Mỹ: Chia rẽ vì quy định buộc đeo khẩu trang; Ẩn số chính sách lãi suất; Hành lang kết nối; Con nợ lớn nhất thế giới

Người Mỹ có quan điểm trái chiều khi các quy định bắt buộc đeo khẩu trang quay trở lại trong bối cảnh số ca nhiễm COVID-19 tăng

(Ảnh minh họa).

Một số trường học và công ty tư nhân đã khôi phục quy định bắt buộc đeo khẩu trang khi số ca nhiễm và số ca nhập viện tiếp tục gia tăng trên khắp đất nước, gây ra sự chia rẽ trong cộng đồng về cách hạn chế sự lây lan của virus corona.

Theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh (CDC), chỉ trong tuần qua số ca nhập viện vì COVID-19 đã tăng gần 16%.

Hồi cuối tháng Tám, tại tiểu bang Alabama, trường Trung học Cơ sở Kinterbish đã ban hành quy định bắt buộc đeo khẩu trang cho học sinh, nhân viên, và khách do COVID-19, và ngay trong tuần này, trường Tiểu học Rosemary Hills ở Silver Spring, Maryland, đã ban hành quy định đeo khẩu trang trong 10 ngày, sau khi ba người ở trường có kết quả xét nghiệm dương tính với virus.

“Lúc nào cũng bắt đầu như vậy, như một quy định tạm thời ‘15 ngày để [làm chậm sự lây lan],” bà Kyle Wilkens, một người mẹ ở Silver Spring, nói với The Epoch Times. “Tôi không thể chịu đựng chuyện này nữa, con tôi sẽ không đeo khẩu trang đến trường.”

Bà Wilkens tin rằng quy định này sẽ được gia hạn, mặc dù sẽ hết hạn vào ngày 15/09.

“Giới truyền thông đang làm phần việc phao tin đồn nhảm của họ. Giờ đây, họ đang cố gắng xoa dịu chúng ta bằng những hướng dẫn và yêu cầu rải rác về khẩu trang ở chỗ này chỗ kia. Chúng ta đã biết từ trước rằng tình trạng này sẽ còn tiến triển nữa.”

Những người khác trong vùng này tin rằng quy định đeo khẩu trang tạm thời là một ý tưởng hay để ngăn chặn sự lây truyền của virus corona trong cộng đồng.

Bà Marlene Tay ở Quận Montgomery, Maryland, nói với The Epoch Times rằng, “Tốt hơn hết là cứ quanh quẩn ở nhà trong 10 ngày hơn là quanh quẩn ở nhà mà cảm thấy khổ sở.”

“Hồi năm ngoái, cả nhà chúng tôi đều đã nhiễm COVID sau một số ca bệnh ở trường học. Thật là lạ lùng vì con gái chúng tôi vẫn khỏe trong khi chúng tôi cảm thấy không khỏe. Tôi chắc sẽ bị bệnh sớm thôi. Hàng xóm của chúng tôi vừa bị lần thứ ba cách đây vài tuần. Tất cả bọn trẻ đều bị sốt và đau họng mặc dù thông thường triệu chứng đó không phải là COVID.”

Ở các vùng khác của đất nước, quy định đeo khẩu trang cũng đã được ban hành và đã được dỡ bỏ. Đại học Morris Brown ở Atlanta, Georgia, đã chấm dứt quy định đeo khẩu trang sau hai tuần. Hãng phim Lionsgate và Kaiser Permanente ở California cũng vậy sau khi quy định được ban hành trong thời gian ngắn.

“Ơn Chúa! [Cho] tôi được sống ở Florida,” bà Tammy Contreraz ở Vịnh Tampa nói với The Epoch Times. “Tôi không phải đối mặt với tất cả những quy tắc khó hiểu theo quy định này.”

Các quan chức y tế chia rẽ về việc đeo khẩu trang

CDC đã đưa ra một số khuyến nghị về việc đeo khẩu trang theo quận dựa trên tỷ lệ nhập viện, phân loại mức độ nhập viện theo màu xanh lục, vàng, và đỏ (thấp, trung bình, và cao).

