Làn sóng vỡ nợ; Cà chua biến mất ở Ấn Độ; Ông Pita thất bại ở quốc hội; Thế lực mới ngành dầu mỏ; Nga tăng phi USD hóa

Thập kỷ tiền rẻ kết thúc, làn sóng vỡ nợ, phá sản dâng lên từ Á đến Âu

(Ảnh minh họa).

Sự kết hợp giữa lực cầu suy yếu, lạm phát tăng, gánh nặng nợ và chi phí đi vay tăng vọt sẽ tạo nên gánh nặng mà các doanh nghiệp không khỏe mạnh khó có thể chịu đựng nổi.

Theo Bloomberg, làn sóng phá sản đang dâng lên trên toàn thế giới. Ở một số nước, số lượng doanh nghiệp phá sản đã lên đến mức chưa từng thấy kể từ sau khủng hoảng tài chính 2008. Tồi tệ hơn, có lẽ đây mới chỉ là khởi đầu.

1 thập kỷ tiền rẻ đã khiến lãnh đạo các doanh nghiệp và nhà quản lý quỹ thiếu đi nhạy cảm và quên đi sự thật sau bùng nổ bao giờ cũng là suy thoái. Giờ đây, sự kết hợp giữa lực cầu suy yếu, lạm phát tăng, gánh nặng nợ và chi phí đi vay tăng vọt sẽ tạo nên gánh nặng mà các doanh nghiệp không khỏe mạnh khó có thể chịu đựng nổi.

Nhiều nơi lập kỷ lục về phá sản

Trong 6 tháng đầu năm 2023, số lượng các doanh nghiệp Mỹ phá sản ở mức cao nhất kể từ 2010 theo số liệu của S&P Global Market Intelligence. Tại Anh và xứ Wales, số vụ vỡ nợ cũng cao nhất 14 năm. Số vụ vỡ nợ ở Thụy Điển cao nhất trong 1 thập kỷ, trong khi tại Đức con số tăng vọt 50% so với năm ngoái, lên mức cao nhất kể từ 2016. Nhật Bản ghi nhận con số cao nhất trong 5 năm trở lại đây.

Thông thường, làn sóng phá sản sẽ dâng lên khi suy thoái đến. Tuy nhiên, hiện nay các doanh nghiệp đang sụp đổ trong lúc thị trường lao động và lợi nhuận vẫn vững vàng một cách bất ngờ.

Có 1 lý do lý giải cho điều này: các gói hỗ trợ hào phóng từ các chính phủ trong đại dịch cùng với việc nới lỏng quy định về thời điểm khi nào 1 doanh nghiệp phải nộp đơn phá sản khiến làn sóng phá sản bị trì hoãn đến tận thời điểm hiện tại thay vì thời kỳ 2020-2021.

Trong nhiều trường hợp, sự trì hoãn chỉ kéo dài thay vì ngăn chặn hoàn toàn điều tồi tệ nhất là phá sản. Các mô hình kinh doanh có nhiều lỗ hổng, cấu trúc vốn sử dụng nhiều đòn bẩy và môi trường vĩ mô không thuận lợi khiến các doanh nghiệp hiện ở vị trí rất tệ để có thể đối phó với lãi suất tăng.

Những startup “đốt tiền” như công ty truyền thông kỹ thuật số Vice Group là ví dụ nổi bật nhất. Vice từng được định giá lên tới gần 6 tỷ USD, nhưng hoàn toàn phụ thuộc vào dòng tiền từ bên ngoài và cuối cùng đã cạn tiền vào tháng 5. Hơn một chục công ty séc trắng SPAC đã phá sản từ đầu năm đến nay vì những lý do tương tự, mà gần nhất là công ty xe điện Lordstown Motors và công ty thực phẩm Tattooed Chef.

Số công ty nộp đơn xin bảo hộ phá sản theo Chapter 11 lần thứ hai cũng tăng mạnh. Một ví dụ điển hình là Monitronics Inc, công ty cung cấp thiết bị giám sát nhà Monitronics đã từng nộp đơn phá sản cách đây 4 năm.

