- Học tập - Lao động - Kinh doanh
- Kinh doanh
.jpg)
Hiện nay, thương mại điện tử là kênh được nhiều doanh nghiệp chọn để bán hàng, đáp ứng xu hướng tiêu dùng. Tuy nhiên, một số doanh nghiệp rơi vào tình trạng càng bán càng lỗ, vì phí trên sàn tăng cao gấp 2-3 lần các năm trước, lên đến khoảng 30% giá trị sản phẩm.
Xây dựng thêm nhiều sàn để tránh độc quyền
Hiện nay, ở Việt Nam có 2 sàn gần như độc quyền độc quyền về thương mại điện tử, chiếm hơn 90% thị phần, đó là Shoppee và Tik Tok. Năm 2025, số lượng doanh nghiệp tham gia và doanh số bán hàng trên các sàn thương mại điện tử tăng 30%, chi phí bán hàng trên các sàn này cũng tăng lên khoảng 30%.
Ông Lư Nguyễn Xuân Vũ - Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Tập đoàn Xuân Nguyên cho biết, thương hiệu của doanh nghiệp đã có 24 năm trên thị trường với 16.000 điểm bán hàng trong cả nước. Tuy nhiên, xu hướng tiêu dùng thay đổi nên 3 năm nay doanh nghiệp có thêm kênh bán hàng trên sàn thương mại điện tử Shoppee. Doanh thu bán hàng trên sàn chiếm khoảng 30% tổng doanh thu của doanh nghiệp.
Mỗi tháng, Xuân Nguyên bán trên sàn này hàng ngàn đơn hàng là sản phẩm mật ong, nhưng gần như không lợi nhuận. Vì phí sàn cộng với chi phí đóng gói, quảng cáo…lên đến gần 40%. Đây là chi phí rất cao đối doanh nghiệp sản xuất khi biên lợi nhuận mỏng.
Nhưng doanh nghiệp hiện vẫn phải chấp nhận vì không có sự lựa chọn nào khác. Ông Lư Nguyễn Xuân Vũ kiến nghị, cơ quan chức năng tạo điều kiện phát triển thêm nhiều sàn thương mại điện tử do người Việt Nam điều hành, quản lý và có sự kiểm soát của cơ quan chức năng về các mức phí, dịch vụ…
“Tôi kiến nghị là các địa phương có thể xây dựng sàn thương mại điện tử, kế đến là các bộ, ngành cũng xây dựng sàn này. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp lớn (có vốn nhà nước- PV) như: SaiGon Co.op, Satra… có hệ thống siêu thị có thể xây dựng xây dựng sàn thương mại điện tử. Đây xem như là kênh phân phối mới giúp doanh nghiệp sản xuất có thể đưa hàng đến người tiêu dùng với những khách hàng hay mua hàng trên sàn thương mại điện tử”, ông Vũ nói.
Nhà nước cần điều tiết phí trên sàn
Ở góc độ chuyên gia, ông Nguyễn Quách Nhi, chuyên gia Thương mại điện tử, Giám đốc Đối tác chiến lược của Công ty Cổ phần METUB Việt Nam, phân tích: Doanh nghiệp trả khoảng 30% phí cho sàn khi bán hàng thành công. Nhưng để bán được hàng thì doanh nghiệp phải trả thêm nhiều chi phí khác như: quảng cáo, tiếp thị, liên kết…
Ông Quách Nhi cho rằng nhà nước nên có chính sách bảo vệ nền sản xuất trong nước, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa mà nhiều nước đang thực hiện trước sự phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử.
“Ví dụ như ở Innodesia thì Chính phủ của họ rất mạnh mẽ trong việc bảo vệ doanh nghiệp vừa và nhỏ. Họ yêu cầu các sàn thương mại điện tử và các nền tảng số phải hạn chế tăng phí quá cao làm tổn hại đến doanh nghiệp sản suất trong nước. Họ quản lý phí trên sàn xem như là chi phí đặc biệt mà nhà nước có quyền điều tiết”, ông Nhi cho biết thêm.
Càng bán càng lỗ
Bà Vũ Kim Hạnh - Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Hàng Việt Nam chất lượng cao cho rằng, hiện nay, doanh nghiệp bán hàng trên sàn thương mại điện tử đang bị chèn ép, bên cạnh phí sàn giá quá cao thì dịch vụ logistics các sàn cũng độc quyền, doanh nghiệp không được chọn dịch vụ bên ngoài dù chi thấp hơn.
Do các mức phí của sàn quá cao nên có doanh nghiệp cho biết, có ngày họ bán trên sàn thương mại điện tử khoảng 2.000 đơn hàng, nhưng không có lợi nhuận, thậm chí càng bán càng lỗ.
Ngoài thu phí cao, sàn còn yêu cầu doanh nghiệp thường xuyên khuyến mãi để giảm giá bán với lý lẽ người tiêu dùng đã nghiện khuyến mãi rồi.