Nếu tỷ lệ nhập viện vì COVID ở mức vàng (trung bình) hoặc đỏ (cao), khi có 10 đến hơn 20 ca nhập viện mới trên 100,000 người trong một quận, CDC khuyến nghị nên đeo khẩu trang khi ở trong nhà hoặc ở nơi công cộng.

Ông Santiago Mercado, Y tá Phòng Cấp cứu tại Bệnh viện Elmhurst ở Queens, New York, nói với The Epoch Times rằng, “Tôi nghĩ đó là hướng dẫn thông minh, khẩu trang có hiệu quả trong việc hạn chế mọi mầm bệnh trong không khí nhưng chỉ khi được đeo thường xuyên, đặc biệt là ở những nơi đông người và khu vực tiếp xúc gần.”

“Tôi không biết mọi người sẽ tuân thủ chặt chẽ theo hướng dẫn này đến mức nào, nhưng việc đeo khẩu trang hoàn toàn có thể bảo vệ mọi người và giảm được những trường hợp tử vong có thể tránh được.”

Ông Mercado đã làm việc tại phòng săn sóc đặc biệt tại các bệnh viện trên khắp khu vực Thành phố New York trong trận đại dịch năm 2020 và đã chứng kiến ​​Covid có thể lây lan nhanh như thế nào — khiến các cơ sở săn sóc sức khỏe chật kín.

“Giống như một đám cháy rừng; rất nhiều người tử vong mỗi ngày. Tôi ủng hộ bất cứ điều gì chúng ta có thể làm để ngăn chặn điều đó xảy ra lần nữa,” ông nói.

Các chuyên gia chăm sóc sức khỏe có quan điểm ngược lại thì không đồng ý và nói rằng việc đeo khẩu trang không có lợi ích đáng kể nào trong việc phòng tránh lây nhiễm virus corona.

“Dữ liệu của chính CDC tiết lộ rằng những người đeo khẩu trang có tỷ lệ nhiễm COVID tương đương với những người không đeo khẩu trang,” theo một phân tích từ tổ chức America’s Frontline Doctors đăng trên trang web của họ.

“Có 85% những người bị nhiễm COVID đã đeo khẩu trang một phần hoặc toàn bộ thời gian trước khi nhiễm bệnh. Thực tế, vô số khu vực bắt buộc phải đeo khẩu trang đã chứng kiến số ca nhiễm bệnh gia tăng trong thời gian thực thi quy định này. Một nghiên cứu ngẫu nhiên, có kiểm soát quan trọng về việc đeo khẩu trang hàng loạt trong đợt bùng phát COVID, đã kết luận rằng việc đeo khẩu trang không có tác dụng đáng kể trong việc lây lan virus.”

Tổ chức này tiếp tục trình bày rằng ngay cả khi khẩu trang có hiệu quả, thì việc đeo khẩu trang liên tục vẫn có những tác động tiêu cực, chẳng hạn như “giảm lượng oxy hấp thụ, đau đầu, Hội chứng kiệt sức do đeo khẩu trang (MIED), giảm tải lượng vi trùng miễn dịch và kích ứng da.”

Cách ứng phó của các Thống đốc về quy định bắt buộc đeo khẩu trang

Cho đến nay, không có quy định bắt buộc về đeo khẩu trang trên toàn đất nước, mặc dù tại New York, Thống đốc Kathy Hochul (Dân Chủ) đã loan báo kế hoạch phân phát khẩu trang N-95 và KN-95 cho các trường học vào mùa thu này nhưng không bắt buộc sử dụng.

“Nhờ sự tận tụy của các trường học, giáo viên, và các bậc cha mẹ ở New York, chúng tôi đã đi được một chặng đường dài để bảo đảm học sinh có thể trở lại lớp học một cách an toàn,” bà Hochul cho biết. “Xét nghiệm COVID-19 thường xuyên là một phần quan trọng trong việc giữ an toàn cho con em của chúng ta và ngăn chặn dịch bệnh bùng phát, và tôi sẽ tiếp tục làm việc để bảo đảm các học khu của chúng ta có các nguồn lực cần thiết để mang lại môi trường học tập trực tiếp an toàn cho học sinh của chúng ta.”