Những điều tồi tệ hơn sẽ xảy ra trong thời gian tới. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, thay vì 1 cú sốc xảy ra nhanh và mạnh như năm 2008, làn sóng phá sản sẽ diễn ra từ từ và kéo dài. Vì lãi suất vẫn sẽ tiếp tục tăng trong dài hạn do nỗ lực chống lại lạm phát của các NHTW.

Những công ty nhỏ hơn sẽ khó tiếp cận vốn vay ngân hàng, phải tìm đến những khoản vay có lãi suất thả nổi. Trong nhiều trường hợp, chi phí lãi vay thậm chí có thể tăng gấp đôi chỉ trong vài năm, trừ khi doanh nghiệp đã chuẩn bị sẵn biện pháp phòng vệ.

Vòng tròn luẩn quẩn

Bên cạnh đó cũng có những vụ phá sản cỡ lớn. Chuỗi đồ gia dụng Bed Bath & Beyond từng là lựa chọn số 1 của các hộ gia đình Mỹ đã phá sản hồi tháng 4. Trong khi đó sự sụp đổ của nhà bán lẻ nội thật Kika/Leiner là vụ phá sản lớn nhất ở Áo trong 1 thập kỷ trở lại đây.

Trong những vụ phá sản quy mô lớn như vậy, tồn tại nguy cơ xảy ra 1 vòng luẩn quẩn: các nhà cung ứng không được thanh toán tiền, người lao động mất việc làm, ngân hàng siết chặt tiêu chuẩn cho vay và kéo theo nhiều công ty phá sản hơn nữa.

Không có gì đáng ngạc nhiên, hàng hóa tiêu dùng và vận chuyển là những ngành bị ảnh hưởng nặng nề nhất khi người dân chuyển sang du lịch và đi ăn hàng thay vì tích lũy đồ dùng hàng ngày. Tháng trước, công ty giao hàng Tuffnells Parcels Express của Anh phá sản. Nhà sản xuất nồi áp suất Instant Brands của Mỹ cũng rơi vào cảnh tương tự.

Công nghệ và y tế - 2 ngành không có tính chu kỳ - được kỳ vọng sẽ khỏe mạnh hơn. Tuy nhiên, họ sử dụng nhiều khoản vay có lãi suất thả nổi và đang chìm trong các thương vụ thâu tóm, mua lại sử dụng nhiều đòn bẩy. Tháng 5 vừa qua, Envision Healthcare phá sản với những khoản vay có lãi suất thả nổi lên tới hàng tỷ USD.

Đối với các chuyên gia tư vấn tài chính và giới luật sư phục vụ khách hàng doanh nghiệp, những vụ phá sản, tái cấu trúc giúp họ kiếm thêm thu nhập để bù đắp cho sự sụt giảm mạnh trong hoạt động M&A và IPO. Ngoài họ ra, đối với tất cả những người còn lại, chẳng có lý do gì để vui mừng. Giai đoạn khó khăn chỉ vừa mới bắt đầu.

Cà chua biến mất trên bàn ăn người Ấn Độ vì tăng giá 400%

Cà chua, nguyên liệu vốn không thể thiếu trong các món ăn Ấn Độ, tăng giá 400% do mất mùa vì nắng nóng và mưa lũ.

Mỗi kg cà chua bán ở thủ đô New Delhi trong tuần này giá 1,68 USD, tăng gấp 5 lần so với mức 0,33 USD hồi tháng 1, theo dữ liệu của Cục Tiêu dùng Ấn Độ. Bà nội trợ Asha cho biết giá tăng ảnh hưởng nặng nề tới đồ ăn trong gia đình 7 người, bởi cô dùng cà chua làm nguyên liệu cho đa số món ăn.

