Mỹ: Kinh tế vẫn khỏe; Tranh cãi tường biên giới nổi; 'Mô hình Israel' ở Ukraine; Cạnh tranh ĐTĐM; Toan tính khi Blinken thăm TQ

“Thể trạng” của kinh tế Mỹ vẫn khỏe mạnh

(Ảnh minh họa).

Từ hàng loạt dữ liệu kinh tế quan trọng giúp đo lường sức khỏe nền kinh tế Mỹ được công bố cho thấy nền kinh tế nước này vẫn tăng trưởng ổn định và lạm phát đã hạ nhiệt.

Điều này cũng khẳng định chính sách tiền tệ thắt chặt của Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) đã phát huy hiệu quả.

Từ tháng 3/2022, FED đã liên tiếp 10 lần tăng lãi suất. Lãi suất cao đã bắt đầu phát huy tác dụng, giúp hạ nhiệt nền kinh tế Mỹ. Lạm phát cũng dần được kiểm soát, từ mức đỉnh 9,1% vào giữa năm ngoái, hiện xuống 3%.

Nhật báo Phố Wall cho biết, lạm phát trong tháng 6 của Mỹ đã hạ nhiệt ở mức thấp nhất trong hơn 2 năm qua. Lạm phát giảm liên tục trong 12 tháng, làm giảm áp lực với ví tiền của người tiêu dùng Mỹ. Tỷ lệ 3% trong tháng 6, thấp hơn với mức 4% của tháng 5.

Giá bán buôn đã tăng ít hơn dự kiến là tín hiệu tích cực cho nền kinh tế Mỹ. Theo CNBC, chỉ số giá sản xuất (PPI) - thước đo lạm phát ở cấp độ bán buôn, trong tháng 6 chỉ tăng 0,1%. Đây là dấu hiệu mới nhất cho thấy lạm phát ở Mỹ đã hạ nhiệt, đồng thời củng cố hy vọng cho các nhà đầu tư rằng FED sắp kết thúc chu kỳ tăng lãi suất.

"Thể trạng" của nền kinh tế Mỹ được đánh giá là vẫn khỏe mạnh dù đang có dấu hiệu giảm tốc. Sức mạnh đó được minh chứng bởi một thị trường lao động đủ sức để hỗ trợ tăng trưởng cho nền kinh tế lớn nhất thế giới hiện nay.

Reuters trích nhận định, cho rằng nền kinh tế Mỹ đã tạo ra ít việc làm hơn trong tháng trước, nhưng mức tăng lương mạnh liên tục, cho thấy thị trường lao động vẫn còn thắt chặt. Tăng trưởng việc làm trung bình hàng tháng trong nửa đầu năm nay là 278.000. Các dữ liệu cho thấy, nền kinh tế Mỹ không gần một cuộc suy thoái vốn đã được dự báo từ lâu.

Tờ Người bảo vệ phân tích, sau 10 lần tăng, FED đã đẩy lãi suất lên mức 5 - 5,25%. Vào tháng 6, Ngân hàng Trung ương Mỹ đã tạm dừng tăng lãi suất để có thời gian xác định tác động của chính sách lãi suất đến nền kinh tế Mỹ. Các dữ liệu kinh tế mới nhất khiến nhiều chuyên gia kinh tế đang đặt cược vào khả năng FED sẽ tăng lãi suất thêm 25 điểm % vào cuối tháng 7. Đó có thể sẽ là lần tăng lãi suất cuối cùng của FED trong năm nay.

'Tường biên giới nổi' của Mỹ gây tranh cãi

Giới chức bang Texas đã lắp đặt rào chắn nổi dọc bờ sông Rio Grande với lập luận rằng chúng sẽ giúp ngăn người nhập cư vượt sông từ Mexico vào Mỹ.

Rào chắn nổi gồm các phao màu cam trải dài 305 mét trên sông và các quan chức cho biết chúng sẽ giúp đảm bảo biên giới Mỹ-Mexico.

Đài BBC (Anh) đưa tin biện pháp này gây nhiều tranh cãi bởi ý kiến cho rằng nó có thể không hiệu quả và gây nguy hiểm cho người nhập cư.

Thông báo về rào chắn nổi được đưa ra lần đầu vào tháng 6. Rào chắn nổi này được neo vào đáy sông Rio Grande thuộc ở khu vực thành phố Eagle Pass, bang Texas, nơi ghi nhận 270.000 người nhập cư bị tạm giữ trong năm tài khóa này.

Thống đốc Texas Greg Abbott trong buổi họp báo mới đây nhấn mạnh: “Chúng tôi mong đợi triển khai mọi giải pháp sẽ hiệu quả trong đảm bảo biên giới”.