Ở Mississippi, Thống đốc Tate Reeves (Cộng Hòa) đã thẳng thắn phản đối việc đeo khẩu trang, tuyên bố rằng sắp tới đây sẽ không có quy định đeo khẩu trang nào.

Ông Reeves viết trên Facebook rằng, “Có một số người cánh tả vẫn muốn các quy định hạn chế về COVID … Hãy để tôi nói lại lần nữa – sẽ không có quy định về khẩu trang, quy định về vaccine COVID, hoặc lệnh phong tỏa nào ở Mississippi.”

“Người dân Mississippi sẽ không và không nên chịu đựng nỗi sợ hãi một lần nữa … Nếu quý vị muốn thực hiện các biện pháp cực đoan để bảo vệ bản thân khỏi mắc bệnh, xin Chúa phù hộ cho quý vị. Đó là quyền của quý vị và quý vị nên làm những gì quý vị cho là tốt nhất. Có lẽ quý vị là người thông minh nhất trong số chúng ta. Nhưng chúng ta sẽ không bao giờ quay trở lại năm 2020 nữa.”

Cuộc chiến tại Quốc hội về các quy định

Sự chia rẽ về quy định bắt buộc đeo khẩu trang đã lan sang giới chính trị ở Thủ đô, khi một số thành viên Đảng Cộng Hòa tại Quốc hội đưa ra luật cấm bất kỳ loại quy định nào.

Các Thượng nghị sĩ James David Vance (Cộng Hòa-Ohio), Mike Braun (Cộng Hòa-Indiana), và Josh Hawley (Cộng Hòa-Missouri) đã đồng tài trợ cho một dự luật của Thượng viện có tên là “Đạo luật Tự do Hít thở” (Freedom to Breathe Act) sẽ cấm các quy định liên bang về khẩu trang ở Hoa Kỳ.

“Chúng tôi đã thử áp dụng quy định đeo khẩu trang một lần ở đất nước này. Các quy định này đã không kiểm soát được sự lây lan của virus gây bệnh đường hô hấp, xâm phạm sự tự do thân thể cơ bản, và khiến công dân của chúng ta chống lại nhau,” ông Vance nói.

“Luật này sẽ bảo đảm rằng không có bộ máy quan liêu liên bang, không hãng hàng không thương mại nào, và không trường học công lập nào có thể áp đặt các chính sách sai lầm trong quá khứ. Đảng Dân Chủ nói rằng họ sẽ không ban hành lại các quy định về khẩu trang – chúng tôi sẽ bắt phải họ giữ lời hứa của mình.”

Hồi năm 2021, Tòa Bạch Ốc đã ban hành “Thử thách đeo khẩu trang 100 ngày”, theo đó Tổng thống Joe Biden thực hiện một quy định đeo khẩu trang đối với những khu vực thuộc liên bang, nhưng kể từ đó chính phủ đã không ban hành quy định mới nào trên toàn quốc.

Nhiều ẩn số liên quan đến chính sách lãi suất của Mỹ

Ảnh hưởng của lãi suất cao đã bắt đầu được ghi nhận trong nền kinh tế Mỹ, thể hiện qua tăng trưởng việc làm chậm lại và lạm phát trong vài tháng qua giảm mạnh.

Trước thềm cuộc họp ngày 19-20/9, xuất hiện nhiều dấu hiệu cho thấy các nhà hoạch định chính sách của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) không muốn tăng lãi suất, nhưng rất ít người trong số họ sẵn sàng tuyên bố đã chiến thắng lạm phát.

Để kiềm chế nhu cầu của nền kinh tế và hạ nhiệt mức lạm phát cao kỷ lục của gần 40 năm, trong vòng 18 tháng qua, FED đã nâng lãi suất chủ chốt thêm 5,25 điểm phần trăm, làm tăng chi phí đi vay đối với các hộ gia đình và doanh nghiệp.