"Cà chua tăng giá ảnh hưởng rất nhiều tới chúng tôi. Thật không tin nổi", cô nói. "Cà chua là một phần không thể thiếu trong chế độ ăn chay của chúng tôi, nhưng vài ngày qua, tôi không biết nên làm món gì vì cà chua quá đắt".

Không chỉ gia đình của Asha bị ảnh hưởng. Một số cửa hàng McDonald trên cả nước đã ngừng phục vụ cà chua trong món bánh kẹp thịt vì thiếu nguồn cung và chất lượng không đảm bảo.

Connaught Plaza Restaurants, công ty quản lý các cửa hàng nhượng quyền của McDonald ở phía bắc và phía đông Ấn Độ, đặt biển báo bên ngoài nhà hàng, cho hay "không đủ cà chua đạt chất lượng theo tiêu chuẩn thế giới mà chúng tôi áp dụng".

Ảnh chụp thông báo được chia sẻ khắp mạng xã hội, trong đó có Raghav Chadha, nghị sĩ đảng Aam Aadmi. "Thậm chí McDonald cũng không thể mua cà chua", Chadha viết. "Ở nhà hay nhà hàng, khi lạm phát vượt tầm kiểm soát, chính quyền đã biến bữa ăn vui vẻ thành bữa ăn buồn bã".

Jocelyn Boiteau, nghiên cứu sinh sau tiến sĩ Viện Nông nghiệp và Dinh dưỡng Tata-Cornell, cho hay yếu tố khiến cà chua thiếu hụt là thời tiết khắc nghiệt do biến đổi khí hậu.

Nắng nóng bao trùm Ấn Độ và nhiều khu vực châu Á trong những tuần gần đây. Thế giới tuần trước ghi nhận tuần nóng nhất lịch sử, theo dữ liệu từ hai cơ quan theo dõi khí hậu trong nhiều thập kỷ.

Ấn Độ thường trải qua các đợt nắng nóng trong tháng 5 và tháng 6, nhưng vài năm gần đây, nắng nóng tới sớm hơn và kéo dài hơn. Tháng 4 năm ngoái, Ấn Độ từng trải qua đợt nắng nóng khiến nhiệt độ ở New Delhi hơn 40 độ C liên tục trong 7 ngày. Ở một số bang, nắng nóng khiến trường học đóng cửa, mùa màng thất bát, gây áp lực lên nguồn cung điện.

Theo dữ liệu Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC), Ấn Độ, quốc gia 1,4 tỷ dân, là một trong số những đất nước có thể chịu tác động nghiêm trọng nhất do khủng hoảng khí hậu.

Các chuyên gia cảnh báo tác động liên đới sẽ rất tàn khốc. Nghiên cứu do Đại học Cambridge công bố hồi tháng 4 cho hay các đợt nắng nóng ở Ấn Độ đang "đè nặng chưa từng có" lên hệ thống nông nghiệp, kinh tế và y tế của quốc gia, cản trở hoàn thành mục tiêu phát triển.

Boiteau cho hay chỉ một số khu vực ở miền nam Ấn Độ có điều kiện thích hợp để trồng cà chua vào mùa hè. Do đó, bất kỳ "vấn đề nào liên quan tới khí hậu" ở những vùng này đều tác động tới nguồn cung cà chua tươi ở cấp độ quốc gia.

Mùa hè năm nay, Ấn Độ ghi nhận lượng mưa lớn chưa từng có và những đợt nắng nóng gay gắt. Sriram Gadve, chủ tịch Hiệp hội Những người Trồng rau Ấn Độ, cho hay các đợt nắng nóng liên tục từ tháng 4 đến tháng 6 khiến cà chua không thể ra hoa, ảnh hưởng năng suất cây trồng.

"Nắng nóng tác động đến sự phát triển của cây cà chua, khiến năng suất năm nay giảm 70%", ông nói.

Gadve cho hay trong số cà chua được thu hoạch, hơn 90% bị nhiễm virus từ hạt, khiến nguồn cung càng bị ảnh hưởng. Gadve nhận xét giá cà chua sẽ sớm ổn định vì vụ thu hoạch tiếp theo sắp đến trong vài tuần nữa.