Trên Twitter, người phát ngôn của Cơ quan An toàn Công cộng Texas Chris Olivarez cho biết việc lắp đặt rào chắn nổi đã bắt đầu từ ngày 10/7 và dự kiến kéo dài đến 2 tuần.

Phát biểu với các phóng viên vào tháng 6, giám đốc Cơ quan An toàn Công cộng Texas Steven McCraw nói rằng các rào chắn nổi sẽ làm nhụt chí những người di cư qua sông, nơi họ đối mặt với nguy cơ chết đuối hoặc phải được cứu thường xuyên.

Giáo sư Adriana Martinez tại Đại học Nam Illinois, người đã nghiên cứu tác động của các dự án trên Rio Grande nhận định rằng rào chắn nổi có thể thay đổi dòng chảy của sông, gây nguy hiểm hơn cho người di cư băng qua sông.

Bà phân tích: “Chắc chắn nó sẽ khiến nước chuyển động bất ngờ. Không biết được sẽ xảy ra điều gì khi nước dâng cao hơn". Bà Martinez nói thêm rằng cành cây và các mảnh vụn có thể mắc vào lưới hoặc dưới phao, gây nguy hiểm cho người di cư.

Một nhà hoạt động người Nicaragua tại Texas là Justine Ochoa nói rằng rào chắn nổi cũng có thể khiến người di cư tìm đến những khu vực "khắc nghiệt" hơn của dòng sông. Tổ chức mà cô làm việc có tên Texas Nicaraguas, thường xuyên giúp hồi hương hài cốt công dân Nicaragua chết đuối ở Rio Grande.

Vào ngày 7/7, chủ sở hữu của một công ty chuyên tổ chức chèo thuyền kayak ở địa phương đã đệ đơn kiện chính quyền Texas về những chiếc phao trên sông Rio Grande vì cho rằng nó sẽ gây thiệt hại cho công việc kinh doanh của ông và phá hủy hệ sinh thái địa phương.

“Mô hình Israel” là gì và Mỹ sẽ áp dụng với Ukraine như thế nào?

(Ảnh minh họa).

Việc áp dụng “mô hình Israel” với Ukraine vừa có thể gửi thông điệp răn đe mạnh mẽ tới Nga trong khi không khiến Mỹ phải vướng vào một hiệp ước chính thức với Kiev như điều 5 của NATO.

Israel không phải là thành viên NATO và không có hiệp ước phòng thủ chính thức với Mỹ. Tuy nhiên, trong nhiều thập kỷ Mỹ đã coi Israel là “đồng minh lớn ngoài NATO”, ký kết nhiều thỏa thuận hợp tác quốc phòng, đồng thời cung cấp vũ khí tinh vi và viện trợ quân sự hàng tỷ USD cho Israel.

NATO ngày 11/7 tuyên bố một ngày nào đó họ sẽ gửi lời mời Ukraine gia nhập liên minh quân sự này, nhưng không nêu rõ bằng cách nào hoặc khi nào. Hiện tại, NATO vẫn chỉ dừng lại ở việc hỗ trợ Ukraine chống lại Nga với nhiều gói viện trợ khác nhau và các tuyên bố mạnh mẽ ủng hộ Kiev.

Điều này khiến một số nhà phân tích quân sự tranh luận về mối quan hệ của Ukraine với NATO sẽ như thế nào trong tương lai gần và liệu mối quan hệ giữa Israel với Mỹ có thể là một hình mẫu tham khảo hay không.

Mô hình Israel là gì?

Israel không phải là thành viên NATO và không có hiệp ước phòng thủ chính thức với Mỹ. Tuy nhiên, trong nhiều thập kỷ Mỹ đã coi Israel là “đồng minh lớn ngoài NATO”, ký kết nhiều thỏa thuận hợp tác quốc phòng, đồng thời cung cấp vũ khí tinh vi và viện trợ quân sự hàng tỷ USD cho Israel.

Kể từ những năm 1960, các tổng thống Mỹ đều mô tả mối quan hệ Mỹ-Israel dưới góc độ hỗ trợ chặt chẽ và hợp tác sâu sắc, giống như “mối quan hệ đặc biệt” giữa Anh và Mỹ. Điều đó đã dẫn đến sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan tình báo Mỹ và Israel, đồng thời giúp Israel phát triển quân đội có công nghệ tiên tiến nhất thế giới.

Mặc dù viện trợ quân sự của Mỹ thường đòi hỏi phải mua vũ khí do Mỹ sản xuất, nhưng Israel cũng được phép sử dụng một phần số tiền đó để mua vũ khí của các nhà sản xuất trong nước, góp phần giúp ngành công nghiệp quốc phòng nước này phát triển mạnh mẽ.