Ảnh hưởng của lãi suất cao đã bắt đầu được ghi nhận trong nền kinh tế Mỹ, thể hiện qua tăng trưởng việc làm chậm lại và lạm phát trong vài tháng qua giảm mạnh, dừng ở mức 3,3% trong tháng Bảy, so với mức 7% vào cùng kỳ năm ngoái.

Hiện tại, những nhà hoạch định chính sách có quan điểm "diều hâu" nhất của FED cũng đồng thuận việc điều hành lãi suất dựa trên dữ liệu của nền kinh tế. FED đang theo dõi chặt chẽ số liệu chi tiêu tiêu dùng của Mỹ vẫn mạnh mẽ và thị trường lao động tiếp tục thắt chặt, để đánh giá xem liệu đây có phải là yếu tố có thể gây áp lực với lạm phát hay không.

Chủ tịch FED chi nhánh Dallas, Lorie Logan, ngày 7/9, đã ám chỉ nhiều khả năng Fed sẽ tiếp tục "đóng băng" lãi suất tại cuộc họp sắp tới. Nhưng bà Logan lưu ý "vẫn còn nhiều việc phải làm".

Mặc dù các nhà hoạch định chính sách của Mỹ có những quan điểm khác nhau về lãi suất, nhưng không ai thể hiện sự phản đối mạnh mẽ với những đồn đoán rộng rãi trên thị trường tài chính rằng FED sẽ giữ nguyên lãi suất trong biên độ hiện tại là 5,25 – 5,5% tại cuộc họp tháng này.

Lần gần đây nhất FED công bố dự báo kinh tế Mỹ là tháng 6/2023. Theo đó, 2/3 các nhà hoạch định chính sách của FED đồng quan điểm cho rằng lãi suất sẽ cần tăng lên trên 5,5% vào cuối năm nay, để đưa lạm phát về lại mức mục tiêu 2%.

Chủ tịch FED chi nhánh New York John Williams, giống như những nhà hoạch định chính sách khác, cho biết đang theo dõi chặt chẽ dữ liệu để đưa ra quyết định chính sách. Dự kiến, Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) sẽ được Bộ Lao động Mỹ công bố ngày 13/9.

Các dữ liệu quan trọng khác dự kiến cũng được công bố vào tuần tới, bao gồm doanh số bán lẻ và chỉ số giá sản xuất (PPI). Cả hai dữ liệu này đều được cho là sẽ không cản trở tiến trình đạt được điều mà Chủ tịch FED chi nhánh Chicago Austan Goolsbee gọi là "con đường vàng" để giảm lạm phát mà không gây ra suy thoái.

Nhưng vẫn còn những "lỗ hổng" gây lo lắng cho các nhà hoạch định chính sách Mỹ, bao gồm cả một cuộc đình công tiềm tàng của các công nhân ngành ô tô.

Các thị trường tài chính hiện ước đoán 40% khả năng FED sẽ thực hiện tăng lãi suất một lần nữa trước khi kết thúc năm 2023.

Ông Biden công bố hành lang kết nối Ấn Độ, Trung Đông và châu Âu

(Ảnh minh họa).

Tổng thống Mỹ và các lãnh đạo G20 công bố dự án cơ sở hạ tầng đường sắt và đường thủy kết nối Ấn Độ, Trung Đông và châu Âu.

Dự án cơ sở hạ tầng mang tên Hành lang Kinh tế Ấn Độ - Trung Đông - châu Âu được công bố trong hội nghị thượng đỉnh G20 ở New Delhi. Đây là một trong những sáng kiến quan trọng mà Nhà Trắng đang thúc đẩy trên trường quốc tế.

Dự án nhằm kết nối Ấn Độ, Trung Đông và châu Âu thông qua các tuyến đường sắt, đường thủy, cáp dữ liệu tốc độ cao và cả đường ống năng lượng.

Tổng thống Mỹ Joe Biden cho biết Arab Saudi, Israel, UAE và Jordan sẽ tham gia sáng kiến này. "Đây là thỏa thuận lớn. Nó sẽ góp phần đưa Trung Đông thành khu vực thịnh vượng, ổn định và hội nhập hơn", ông Biden nói.