Thái Lan: Ông Pita thất bại tại quốc hội trong cuộc tranh cử chức thủ tướng

(Ảnh minh họa).

Ông Pita Limjaroenrat hôm thứ Năm (13/7) đã thất bại trong nỗ lực ban đầu để trở thành thủ tướng tiếp theo của Thái Lan, sau khi ông bị cản trở trong một cuộc bỏ phiếu của quốc hội với một loạt người vắng mặt và gần 200 phiếu trắng.

Nhà lãnh đạo của đảng thắng cử Move Forward không có đối thủ tranh cử, nhưng đã phải vật lộn để thu hút đủ phiếu ủng hộ cần thiết của hơn một nửa trong số 749 thành viên quốc hội lưỡng viện, bất chấp sự ủng hộ của liên minh 8 đảng của ông.

Một cuộc bỏ phiếu khác dự kiến sẽ được tổ chức vào tuần tới, ông Pita có thể tranh cử nếu được đề cử lại.

Đảng Move Forward và đối tác liên minh của họ, Pheu Thai, đã đánh bại các đảng bảo thủ ủng hộ quân đội trong cuộc bầu cử ngày 14/5, vốn được nhiều người coi là sự gạt bỏ đối với gần một thập niên chính phủ do quân đội bảo hoàng lãnh đạo hoặc hậu thuẫn.

Cuộc bỏ phiếu hôm thứ Năm là một bài kiểm tra quan trọng đối với ảnh hưởng chính trị của ông Pita và là thước đo sự phản đối đối với chương trình nghị sự chống thiết chế của đảng ông, bao gồm loại bỏ quân đội khỏi chính trị, hạn chế độc quyền kinh doanh và sửa đổi luật quy định án tù dài hạn vì xúc phạm chế độ quân chủ.

Thất bại của ông là đòn mới nhất trong hai ngày nóng bỏng đối với ông Pita, 42 tuổi, người đã được đào tạo tại Hoa Kỳ và đã bị hai khiếu nại pháp lý chống lại ông vào đêm trước cuộc bỏ phiếu, bao gồm cả khuyến nghị loại ông, dẫn đến hàng trăm người phản đối. Những người biểu tình tụ tập và cảnh báo về các diễn biến nhằm ngăn chặn đảng Move Forward nắm quyền.

Việc ông Pita quyết tâm theo đuổi chương trình nghị sự của Move Forward đã đặt ông vào thế đối đầu với những mối quan hệ rất mạnh bao gồm những người bảo thủ và các gia đình giàu có lâu đời, những người đã xuất hiện trên chính trường Thái Lan trong nhiều thập niên, và được cho là sẽ nỗ lực cản trở ông trong quốc hội.

Mặc dù giành chiến thắng trong cuộc bầu cử nhờ sự ủng hộ đông đảo của giới trẻ và cử tri ở thủ đô Bangkok, ông Pita cần phải thuyết phục được một số trong số 249 thành viên của Thượng viện có khuynh hướng bảo thủ, được quân đội bổ nhiệm sau cuộc đảo chính năm 2014.

Mỹ Latinh - thế lực mới trong ngành dầu mỏ

Với đóng góp của Guyana và Brazil, Mỹ Latinh đang trên đường trở thành một nhà sản xuất dầu lớn của thế giới trong thập kỷ này.

Trên mặt nước xanh thẳm ngoài khơi Guyana, những con tàu FPSO đang hút dầu từ các mỏ dầu cách mặt biển 3 km dưới lòng đại dương. FPSO (Floating Production, Storage, and Offloading) là loại tàu đặc biệt trong ngành dầu khí, được thiết kế để khai thác, lưu trữ và xả dầu từ mỏ ngoài khơi. Chúng đang đổi đời cho một trong những quốc gia nhỏ nhất và nghèo nhất Nam Mỹ.