Mỹ đã cung cấp cho Israel những khoản tiền lớn trong những năm qua. Năm 2016, quốc hội Mỹ thông qua thỏa thuận hỗ trợ an ninh 10 năm trị giá 38 tỷ USD cho đến năm 2028.

Chính quyền Tổng thống Joe Biden đã gửi hơn 41 tỷ USD viện trợ quân sự cho Ukraine kể từ khi xung đột với Nga vùng phát, vượt xa số tiền hỗ trợ an ninh cho Israel.

Mô hình Israel sẽ áp dụng cho Ukraine như thế nào?

Viện trợ quân sự của Mỹ cho Ukraine đến nay được phân bổ trên cơ sở không dự tính trước. Ông Grant Rumley, thành viên Viện Chính sách Cận Đông đã so sánh điều này với việc “cố gắng chế tạo một chiếc máy bay khi nó đang ở trên không”.

Nếu theo mô hình Israel, quốc hội Mỹ có thể thông qua một thỏa thuận viện trợ quân sự dài hạn giúp Ukraine xây dựng quân đội trong nhiều năm, thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp quốc phòng Ukraine bằng cách cho phép Kiev mua vũ khí từ các nhà sản xuất trong nước.

Theo ông Rumley, một mối quan hệ như vậy sẽ gửi thông điệp răn đe mạnh mẽ tới Nga trong khi không khiến Mỹ phải vướng vào một hiệp ước chính thức. Quan trọng hơn cả, Mỹ sẽ tránh được một điều khoản như Điều 5 của NATO, trong đó tuyên bố rằng một cuộc tấn công chống lại một quốc gia thành viên là một cuộc tấn công chống lại tất cả các thành viên còn lại.

Một số người cho rằng mô hình Israel sẽ không thể ngăn cản Nga tiếp tục chiến dịch quân sự đặc biệt ở Ukraine. Giải pháp hiệu quả duy nhất là Ukraine trở thành thành viên NATO.

“Nếu cộng đồng xuyên Đại Tây Dương áp dụng mô hình Israel với Ukraine, Kiev sẽ bị bỏ rơi trong vùng xám của sự bất an”, ông Ian Brzezinski, thành viên cấp cao tại Hội đồng Đại Tây Dương nhận định.

Các nhà lãnh đạo của Mỹ và phương Tây, trong nỗ lực tránh xung đột toàn diện với Nga, đã nói rằng Ukraine chỉ có thể trở thành thành viên NATO khi xung đột kết thúc.

Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky ngày 12/7 cho biết ông hiểu lý do Kiev không thể gia nhập NATO vào lúc này.

Mối quan hệ giữa Mỹ với Israel và Ukraine có gì khác biệt?

Mối quan hệ của Mỹ với Israel nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của lưỡng đảng trong quốc hội Mỹ suốt nhiều thập kỷ. Tuy nhiên, không rõ các nhà lập pháp Mỹ sẽ đồng ý viện trợ quân sự cho Ukraine để chống lại Nga trong bao lâu.

Cho đến nay, cả đảng Dân chủ và đảng Cộng hòa đều ủng hộ viện trợ hàng tỷ USD cho Ukraine, nhưng đã có dấu hiệu cho thấy sự bất đồng giữa một số thành viên đảng Cộng hòa.

Israel và Ukraine có sức mạnh quân đội khác nhau và cũng phải đối mặt với những mối đe dọa rất khác nhau.

Israel sở hữu quân đội hùng mạnh, vũ khí tiên tiến và kho vũ khí hạt nhân; trong khi Ukraine xây dựng lại quân đội từ kho dự trữ của Liên Xô và nước này đã từ bỏ vũ khí hạt nhân vào những năm 1990.

Mối đe dọa của Israel là các chiến binh Palestine không được trang bị hiện đại hay một Iran tinh vi hơn – nhưng không phải là một cường quốc được trang bị vũ khí hạt nhân.

Chưa rõ mối quan hệ theo mô hình Israel sẽ mang lại cho Mỹ bao nhiêu ảnh hưởng trong các chính sách của Ukraine. Bất chấp mối quan hệ chặt chẽ giữa hai nước, giới nhà lãnh đạo Mỹ có những khó khăn nhất định trong việc gây ảnh hưởng đến chính sách của Israel về vấn đề như khu định cư ở Bờ Tây.

Lời khuyên từ Israel

Các chuyên gia an ninh Israel cho rằng Kiev nên hướng tới việc có được tất cả những lợi ích mà Mỹ đã dành cho Israel trong nhiều năm, nhưng phải tìm cách có được điều đó càng sớm càng tốt. Thực tế, mức độ hợp tác giữa Israel và Mỹ hiện nay đã được kết tinh qua nhiều thập kỷ chứ không phải ngày một ngày hai.