Tổng thống Mỹ công bố dự án cùng các lãnh đạo Ấn Độ, Arab Saudi, UAE, Pháp, Đức, Italy, Nhật Bản và Ủy ban châu Âu. Ông Biden cho biết dự án sẽ tạo ra hành lang kinh tế giữa Ấn Độ, Trung Đông và EU.

"Chúng tôi sẽ đầu tư vào các tuyến đường sắt và đường thủy từ Ấn Độ đến châu Âu qua ngả Arab Saudi, UAE, Jordan và Israel", ông chủ Nhà Trắng nói thêm.

Theo ông Biden, dự án sẽ tạo thuận lợi cho thương mại và xuất khẩu, cũng như giúp chuyển giao năng lượng sạch và cung cấp dịch vụ Internet nhanh chóng, ổn định cho các nước Trung Đông.

Thái tử Arab Saudi Mohammed bin Salman xác nhận quốc gia này sẽ tham gia vào dự án với khoản đầu tư 20 tỷ USD. Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu gọi dự án là sáng kiến mang tính đột phá, "sẽ định hình lại khu vực và Israel".

Dự án cơ sở hạ tầng được đưa ra trong bối cảnh chính quyền Tổng thống Biden đang tìm cách thúc đẩy nỗ lực ngoại giao nhằm đạt thỏa thuận lớn với Arab Saudi, có thể bao gồm thỏa thuận bình thường hóa quan hệ giữa quốc gia này và Israel.

G20 là nhóm 20 nền kinh tế hàng đầu thế giới, chiếm hơn 90% tổng quy mô kinh tế và 2/3 dân số toàn cầu. Hội nghị thượng đỉnh G20 là nơi các lãnh đạo thảo luận những vấn đề kinh tế quan trọng, thúc đẩy chính sách liên quan đến ổn định tài chính và định hướng phát triển kinh tế thế giới.

Sau khi hội nghị thượng đỉnh G20 kết thúc hôm nay, ông Biden dự kiến lên đường thăm cấp nhà nước tới Việt Nam theo lời mời của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Mỹ là con nợ lớn nhất: Việt Nam là chủ nợ lớn thứ 35 của Hoa Kỳ

Lợi suất trái phiếu Chính phủ Việt Nam, Brazil đi ngược chiều với Mỹ, châu Âu hay Nhật Bản.

Theo các nhà phân tích của Chứng khoán Rồng Việt (VDSC), nguyên nhân khiến lợi suất trái phiếu của Việt Nam, Brazil nghịch chiều với các nước phát triển là do tính thanh khoản thấp.

Theo số liệu cập nhật của Bộ Tài chính Mỹ, hiện Việt Nam vẫn nằm trong top 40 chủ nợ lớn nhất của Hoa Kỳ.

“Mỹ là con nợ lớn nhất”

Báo cáo từ Viện Tài chính Quốc tế (IIF), nợ toàn cầu hiện đang ở mức 305.000 tỷ USD, cao hơn 45.000 tỷ USD so với trước đại dịch COVID-19.

Trong số này, các doanh nghiệp chiếm 161.700 tỷ USD (53%), chính phủ nợ 85.700 tỷ USD (28%) và cá nhân chiếm 57.600 tỷ USD (19%).

Doanh nghiệp và Kinh Doanh dẫn báo cáo của Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) phân tích, lợi suất trái phiếu chính phủ ở Mỹ và châu Âu đang có xu hướng tăng lên.

Các nhà phân tích cho rằng có thể thị trường đang nhận thấy nợ của các chính phủ đang ở mức quá cao.

“Chính phủ Mỹ là con nợ lớn nhất, với 30.000 tỷ USD, kế đến là Trung Quốc, Nhật Bản và Pháp”, - theo báo cáo, xếp ngay sau đó là Italia, Ấn Độ và Anh.

Chứng khoán Rồng Việt lưu ý, nhìn chung lợi suất trái phiếu sẽ có xu hướng đi lên khi nợ tăng.

“Đây là một cách tự nhiên để thị trường gửi tín hiệu đến con nợ rằng việc vay tiền để tài trợ cho các hoạt động sẽ trở nên đắt đỏ hơn”, - VDSC nhấn mạnh.