Năm 2015, ExxonMobil đã phát hiện ra mỏ dầu thứ nhất trong tổng trữ lượng 11 tỷ thùng dầu đã được tìm thấy tại đây, tương đương khoảng 0,6% tổng lượng dầu trên thế giới. Việc khai thác bắt đầu từ 3 năm trước và đang tăng tốc. Đến năm 2027, năng lực sản xuất có thể đạt hơn một triệu thùng mỗi ngày, đưa Guyana trở thành một trong 20 nhà sản xuất dầu hàng đầu thế giới.

Dầu mỏ thành món lợi khổng lồ với quốc gia 800.000 dân này. Các chính trị gia nước ngoài đã quan tâm đến Guyana nhiều hơn. Ngày 6/7, Tổng thư ký Bộ Ngoại giao Mỹ Antony Blinken đã đến thăm.

Bước tiến của Guyana đang hồi sinh ngành sản xuất dầu mỏ ở Mỹ Latinh. Theo báo cáo gần đây của Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA), sản xuất dầu toàn cầu sẽ tăng thêm 5,8 triệu thùng từ nay đến năm 2028. Khoảng một phần tư nguồn cung thêm sẽ đến từ Mỹ Latinh. Sau một thập kỷ giảm sút, sản xuất dầu mỏ ở đây đang có xu hướng tăng. Brazil, Guyana và Argentina sẽ tăng trưởng sản lượng nhưng các nước khác giảm đi.

Brazil và Guyana có khả năng hưởng lợi nhiều hơn so với các nhà xuất khẩu khác. Ở Guyana, ExxonMobil và đối tác đang tăng tốc đưa dầu vào thị trường. "Mục tiêu của chính phủ và chúng tôi cũng là tăng cường phát triển nguồn tài nguyên ở đây càng nhanh càng tốt", Meghan Macdonald, Phát ngôn viên công ty nói. Một phần lý do là để tối đa hóa lợi nhuận trong khi giá dầu đang cao.

Ở Brazil, sự bùng nổ đã lấy đà từ nhiều thập kỷ trước. Năm 2006, các kỹ sư tại Petrobras - công ty dầu khí nhà nước của Brazil, đã có một khám phá chấn động. Ngoài khơi bờ biển São Paulo, dưới 3 km nước và thêm 5 km đá, muối, là một trong những mỏ dầu ngoài khơi lớn nhất thế giới.

Với Tổng thống lúc bấy giờ là Luiz Inácio Lula da Silva, phát hiện này đã chứng minh rằng "Chúa là người Brazil". Những mỏ dầu tiền muối hay dầu pre-salt (tức dầu dưới lớp đá muối sâu ở đáy biển) được cho là vô tận. Đã có hơn một trăm giếng khoan được lắp đặt, và mỗi giếng đều phun ra một lượng dầu khổng lồ. Sản xuất từ các mỏ dầu pre-salt tăng từ 41.000 thùng mỗi ngày vào năm 2010 lên đến 2,2 triệu thùng mỗi ngày năm ngoái.

Các mỏ dầu pre-salt đã đưa Brazil từ một nước sản xuất dầu nhỏ thành nước lớn thứ tám thế giới. Địa chất cùng với các khoản đầu tư của Petrobras vào công nghệ ngoài khơi mới nhất, giúp cho việc khai thác trở nên đặc biệt hiệu quả và thân thiện với môi trường.

Theo Schreiner Parker, Phó chủ tịch công ty tư vấn Rystad Energy, Brazil và Guyana có thể sản xuất dầu có lãi ở mức 35 USD mỗi thùng, thấp hơn một nửa so với giá một thùng dầu hiện nay. Lượng CO2 tương đương thải ra trên mỗi thùng là 10 kg, so với mức trung bình toàn cầu là 26 kg.

Petrobras có kế hoạch chi gần một nửa ngân sách thăm dò trị giá 6 tỷ USD của mình trong 5 năm tới ở rìa xích đạo, một khu vực ở đông bắc Brazil gần Guyana. Chính phủ Brazil hy vọng khu vực này sẽ chứa tới 10 tỷ thùng dầu có thể khai thác, gần tương đương với các mỏ dầu pre-salt.