Mặt khác, Ukraine cũng nên sử dụng các biện pháp đảm bảo an ninh (nếu có) một cách hợp lý và không vượt qua các lằn ranh đỏ mà Mỹ vạch ra. Cần phải hiểu rằng Mỹ có thể sử dụng các đảm bảo an ninh không chỉ như một “củ cà rốt” mà còn như một “cây gậy”.

Khi Israel được nhận máy bay chiến đấu F-16 vào đầu những năm 1980, họ đã ngay lập tức tiến hành các tiến hành không kích phá hủy lò phản ứng hạt nhân Osirak của Iraq. Mỹ đã chặn giao hàng đợt tiếp theo trong hơn một năm.

Khi Israel bắt đầu đàm phán các hợp đồng quốc phòng với Trung Quốc vào đầu những năm 2010, điều đó đã khiến Mỹ vô cùng giận dữ. Washington đã đóng cửa mọi thỏa thuận an ninh trong vài năm, áp đặt các biện pháp kiểm soát xuất khẩu nghiêm ngặt đối với Israel.

Mô hình Israel không thể thay thế giải pháp gia nhập NATO đối với Ukraine. Nhưng Kiev cần phải hiểu rằng việc được đảm bảo an ninh sẽ tốt hơn là không có gì.

Trung - Mỹ chạy đua cạnh tranh thị phần điện toán đám mây ở Đông Nam Á

Cuộc cạnh tranh điện toán đám mây (ĐTĐM) giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ phụ thuộc vào các công ty hàng đầu trong lĩnh vực này.

ĐTĐM của các công ty Hoa Kỳ đã hình thành một chuỗi công nghiệp hoàn chỉnh, trong khi Trung Quốc vẫn thiếu các mắt xích chính như chip và máy chủ, hệ sinh thái chuỗi công nghiệp vẫn trong giai đoạn hoàn thiện.

Tình hình chung về ĐTĐM toàn cầu

Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản, Đức, Pháp, Hàn Quốc đã tăng cường đầu tư vào ĐTĐM trong những năm gần đây. Với làn sóng số hóa đang diễn ra trên phạm vi toàn cầu và tình hình an ninh mạng có diễn biến phức tạp, cạnh tranh giữa các cường quốc ĐTĐM ngày càng gay gắt.

Năm 2022, chính phủ Nhật Bản liệt kê các dịch vụ ĐTĐM là "yếu tố quan trọng" liên quan đến an ninh quốc gia và sẽ củng cố "đám mây nội địa" trong nước. Đây không phải là quốc gia đầu tiên coi ĐTĐM là yếu tố chiến lược. Ở cấp độ Liên minh châu Âu (EU), việc phát triển và thúc đẩy công nghệ ĐTĐM đã được đưa vào "Chiến lược châu Âu 2020" và là một phần quan trọng của "Chương trình nghị sự kỹ thuật số châu Âu". Các quốc gia lớn của EU như Pháp, Đức đã tăng cường nỗ lực ĐTĐM của riêng họ.

Xét về tổng thể, các nhà cung cấp ĐTĐM của Hoa Kỳ đã tiến rất xa. ĐTĐM của Hoa Kỳ bắt đầu sớm nhất, do đó đã tích lũy được lợi thế trước các quốc gia khác, đồng thời cũng tập hợp được một lượng lớn các công ty công nghệ ĐTĐM chất lượng cao. Sự trưởng thành của các sản phẩm và công nghệ ĐTĐM Hoa Kỳ tương đối cao. Dù là về doanh thu, thị phần hay ảnh hưởng của ĐTĐM toàn cầu, các công ty ĐTĐM Hoa Kỳ đều có lợi thế của người đi đầu.

Trong thị trường hạ tầng như là một dịch vụ (Infrastructure as a Service - IaaS) và nền tảng như là một dịch vụ (Platform as a Service - PaaS) trên đám mây công cộng (public cloud), những gã khổng lồ như Amazon, Microsoft, Google và IBM đã xuất hiện. Trong thị trường phần mềm như là một dịch vụ (Software as a Service - SaaS), các công ty như Salesforce, Microsoft, Google và Oracle cũng rất mạnh. Theo dữ liệu quý 2 năm 2021 do Synergy Research công bố, ba gã khổng lồ ĐTĐM lớn là Amazon, Microsoft và Google chiếm 63% thị phần toàn cầu về IaaS và PaaS; thị phần của các nhà cung cấp dịch vụ ĐTĐM khác của Hoa Kỳ như IBM, Salesforce và Oracle cũng đứng trong top 10 thế giới.

So với các nhà cung cấp đám mây Hoa Kỳ, các nhà cung cấp đám mây Trung Quốc vươn ra nước ngoài khó khăn hơn. Ngoại trừ việc Alibaba Cloud chiếm khoảng 7,4% thị trường ĐTĐM toàn cầu, các nhà cung cấp khác như Tencent Cloud, Huawei Cloud, Baidu Cloud,... không có nhiều thị trường bên ngoài lãnh thổ Trung Quốc.