Bà Vũ Kim Hạnh cho biết, để tránh độc quyền và đảm bảo phát triển bền vững cho doanh nghiệp sản xuất, một số quốc gia trong khu vực như: Indonesia, Malaisia, Thái Lan… đã quản lý trần phí sàn chứ không cho các sàn thương mại tùy ý tăng giá.
“Nhà nước cần phải quy định trần phí dịch vụ, hoa hồng trên sàn này và yêu cầu các nền tảng thương mại điện tử phải minh bạch thuật toán của họ. Đồng thời, phải yêu cầu các sàn không được không cho doanh nghiệp lựa chọn các dịch vụ logistics vận chuyển, đóng gói bên ngoài…mà không phải là dịch vụ độc quyền của họ", bà Hạnh nói.
Hiện nay, hành vi tiêu dùng thay đổi nên doanh nghiệp phải thay đổi phương thức bán hàng, tuy nhiên, để doanh nghiệp sản xuất “tự bơi” ở “sân” này thì rất khó khi sàn thương mại điện tử chủ yếu là doanh nghiệp nước ngoài. Sàn đang nắm “đằng chuôi” nên có quyền tăng giá bất cứ lúc nào, mức nào hay đưa ra những chính sách rất bất lợi và doanh nghiệp buộc phải đồng ý nếu không muốn bị loại khỏi “sân chơi” này.
Nửa đầu năm, Nông nghiệp Hòa Phát tiêu thụ gần 177.000 tấn thức ăn chăn nuôi, xuất bán hơn 212.000 con heo và 170,7 triệu quả trứng, tạo đà hoàn thành kế hoạch năm 2026.
Theo CTCP Phát triển Nông nghiệp Hòa Phát (HPA), trong quý II, tổng sản lượng tiêu thụ thức ăn chăn nuôi của doanh nghiệp đạt hơn 90.500 tấn, tăng gần 5% so với quý trước. Trong đó, hơn 46.000 tấn được bán ra thị trường, gần 44.500 tấn cung cấp cho các trang trại nội bộ, tăng hơn 9% so với quý I.
Ở mảng chăn nuôi heo, doanh nghiệp xuất bán gần 76.000 con heo thịt thương phẩm, tăng 17% so với quý trước. Sản lượng heo cai sữa giảm do doanh nghiệp chủ động giữ lại đàn để mở rộng quy mô tại trại Minh Đức, trong khi lượng heo hậu bị bán ra tăng hơn gấp đôi.
Mảng trứng gà ghi nhận sản lượng 86,1 triệu quả trong quý II, tăng nhẹ so với quý trước. Đối với chăn nuôi bò, công ty xuất chuồng hơn 2.600 con và chủ động điều tiết quy mô trước biến động nguồn cung trên thị trường.
Lũy kế 6 tháng đầu năm, doanh nghiệp tiêu thụ gần 177.000 tấn thức ăn chăn nuôi, xuất bán hơn 212.000 con heo, hơn 10.000 con bò và 170,7 triệu quả trứng gà.
Trong mảng chăn nuôi heo, hiện Nông nghiệp Hòa Phát vận hành 8 trang trại với quy mô 25.000 con nái, chủ động 100% con giống từ cụ kỵ, bố mẹ đến thương phẩm DanBred từ Đan Mạch. Doanh nghiệp cho biết năng suất sinh sản đạt 33-34 con cai sữa/nái/năm, cao gấp khoảng 1,5 lần mức trung bình của ngành.
Ở mảng thức ăn chăn nuôi, sản phẩm của Hòa Phát được phân phối thông qua hơn 600 đại lý trên cả nước. Với mảng trứng gà, bình quân gần một triệu quả được đưa ra thị trường mỗi ngày qua hệ thống bán lẻ, siêu thị, nhà máy thực phẩm, khách sạn, trường học và xuất khẩu sang Lào, Campuchia, giúp doanh nghiệp tiếp tục giữ vị trí số 1 về thị phần trứng gà sạch tại miền Bắc. Trong khi đó, mảng bò đang mở rộng thêm nguồn cung ngoài bò Australia nhằm duy trì hiệu quả hoạt động.
Năm 2026, Nông nghiệp Hòa Phát đặt mục tiêu doanh thu 7.200 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế 1.005 tỷ đồng. Doanh nghiệp tiếp tục phát triển mô hình chăn nuôi khép kín từ thức ăn, con giống đến chăn nuôi thương phẩm nhằm kiểm soát chi phí, hạn chế rủi ro dịch bệnh và nâng cao hiệu quả kinh doanh.
CTCP Phát triển Nông nghiệp Hòa Phát là doanh nghiệp phụ trách mảng kinh doanh nông nghiệp thuộc hệ sinh thái của "vua thép" Hòa Phát, do tỷ phú Trần Đình Long làm Chủ tịch.
Hòa Phát bắt đầu đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp từ năm 2015. Một năm sau, Công ty Nông nghiệp Hòa Phát được thành lập, giữ vai trò kiểm soát toàn bộ lĩnh vực này của "vua thép" với chuỗi giá trị khép kín từ sản xuất thức ăn chăn nuôi đến chăn nuôi trang trại.