Cơ quan quản lý môi trường của Brazil gần đây từ chối cấp phép cho Petrobras khai thác ở đó nhưng tập đoàn tuyên bố sẽ kháng cáo. Họ được hậu thuẫn bởi một số chính trị gia lớn. Ví dụ, Alexandre Silveira, Bộ trưởng Mỏ, đã gọi rìa xích đạo là "tấm hộ chiếu đến tương lai". Từ nợ nần hơn 100 tỷ USD vào 2015, năm ngoái lợi nhuận của Petrobras đạt mức kỷ lục 36 tỷ USD.

Nhưng không dễ để Mỹ Latinh thịnh vượng nhờ dầu mỏ. Nơi đây có trữ lượng dầu đã được chứng minh lớn thứ hai trên thế giới sau Trung Đông, nhưng các công ty nhà nước của họ đã nhiều lần bỏ lỡ cơ hội, theo Economist. Không giống như hầu hết quốc gia vùng Vịnh, các chính phủ trong khu vực nói chung đã thất bại trong việc thành lập các quỹ đầu tư quốc gia để chuyển doanh thu từ dầu mỏ vào các khoản đầu tư dài hạn.

Thay vào đó, họ trở nên phụ thuộc vào dầu mỏ như một nguồn thu ngoại tệ và thu ngân sách. Trong đó, Chính phủ Ecuador phụ thuộc vào nguồn thu từ dầu mỏ nhiều hơn bất kỳ quốc gia nào khác ở Mỹ Latinh (không tính Venezuela).

Theo phân tích của Đại học Boston, nguồn thu tài chính từ hoạt động thăm dò và sản xuất dầu chiếm 24% tổng nguồn thu của chính phủ từ năm 2015 đến 2019. Bất chấp giá dầu cao, sản lượng dự kiến sẽ giảm từ 460.000 thùng mỗi ngày hiện nay xuống còn 370.000 vào năm 2028.

Nhiều nhà sản xuất dầu mỏ truyền thống của Mỹ Latinh cũng ngày càng tụt hậu. Vào thời kỳ đỉnh cao năm 1998, tập đoàn PDVSA của Venezuela chiếm 5% nguồn cung toàn cầu, với sản lượng 3,4 triệu thùng mỗi ngày. Tuy nhiên, sau các biến động địa chính trị, sản lượng của họ giờ chỉ còn 700.000 thùng mỗi ngày. Từ tháng 1/2020 đến tháng 3/2023, họ chỉ nhận được 4 tỷ USD thanh toán, mặc dù xuất khẩu dầu trị giá 25 tỷ USD, do chịu các lệnh trừng phạt.

Trường hợp của Venezuela là cực đoan, nhưng quản lý yếu kém và bất ổn chính sách là điều bình thường tại Mỹ Latinh. Francisco Monaldi, chuyên gia của Đại học Rice (Houston, Mỹ), nếu tất cả dầu của khu vực được khai thác với cùng chuyên môn và trong một môi trường pháp lý tương tự như ở Texas thì Mỹ Latinh sẽ sản xuất nhiều dầu hơn Mỹ, thay vì chỉ bằng một nửa như hiện tại. Mexico, Colombia và Ecuador chỉ sản xuất 3,8% sản lượng toàn cầu vào năm 2021.

Pemex, một công ty nhà nước của Mexico là công ty dầu mỏ mắc nợ nhiều nhất thế giới với hơn 100 tỷ USD. Đến tháng 5, các nhà máy lọc dầu của nước này xử lý chưa đến một nửa lượng dầu mà họ có thể hoạt động hết công suất. Các trữ lượng dầu mới nằm ở vùng nước sâu thì Pemex không thể khai thác vì thiếu kinh phí hoặc công nghệ.