Sự phát triển ĐTĐM của Trung Quốc

Tại Trung Quốc, công nghệ và thị trường ĐTĐM phát triển khá nhanh. Sau khi thị trường này được kích hoạt bởi Alibaba Cloud vào năm 2010, Tencent Cloud, Huawei Cloud và các công ty đám mây khác đã đổ vào đầu tư. Tuy nhiên trong bối cảnh đó, các công ty nước ngoài vẫn không thể thâm nhập vào thị trường nội địa Trung Quốc.

Việc mở rộng ra nước ngoài của đám mây Trung Quốc khởi đầu từ năm 2017. Vào thời điểm đó, các nhà cung cấp đám mây Trung Quốc nhắm đến ba thị trường lớn là Hoa Kỳ, Châu Âu và Đông Nam Á (ASEAN). Cách tiếp cận là mở các trung tâm dữ liệu (TTDL) tại các nút quan trọng trên toàn cầu. Thị trường châu Âu và châu Mỹ từng được coi là chìa khóa để các công ty đám mây Trung Quốc vươn ra nước ngoài, do hai thị trường này đã trưởng thành và nhu cầu của khách hàng lớn. Nếu các nhà cung cấp đám mây được công nhận ở các thị trường cao cấp ở châu Âu và châu Mỹ, cũng có nghĩa là việc mở các thị trường khác như Đông Nam Á, Trung Đông và châu Phi sẽ dễ dàng hơn nhiều.

Những thay đổi trong môi trường thương mại sau năm 2018 đã ảnh hưởng đến tốc độ vươn ra nước ngoài của các nhà cung cấp dịch vụ đám mây Trung Quốc. Năm 2018, Quy định chung về bảo vệ dữ liệu (GDPR) của EU có hiệu lực, theo đó có quy định chặt chẽ hơn đối với dữ liệu xuyên biên giới và dữ liệu nhạy cảm. Môi trường chính trị quốc tế cũng là một yếu tố ảnh hưởng khác. Năm 2021, Hoa Kỳ yêu cầu Tiktok video của ByteDance ngừng sử dụng Alibaba Cloud ở nước này với lý do “TikTok có thể đe dọa an ninh quốc gia”, …

Khi các nền kinh tế lớn như EU, Nhật Bản đã đề xuất các chiến lược ĐTĐM của riêng họ, cùng với mức độ kiểm soát của Hoa Kỳ, không có nhiều cơ hội cho các nhà cung cấp đám mây Trung Quốc thể hiện sức mạnh của họ. Các thị trường lớn trên thế giới đang bị các nhà sản xuất ĐTĐM của Hoa Kỳ chiếm lĩnh, nhưng ĐTĐM của Trung Quốc không phải là không có cơ hội. Bốn khu vực và quốc gia sau được sử dụng làm hướng chính để ĐTĐM Trung Quốc tiếp tục vươn ra nước ngoài gồm: Châu Phi (Châu Phi nói chung vẫn còn lạc hậu, nhưng cơ sở hạ tầng ICT ở một số khu vực đã tăng nhanh chóng và nhiều quốc gia có quan hệ chính trị thân Trung Quốc), các nước ASEAN láng giềng với Trung Quốc, các nước xã hội chủ nghĩa (Triều Tiên, Cu Ba), các thị trường mới nổi (Nga, Brazil).

Trong nhiều năm, Đông Nam Á là điểm dừng chân đầu tiên để các nhà cung cấp đám mây Trung Quốc vươn ra nước ngoài. Từ năm 2020, dịch COVID-19 bùng phát, tốc độ cung cấp đám mây Trung Quốc ở Đông Nam Á bị chậm lại. Tuy nhiên, sự cạnh tranh ở thị trường trong nước (Trung Quốc) ngày càng gay gắt và thị trường châu Âu, châu Mỹ khó khăn hơn thì các nhà cung cấp đám mây Trung Quốc tìm cách thâm nhập sâu hơn vào thị trường Đông Nam Á.

Đám mây Trung Quốc tại thị trường Đông Nam Á

Theo dữ liệu từ IDC, năm 2021, thị trường dịch vụ đám mây công cộng ở Đông Nam Á dự kiến tăng trưởng và đạt 11 tỷ USD vào năm 2025, với tốc độ là 21,5% hàng năm. Theo dữ liệu do công ty nghiên cứu thị trường Twimbit công bố tháng 9/2021, Amazon (AWS) chiếm 43%, Microsoft (Azure) chiếm 22%, Google chiếm 18%, Alibaba Cloud chiếm 7% thị phần IaaS trên đám mây công cộng ở Đông Nam Á; Huawei Cloud vẫn chưa lọt vào top đầu. Thị phần chung của Huawei Cloud ở Đông Nam Á thấp hơn so với Alibaba Cloud, nhưng cũng chiếm được ưu thế ở một số thị trường riêng lẻ (Theo Gartner, thị phần của Huawei Cloud về IaaS trên nền tảng đám mây công cộng ở Thái Lan năm 2021 chiếm 29,4%).

