Hà, đối với phần diện tích sàn trong công trình có sẵn, đề xuất này có ý nghĩa trong việc bảo vệ quyền định đoạt của người mua. Luật Kinh doanh bất động sản 2023 đã thừa nhận phần diện tích sàn xây dựng là một loại bất động sản được đưa vào kinh doanh. Tuy nhiên, Điều 49 hiện chưa quy định hợp đồng mua bán phần diện tích sàn có sẵn chưa được cấp Giấy chứng nhận thuộc nhóm hợp đồng được chuyển nhượng.

Vì vậy, có trường hợp người mua đã thanh toán, nhận bàn giao và sử dụng thực tế nhưng do chưa được cấp Giấy chứng nhận nên gặp khó khăn khi muốn chuyển giao tài sản cho người khác. Dự thảo đang hướng tới bổ sung chính trường hợp này vào phạm vi hợp đồng được chuyển nhượng.

Việc cho phép chuyển nhượng hợp đồng không đồng nghĩa với việc bỏ qua điều kiện pháp lý của bất động sản. Phần diện tích sàn vẫn phải được xác định rõ công năng, ranh giới sở hữu riêng, sở hữu chung, quyền sử dụng đất gắn với tài sản và khả năng đăng ký quyền sở hữu. Đây là điều kiện quan trọng để tránh việc cơ chế mới trở thành cách hợp thức hóa những phần diện tích vốn không đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận.

Cần cơ chế kiểm soát chặt

Luật sư Hoàng Hà - Đoàn Luật sư TP Hồ Chí Minh -cho biết, nếu mở rộng phạm vi chuyển nhượng thì không nên chỉ mở rộng “quyền được chuyển nhượng”, mà đồng thời phải thiết kế cơ chế kiểm soát tương ứng.

Trước hết, có thể kế thừa các điều kiện tại Điều 50 Luật Kinh doanh bất động sản 2023, hợp đồng gốc phải được xác lập hợp pháp; chưa nộp hồ sơ cấp Giấy chứng nhận; không có tranh chấp đang được cơ quan có thẩm quyền giải quyết; tài sản không bị kê biên, không bị thế chấp, trừ trường hợp bên nhận thế chấp đồng ý.

Xem tiếp tại đường Link =>

https://share.google/W2bLZFJdWaFROdAwf

Nguồn: CafeF; Luật Việt Nam; Lao Động; Luật Sư Việt Nam

Xem thêm:
Về trang trước

Chủ đề:

Bình luận và đánh giá
Gửi nhận xét đánh giá

Đọc nhiều nhất

Bất động sản “lách luật”; Thông báo nhà cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ; Cấp sổ đỏ đất lấn, chiếm; Điểm mới đăng ký kết hôn và khai sinh; Đánh thuế cao “đất bỏ hoang”

Người có bất động sản chú ý; VNeID thay đổi mới; Lưu ý dùng camera, TV, máy giặt, tủ lạnh kết nối Internet; Nộp thuế đất phi nông nghiệp; Định danh tài khoản MXH trên VNeID

Cấp sổ đỏ đất không giấy tờ; Tính thuế hộ kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ; Thông báo người dùng VneID; Mã định danh thuế điện tử mới; Nghỉ hưu sớm không bị giảm 2%

Mã định danh bất động sản; Phạt chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà sai quy định; Chú ý phạt khai báo tạm trú; Người có bảo hiểm xã hội chú ý; Người có sổ đỏ chú ý

Chú ý mức phạt khai báo tạm trú; Quy định cấp đổi sổ đỏ ghi đất “thổ cư”; Gỡ khó cho 4.000 trường hợp bị mạo danh; Điều kiện giảm 50% tiền sử dụng đất; Lỗ hổng thừa kế

Lời khuyên sống ở chung cư; Chú ý mức phạt đăng ký cư trú; Người sử dụng WiFi chú ý; Lời khuyên cho người gửi tiết kiệm; Làm rõ thế nào là đất bỏ hoang

Cấp nhầm sổ đất cho dân; Gỡ tạm hoãn xuất cảnh vì nợ thuế; Đánh thuế 0,2% đất bỏ hoang; Lưu ý mới từ cơ quan Thuế; Tháo gỡ vướng mắc đất đai, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

Sổ đỏ ghi sai mục đích sử dụng; Trả lại đất mua bằng giấy viết tay; Thêm trường hợp thu hồi sổ đỏ; Người có máy tính, laptop chú ý; Bố tặng nhà trên đất ao, con được giảm tiền sử dụng

Lên đầu trang