Hiến pháp mới của Ecuador năm 2008 đã tăng cường kiểm soát của nhà nước với dầu mỏ, cản trở những nỗ lực hiện đại hóa Petroecuador. Petroecuador có kế hoạch mở rộng sản xuất trong và xung quanh rừng nhiệt đới Amazon. Công ty ước tính rằng sản lượng ở khu vực này có thể mang về gần 14 tỷ USD vào năm 2043, tương đương với 13% GDP hiện tại của đất nước.

Nhưng triển vọng cũng khá xa vời. Vào ngày 20/8, người dân Ecuador sẽ bầu ra tổng thống và cơ quan lập pháp mới, đồng thời bỏ phiếu trưng cầu dân ý về việc có nên ngừng tất cả hoạt động sản xuất tại các khu vực của công viên quốc gia rừng nhiệt đới Amazon hay không. Nhiều cử tri đang ủng hộ việc dừng khai thác.

Một số quốc gia như Argentina gặp may hơn. Các lệnh trừng phạt với dầu mỏ của Nga đã thúc đẩy sản xuất ở Vaca Muerta, một mỏ dầu khổng lồ ở phía tây Argentina. Nước này nắm giữ trữ lượng khí đá phiến lớn thứ hai và trữ lượng dầu đá phiến lớn thứ tư thế giới, nhưng đã phải vật lộn để thu hút đầu tư trong nhiều thập kỷ. Rystad Energy dự kiến sản lượng dầu đá phiến ở Argentina sẽ tăng hơn gấp đôi vào cuối thập kỷ này, lên hơn một triệu thùng mỗi ngày.

Trên khắp khu vực, sụt giảm doanh thu từ dầu mỏ có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng. Ngân hàng Phát triển Liên Mỹ (IDB) tính toán nếu thế giới hạn chế sự nóng lên toàn cầu ở mức 1,5°C thì doanh thu ở Mỹ Latinh có thể giảm dần xuống còn khoảng 1.300-2.600 tỷ USD vào năm 2035.

Gia nhập thị trường dầu mỏ muộn có thể giúp Guyana tránh một số sai lầm, ví dụ doanh thu từ dầu mỏ bị lãng phí bởi các chế độ quản lý yếu kém của chính quyền. Bharrat Jagdeo, Phó tổng thống Guyana, cho biết chính phủ "rất ý thức" về những sai lầm của các quốc gia sản xuất dầu mỏ khác.

Kể từ khi giành lại quyền lực vào năm 2020, đảng của Jagdeo đã thắt chặt luật quản lý quỹ tài sản quốc gia. Ông phủ nhận ngành công nghiệp dầu mỏ đang mâu thuẫn với nỗ lực khử carbon của đất nước, lập luận rằng doanh thu từ dầu mỏ và khí đốt là cần thiết để giúp đất nước hạn chế tác động của biến đổi khí hậu, chẳng hạn mực nước biển dâng cao.

Dầu chắc chắn sẽ biến đổi đất nước nhỏ bé này. Robin Muneshwer, một chủ đất cho ExxonMobil thuê mặt bằng bên bờ biển nói rằng câu hỏi đặt ra là "Guyana sẽ là một Singapore, Dubai, Trinidad, Nigeria hay Venezuela? Hoặc đâu đó ở giữa mức độ phát triển của những nơi đó".

Nga tìm cách tăng cường phi USD hóa

(Ảnh minh họa).

Bộ Ngoại giao Nga cho biết, Moscow sẽ thảo luận các quốc gia Đông Nam Á về việc chuyển đổi sang tiền tệ quốc gia trong thương mại, thay thế đồng USD.

Bộ ngoại Nga ngày 12/7 thông báo, nước này đang lên kế hoạch thảo luận về việc chuyển đổi sang sử dụng đồng tiền quốc gia trong thương mại với các nước ở Đông Nam Á. Động thái này là một phần trong nỗ lực của Moscow nhằm loại bỏ đồng đôla Mỹ và đồng euro trong các thỏa thuận kinh doanh.