Theo Statista, năm 2022 thị trường đám mây công cộng IaaS/PaaS/SaaS của Đông Nam Á đạt 7,4 tỷ USD, bằng 21% thị trường nội địa Trung Quốc (35,3 tỷ USD). Về quy mô thị trường của từng quốc gia, Singapore lớn nhất với 3,04 tỷ USD, Indonesia 1,07 tỷ USD, Thái Lan 1,01 tỷ USD, Malaysia 960 triệu USD, Philippines 680 triệu USD, Việt Nam 436 triệu USD, Malaysia 400 triệu USD, và Myanmar 120 triệu USD, Campuchia, Brunei và Lào dưới 100 triệu USD [1].

Sáng kiến ​​“Vành đai - Con đường” (BRI) đã thúc đẩy các doanh nghiệp (DN) Trung Quốc xây dựng cơ sở hạ tầng ở các nước ASEAN, trong đó có hạ tầng số. Với dân số 580 triệu người, số người sử dụng Internet vượt 420 triệu (chiếm 72%) cho thấy nhu cầu về đám mây của Đông Nam Á sẽ rất lớn. Hiện tại, các quốc gia như Singapore, Indonesia, Thái Lan, Malaysia, Myanmar, Campuchia, Lào đều có các dự án kỹ thuật số quan trọng của chính phủ và DN mà các công ty Trung Quốc tham gia.

Ví dụ, Huawei Cloud cung cấp dịch vụ cho tàu điện ngầm Singapore và Tập đoàn dầu khí Thái Lan; Alibaba Cloud cung cấp cho Viễn thông quốc gia Thái Lan và Cơ quan Nhà ở công cộng Indonesia. Một số tổ chức tài chính lớn và DN tư nhân ở Đông Nam Á cũng hợp tác với các nhà cung cấp đám mây Trung Quốc, ví dụ: Singapore Post, AirAsia Malaysia, Binangonan Rural Bank (Philippines) đã chọn Alibaba Cloud, trong khi Thai Merchant Bank Group và Cambodia Airlines đã chọn Huawei Cloud.

Alibaba Cloud hiện có 10 TTDL tại 5 thành phố (Singapore, Bangkok, Manila, Jakarta, Kuala Lumpur). Huawei Cloud đã mở 7 TTDL tại 2 thành phố (Singapore, Bangkok), Tencent Cloud đã mở 8 trung tâm dữ liệu tại 3 thành phố (Singapore, Bangkok, Jakarta). Alibaba Cloud có nhiều lợi thế đối với hợp tác kinh tế tư nhân, các công ty công nghệ và DN nhỏ và vừa ở Đông Nam Á. Huawei thâm nhập Đông Nam Á theo logic "5G + đám mây + hạ tầng kỹ thuật số", một mặt hợp tác với chính phủ các nước Đông Nam Á để xây dựng các dự án tiêu chuẩn. Mặt khác, đưa các nhà sản xuất phần mềm Trung Quốc ra nước ngoài và hợp tác với các công ty tư vấn và dịch vụ CNTT tin bản địa.

Các sản phẩm gọi xe trực tuyến, giao đồ ăn, thương mại điện tử (TMĐT), thanh toán di động, phát sóng trực tuyến ở Đông Nam Á thường sử dụng dịch vụ đám mây của Trung Quốc. Ví dụ khách hàng của Alibaba Cloud gồm có Lazada (công ty TMĐT), Redmart (công ty bán lẻ thực phẩm của Singapore), Yippi (nền tảng xã hội ở Malaysia), Silot (nền tảng xã hội ở Indonesia),… Khách hàng của Huawei Cloud gồm có MeOne (công ty TMĐT), GetRide (một nền tảng gọi taxi ở Myanmar),... Alibaba Cloud có nhiều khách hàng liên quan đến trí tuệ nhân tạo (AI), chẳng hạn như công ty WIZ.AI (trụ sở tại Singapore, chuyên về AI bằng giọng nói), DeepIR (chuyên về AI) và CYBERhythm (chuyên về bảo mật).

Trên thực tế, các công ty Trung Quốc có lợi thế so sánh ở Đông Nam Á, trong đó giá cả là lợi thế cốt lõi. Các công ty Trung Quốc có mức giá thấp hơn so với các nhà cung cấp châu Âu và Mỹ như Amazon AWS, Microsoft Azure, Google GCP, SAP, Salesforce,… Sự khác biệt về giá đến từ 3 khía cạnh là sản phẩm, chi phí nhân công và dịch vụ sau bán hàng.