Thực tế, hiện Mỹ đang có mức nợ bằng 123% tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Trong khi đó, nợ chính phủ của Nhật Bản cũng lên tới 239%, tạo áp lực trả nợ lớn khi lợi suất trái phiếu lên cao.

Khác biệt lợi suất trái phiếu

Tuy nhiên, tại một số nền kinh tế, chẳng hạn như Brazil hay Việt Nam, xu hướng lại hoàn toàn ngược lại khi lợi suất trái phiếu chính phủ lại đang theo chiều giảm xuống.

Nói về sự khác biệt trái ngược, Chứng khoán Rồng Việt cho rằng, các nhà đầu tư trái phiếu toàn cầu, việc bán ra ở những thị trường có thanh khoản cao, như Mỹ, châu Âu hay Nhật Bản, sẽ dễ dàng hơn so với những nơi có thanh khoản kém hơn nhiều như các thị trường mới nổi.

Do đó, lợi suất trên những thị trường thanh khoản tăng lên, trong khi lợi suất tại những thị trường mới nổi không bị ảnh hưởng nhiều.

“Hiện tượng này được gọi là sự bất đối xứng và/hoặc bộ đệm lợi suất biến mất”, - VDSC lý giải.

Đối với trường hợp của Trung Quốc, Chứng khoán Rồng Việt nhấn mạnh, các yếu tố tiêu cực đang ảnh hưởng tới lợi suất trái phiếu.

Theo đó, những dữ liệu từ nhiều chỉ số, bao gồm tăng trưởng tín dụng, đầu tư vào thị trường vốn và bất động sản, sản xuất công nghiệp, doanh số bán lẻ, xây dựng, xuất khẩu, giá sản xuất và nông sản, ... đều chỉ ra sự mất đà chung của nền kinh tế, trái ngược với kỳ vọng trước đó.

Được biết, các ngân hàng Trung Quốc đã gia hạn 345 tỷ nhân dân tệ (CNY) cho các khoản vay mới trong tháng 7, mức thấp nhất kể từ 11/2009. Đồng thời, lạm phát tiêu dùng âm lần đầu tiên sau hơn hai năm, lạm phát của nhà sản xuất âm tháng thứ 10.

Xuất khẩu của Trung Quốc cũng giảm 14% so với cùng kỳ năm ngoái vào tháng 7 và nhập khẩu giảm 12%, tốc độ mạnh nhất kể từ tháng 2/2020.

Trung Quốc vốn được kỳ vọng sẽ đóng góp 1/3 tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm nay, do đó, đà giảm đốc của nước tỷ dân này gây ra lo ngại cho nhiều nền kinh tế thế giới.

Việt Nam là chủ nợ lớn của Mỹ

Việt Nam trước đó đã gây chú ý khi vẫn nằm trong top 40 chủ nợ lớn nhất của Hoa Kỳ.

Theo cập nhật số liệu của Bộ Tài chính Hoa Kỳ hồi tháng 1/2023 Việt Nam là chủ nợ lớn thứ 36 của Mỹ, với số trái phiếu trị giá hơn 36,3 tỷ USD.

Như đã biết, các Ngân hàng trung ương nước ngoài, trong đó có Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, đã tiến hành mua trái phiếu kho bạc Mỹ như một hình thức dự trữ ngoại hối, còn các nhà đầu tư tư nhân mua loại trái phiếu này như một kênh đầu tư an toàn.

Cùng với đó, trái phiếu kho bạc còn được sử dụng làm tài sản thế chấp trong một số giao dịch thương mại quốc tế hoặc các quốc gia có thể sử dụng chúng để quản lý chính sách tỉ giá hối đoái và trái phiếu kho bạc Mỹ được chấp nhận thông dụng.

Hiện Nhật Bản, Trung Quốc và Anh vẫn là những chủ nợ lớn nhất của Mỹ. Trong đó, Nhật Bản nắm trên 1.104 nghìn tỷ trái phiếu kho bạc Hoa Kỳ. Kể từ năm 2019, Nhật đã vượt qua Trung Quốc trở thành chủ nợ lớn nhất của Washington.