Do các lệnh trừng phạt của phương Tây đối với Moscow, kim ngạch thương mại giữa Nga và các nước trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) giảm 4,4% vào năm 2022, Bộ này cho biết trong một tuyên bố trước chuyến thăm của Ngoại trưởng Sergey Lavrov tới Jakarta, Indonesia.

"Để cải thiện tình hình, Nga đang tiến hành các cuộc tham vấn về việc sử dụng tiền tệ quốc gia trong các thỏa thuận chung" Bộ Ngoại giao Nga cho biết trên trang web.

Ngoại trưởng Lavrov đang ở Jakarta trong tuần này để gặp gỡ những người đồng cấp ASEAN nhằm thúc đẩy mối quan hệ bền chặt hơn.

Sau bị áp đặt các biện pháp trừng phạt, Nga và những đối tác thương mại trong số các quốc gia đang phát triển đã tăng cường nỗ lực nhằm giảm việc sử dụng hệ thống tài chính phương Tây và thay thế đồng đôla Mỹ và đồng euro bằng các loại tiền tệ quốc gia để thanh toán thương mại.

Xu hướng này được hỗ trợ bởi các thành viên của BRICS, khối kinh tế hợp nhất gồm Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc và Nam Phi, cũng như nhiều quốc gia khác muốn tham gia liên minh.

Trong số các loại tiền tệ được sử dụng rộng rãi thay cho đồng đôla Mỹ là đồng rúp của Nga, nhân dân tệ của Trung Quốc và dirham của UAE.

Nguồn: CafeF; Vnexpress; VOA; Tin Mới 247; Dân Trí

Xem thêm:
Về trang trước

Chủ đề:

Bình luận và đánh giá
Gửi nhận xét đánh giá

Đọc nhiều nhất

Việt Nam: Đề nghị kỷ luật Sử Ngọc Anh; Cáp treo mới 16.234 tỷ; Thiên đường nghỉ dưỡng; Cựu Phó TGĐ Ngân hàng VNCB trốn truy nã; Đấu giá biệt thự Chủ tịch AIC

Việt Nam: Ngọc nữ lọt top mỹ nhân đẹp nhất thế giới; Đường dây rửa tiền xuyên quốc gia; Quy hoạch công viên Thủ Lệ; Thánh đường 5.000 người trước ngày khánh thành

Việt Nam: EU đưa ra khỏi danh sách quốc gia không hợp tác thuế; Phải khai báo trường hợp chuyển khoản sau; Top quốc gia được yêu thích nhất; Xác minh giao dịch 300 triệu

Người Việt hải ngoại: Mỹ nhân mở tiệc 3 ngày 3 đêm ở Mỹ; Du học sinh tốt nghiệp ở Bắc Kinh, về quê làm khu công nghiệp; Đại hội Phụ nữ vùng Kansai, Nhật Bản

Việt Nam: Lãi suất ngân hàng 12/10; Khách sạn lọt top 3 tốt nhất Đông Nam Á; Chung cư 90 triệu đồng/m2; Chuyển trái phép 900 tỷ ra nước ngoài; Ngân hàng bán bất động sản xử lý nợ

Người Việt hải ngoại: Nữ chuyên gia có 200 bằng sáng chế; Nữ Tổng Quản Lý Marriott International; phát triển trạm sạc nhanh tại Mỹ; Cựu Phó Thủ tướng Đức vào HĐQT Chứng khoán HD

Việt Nam: Giá vàng hôm nay; Điều chỉnh quy hoạch đô thị sông Hồng; Xử lý 18 000 căn hộ sai quy hoạch; Shark Thủy bị truy tố lần 2; Hộ kinh doanh “đứng tên” bị hoãn xuất cảnh

Người Việt hải ngoại: Cộng đồng người nước ngoài lớn thứ hai tại Nhật; Bà chủ chuỗi nhà hàng ở Bỉ; Techcombank triển khai giải pháp nhận tiền quốc tế; Cùng chồng Đức bỏ phố về quê

Lên đầu trang