Đối với các sản phẩm có cùng thông số kỹ thuật, giá của Alibaba Cloud thường thấp hơn 25% so với giá của các công ty như AWS. Chi phí nhân sự giao hàng và hậu mãi của các công ty Trung Quốc thấp hơn nhiều so với các kỹ sư châu Âu và Mỹ. Các nhà sản xuất phần mềm trưởng thành ở châu Âu và Hoa Kỳ tính phí dịch vụ sau bán hàng theo giờ, rất đắt đỏ. Các công ty Trung Quốc cung cấp dịch vụ hậu mãi với chi phí tương đối thấp, được khách hàng Đông Nam Á đón nhận.

Tín hiệu từ Mỹ

Việc nới lỏng kiểm soát dịch bệnh đã thúc đẩy các nhà cung cấp đám mây Trung Quốc tăng tốc đầu tư vào thị trường Đông Nam Á. Theo một báo cáo trên trang web của "Tạp chí Phố Wall" ngày 14/2/2023, các công ty ĐTĐM của Hoa Kỳ đang phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt từ các đối thủ Trung Quốc ở Đông Nam Á. Mặc dù Amazon, Microsoft vẫn chiếm ưu thế về thị phần, nhưng các công ty Trung Quốc đã thâm nhập các thị trường mới nổi như Thái Lan và Indonesia trước các đối thủ Hoa Kỳ.

Alibaba, Huawei và Tencent của Trung Quốc đang lên kế hoạch đầu tư hàng trăm triệu USD vào Đông Nam Á trong vài năm tới. Tại những thị trường này, các công ty Trung Quốc cung cấp sản phẩm với giá thấp hơn so với các đối tác Hoa Kỳ. Giá của các sản phẩm khác nhau của các công ty dịch vụ đám mây Trung Quốc thường thấp hơn từ 20% đến 40% so với các công ty Hoa Kỳ, giúp các công ty Trung Quốc mở rộng ở Đông Nam Á, nơi có nhiều khách hàng là các DN nhỏ và vừa [2].

Trước sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt đến từ các công ty đám mây Trung Quốc, các công ty Hoa Kỳ cũng có kế hoạch tăng cường đầu tư vào khu vực này. Amazon đã thông báo rằng họ sẽ đầu tư 5 tỷ USD mỗi nước vào Thái Lan và Indonesia trong vòng 15 năm để tăng cường các TTDL và cơ sở hạ tầng đám mây khác ở hai quốc gia này. Năm ngoái, Google cũng đã tiết lộ kế hoạch xây dựng các TTDL ở Malaysia và Thái Lan, đồng thời hỗ trợ các dự án chính phủ số ở Singapore và Indonesia.[3]

Tiểu kết

Đông Nam Á đã trở thành thị trường hấp dẫn để các nhà cung cấp dịch vụ đám mây toàn cầu đầu tư nhờ cơ hội kiếm lợi nhuận, sự hỗ trợ và thúc đẩy mạnh mẽ của chính phủ các nước ASEAN cũng như quy mô thị trường lớn. Các công ty Trung Quốc bao gồm Alibaba, Tencent và Huawei đang tăng tốc triển khai ở Đông Nam Á để giành thị phần từ các công ty Hoa Kỳ. Điều này đã thu hút sự chú ý của người Mỹ, thúc đẩy Amazon, Google và các công ty khác tiếp tục chi hàng tỷ USD để thúc đẩy xây dựng các TTDL, cố gắng kiểm soát thị trường khỏi bị chia cắt. Cấu trúc thị trường ĐTĐM toàn cầu nói chung, ở khu vực Đông Nam Á nói riêng sẽ phát triển như thế nào trong tương lai và liệu sự thống trị của Hoa Kỳ có thể bị lung lay hay không cần được tiếp tục theo dõi.

Mỹ lộ tính toán trước khi Ngoại trưởng Blinken thăm Bắc Kinh

(Ảnh minh họa).

Chính quyền của Tổng thống Mỹ Joe Biden tin rằng các tin tặc Trung Quốc đã đột nhập vào hệ thống email của Chính phủ Mỹ, bao gồm cả Bộ Ngoại giao, vì thế đã giúp Bắc Kinh hiểu sâu về suy tính của Washington trước khi Ngoại trưởng Antony Blinken thăm Bắc Kinh vào tháng 6 vừa qua.

Microsoft cho biết, đợt tấn công tin tặc diễn ra vào giữa tháng 5, bị Bộ Ngoại giao Mỹ phát hiện gần thời điểm Ngoại trưởng Blinken sắp thăm Bắc Kinh, các quan chức cho biết.