Chủ nợ lớn thứ hai là Trung Quốc khi nắm trên 860 tỷ trái phiếu và Anh đứng thứ ba khi nắm hơn 600 tỷ trái phiếu kho bạc Mỹ.

Đối với Việt Nam, các thống kê cũng cho thấy, quốc gia Đông Nam Á này thường xuyên nằm trong top 40 chủ nợ lớn nhất của Hoa Kỳ. Đáng chú ý, vào tháng 8/2021, lượng trái phiếu kho bạc Mỹ do Việt Nam tăng lên 44,8 tỷ USD và đứng ở vị trí thứ 30 các chủ nợ lớn nhất của Washington.

Số liệu công bố hồi tháng 1/2022 Việt Nam cũng vẫn đang cho Mỹ vay nợ trái phiếu trên 42 tỷ USD. Tuy nhiên, bước sang năm 2023, lượng trái phiếu chính phủ Mỹ mà Việt Nam nắm giữ đã giảm xuống quanh mốc 36 tỷ USD. Đây cũng được xem là ngoại hối quan trọng mà Việt Nam sở hữu. Số liệu trên Statista theo báo cáo công bố đến tháng 4.2023, Việt Nam vẫn nắm trên 36,7 tỷ USD trái phiếu kho bạc Mỹ.

Trong khi đó, tại báo cáo cập nhật hồi tháng 6/2023 của Bộ Tài chính Mỹ, Việt Nam đứng thứ 35 trong top 40 chủ nợ lớn nhất của Hoa Kỳ với lượng trái phiếu nắm giữ đạt trên 33,6 tỷ USD.

Nguồn: Epoch Times; VTV; Vnexpress; Sputnik News

Xem thêm:
Về trang trước

Chủ đề:

Bình luận và đánh giá
Gửi nhận xét đánh giá

Đọc nhiều nhất

Việt Nam: Ngọc nữ lọt top mỹ nhân đẹp nhất thế giới; Đường dây rửa tiền xuyên quốc gia; Quy hoạch công viên Thủ Lệ; Thánh đường 5.000 người trước ngày khánh thành

Việt Nam: Đề nghị kỷ luật Sử Ngọc Anh; Cáp treo mới 16.234 tỷ; Thiên đường nghỉ dưỡng; Cựu Phó TGĐ Ngân hàng VNCB trốn truy nã; Đấu giá biệt thự Chủ tịch AIC

Người Việt hải ngoại: Mỹ nhân mở tiệc 3 ngày 3 đêm ở Mỹ; Du học sinh tốt nghiệp ở Bắc Kinh, về quê làm khu công nghiệp; Đại hội Phụ nữ vùng Kansai, Nhật Bản

Việt Nam: EU đưa ra khỏi danh sách quốc gia không hợp tác thuế; Phải khai báo trường hợp chuyển khoản sau; Top quốc gia được yêu thích nhất; Xác minh giao dịch 300 triệu

Việt Nam: Lãi suất ngân hàng 12/10; Khách sạn lọt top 3 tốt nhất Đông Nam Á; Chung cư 90 triệu đồng/m2; Chuyển trái phép 900 tỷ ra nước ngoài; Ngân hàng bán bất động sản xử lý nợ

Người Việt hải ngoại: Sắp diễn ra Hội nghị người Việt ở nước ngoài toàn thế giới lần thứ 5; Hoa hậu 2 lần đổ vỡ sang Canada cưới người yêu đơn phương 5 năm

Việt Nam: Cảnh báo sớm sai sót thuế; Cho thuê chung cư để lưu trú; Giải phóng mặt bằng các dự án lớn Hà Nội; Lừa bán phụ nữ sang Trung Quốc làm vợ; Đường dây đánh bạc, rửa tiền

Người Việt hải ngoại: Nữ chuyên gia có 200 bằng sáng chế; Nữ Tổng Quản Lý Marriott International; phát triển trạm sạc nhanh tại Mỹ; Cựu Phó Thủ tướng Đức vào HĐQT Chứng khoán HD

Lên đầu trang