Có thông tin nói rằng đợt tấn công tin tặc giúp Trung Quốc tiếp cận thông tin trước thềm chuyến thăm quan trọng mà giới chức Mỹ hy vọng sẽ khởi đầu tiến trình cài đặt lại quan hệ sau nhiều tháng căng thẳng. Tuy nhiên, điều này không khiến giới chức Mỹ sốc, vì tất cả đều biết rằng hai siêu cường luôn tìm cách theo dõi trao đổi của nhau.

Giới chức Mỹ luôn gọi Trung Quốc là đối thủ mạnh nhất của Mỹ trong không gian mạng. Đây là một trong những vấn đề gây căng thẳng giữa hai quốc gia trong những năm gần đây. Cục Điều tra liên bang Mỹ (FBI) cho rằng Bắc Kinh có một chương trình tin tặc lớn hơn tất cả các chính phủ khác gộp lại.

Bắc Kinh luôn bác bỏ những cáo buộc như vậy.

Trung Quốc lâu nay vẫn cáo buộc các cơ quan tình báo Mỹ do thám họ. Những tài liệu mật mà Edward Snowden, nhân viên hợp đồng của Cơ quan an ninh quốc gia Mỹ (NSA), tiết lộ cách đây 1 thập kỷ cho thấy NSA có nhiều nỗ lực nhằm thâm nhập vào thiết bị viễn thông của Huawei để theo dõi các mục tiêu tình báo.

Một quan chức Mỹ cho biết Washington sẽ không “đi vào chi tiết” về mức độ vụ do thám được nêu khi ông Blinken gặp nhà ngoại giao Trung Quốc Vương Nghị tại Bắc Kinh, cũng như không cho biết phản ứng của hai bên.

“Chúng tôi luôn nói rằng bất kỳ hành động nào nhắm vào Chính phủ Mỹ, các công ty Mỹ, công dân Mỹ, đều là mối quan tâm sâu sắc đối với chúng tôi và chúng tôi sẽ có hành động thích hợp để buộc những người chịu trách nhiệm phải chịu trách nhiệm và bộ trưởng đã nói rõ điều đó nhiều lần”, vị quan chức cho biết.

Nguồn: VTV; Báo Tin Tức; CafeF; ICT Vietnam; Soha


Xem thêm:
Về trang trước

Chủ đề:

Bình luận và đánh giá
Gửi nhận xét đánh giá

Đọc nhiều nhất

Việt Nam: Đề nghị kỷ luật Sử Ngọc Anh; Cáp treo mới 16.234 tỷ; Thiên đường nghỉ dưỡng; Cựu Phó TGĐ Ngân hàng VNCB trốn truy nã; Đấu giá biệt thự Chủ tịch AIC

Việt Nam: Ngọc nữ lọt top mỹ nhân đẹp nhất thế giới; Đường dây rửa tiền xuyên quốc gia; Quy hoạch công viên Thủ Lệ; Thánh đường 5.000 người trước ngày khánh thành

Việt Nam: EU đưa ra khỏi danh sách quốc gia không hợp tác thuế; Phải khai báo trường hợp chuyển khoản sau; Top quốc gia được yêu thích nhất; Xác minh giao dịch 300 triệu

Người Việt hải ngoại: Mỹ nhân mở tiệc 3 ngày 3 đêm ở Mỹ; Du học sinh tốt nghiệp ở Bắc Kinh, về quê làm khu công nghiệp; Đại hội Phụ nữ vùng Kansai, Nhật Bản

Việt Nam: Lãi suất ngân hàng 12/10; Khách sạn lọt top 3 tốt nhất Đông Nam Á; Chung cư 90 triệu đồng/m2; Chuyển trái phép 900 tỷ ra nước ngoài; Ngân hàng bán bất động sản xử lý nợ

Người Việt hải ngoại: Nữ chuyên gia có 200 bằng sáng chế; Nữ Tổng Quản Lý Marriott International; phát triển trạm sạc nhanh tại Mỹ; Cựu Phó Thủ tướng Đức vào HĐQT Chứng khoán HD

Việt Nam: Giá vàng hôm nay; Điều chỉnh quy hoạch đô thị sông Hồng; Xử lý 18 000 căn hộ sai quy hoạch; Shark Thủy bị truy tố lần 2; Hộ kinh doanh “đứng tên” bị hoãn xuất cảnh

Người Việt hải ngoại: Cộng đồng người nước ngoài lớn thứ hai tại Nhật; Bà chủ chuỗi nhà hàng ở Bỉ; Techcombank triển khai giải pháp nhận tiền quốc tế; Cùng chồng Đức bỏ phố về quê

Lên đầu trang