Đến năm 2030, Nông nghiệp Hòa Phát đặt mục tiêu mở rộng công suất thức ăn chăn nuôi với 1 triệu tấn/năm, heo thương phẩm đạt 900.000 con/năm, quy mô chăn nuôi bò đạt 73.000 con/năm và gia cầm duy trì 336 triệu quả trứng/năm. Khi đó, doanh thu dự kiến vượt 12.000 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế khoảng 1.750 tỷ đồng.
Ngày 9/7/2026, Green SM được vinh danh tại lễ trao giải HR Asia Awards 2026 với hai giải thưởng gồm “Nơi làm việc tốt nhất châu Á tại Việt Nam” và “Ứng dụng công nghệ trao quyền cho nhân sự”.
Đây là sự ghi nhận cho chiến lược phát triển nguồn nhân lực lấy con người làm trọng tâm, kết hợp ứng dụng công nghệ để trao quyền và xây dựng văn hóa tổ chức thống nhất tại Green SM.
HR Asia Awards là giải thưởng nhân sự thường niên uy tín tại châu Á, nhằm tôn vinh những doanh nghiệp sở hữu môi trường làm việc nổi bật cùng chiến lược phát triển con người bền vững.
Chương trình áp dụng mô hình khảo sát TEAM (Total Engagement Assessment Model) để đánh giá mức độ gắn kết, niềm tin và trải nghiệm của người lao động, dựa trên dữ liệu tham chiếu từ hơn 2,5 triệu người lao động thuộc 20.000 tổ chức trong khu vực.
Theo kết quả khảo sát độc lập của HR Asia Awards 2026, Green SM đạt kết quả vượt trội so với mặt bằng thị trường tại hạng mục “Nơi làm việc tốt nhất châu Á” ở nhiều tiêu chí quan trọng, bao gồm ứng dụng công nghệ trong công việc (4,8/5), môi trường làm việc bền vững (4,71/5), đa dạng - công bằng - hòa nhập (4,72/5).
Đáng chú ý, tinh thần “Mọi ý kiến đều được lắng nghe” (Every Voice Counts) được Green SM triển khai thông qua hệ thống khảo sát nội bộ, đánh giá 360 độ cùng các kênh tiếp nhận phản hồi thường xuyên. Những đóng góp từ người lao động được chuyển hóa thành các cải tiến trong chính sách và hoạt động vận hành của doanh nghiệp.
Green SM xác định phát triển đội ngũ không chỉ là một định hướng về nhân sự mà còn là yếu tố then chốt quyết định chất lượng dịch vụ. Vì vậy, công ty chú trọng đầu tư toàn diện vào tuyển dụng, đào tạo, chuẩn hóa tác phong phục vụ, xây dựng văn hóa ứng xử và thiết lập lộ trình phát triển nghề nghiệp cho đội ngũ tài xế.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp triển khai nhiều chương trình nâng cao năng lực dành cho quản lý và nhân viên, kết hợp giữa đào tạo thực tiễn với nền tảng học tập số nhằm cải thiện năng lực lãnh đạo, quản trị và khả năng thích ứng trong bối cảnh môi trường kinh doanh liên tục thay đổi.
Song song với phát triển nguồn nhân lực, Green SM từng bước xây dựng văn hóa tổ chức thống nhất trên phạm vi toàn cầu, kế thừa những giá trị được hình thành tại Việt Nam, đồng thời tôn trọng sự đa dạng về văn hóa và con người ở từng thị trường.
Môi trường làm việc tại Green SM đề cao sự hợp tác, tinh thần học hỏi và trao quyền, giúp đội ngũ tại các quốc gia cùng hướng tới những chuẩn mực chung về chất lượng dịch vụ, đồng thời linh hoạt đáp ứng nhu cầu của khách hàng và cộng đồng địa phương.
Tại hạng mục “Ứng dụng công nghệ trao quyền cho nhân sự” (Technology Empowerment Awards), Green SM được ghi nhận nhờ những nỗ lực trong số hóa quy trình, xây dựng hệ thống năng lực, phát triển nền tảng học tập số và ứng dụng dữ liệu vào quản trị nhân sự.
Việc đưa công nghệ vào quản lý giúp công ty giảm thiểu các công việc lặp lại, nâng cao hiệu quả ra quyết định, đồng thời tạo điều kiện để đội ngũ tập trung nhiều hơn vào đổi mới, cải thiện trải nghiệm khách hàng và nâng cao chất lượng dịch vụ.
Trong năm 2026, Green SM đặt mục tiêu mở rộng đội ngũ nhân sự và đối tác lên khoảng 400.000 người trên toàn cầu. Cùng với việc mở rộng hoạt động quốc tế, doanh nghiệp tiếp tục đầu tư phát triển con người và ứng dụng công nghệ trong quản trị, hướng tới xây dựng đội ngũ toàn cầu chuyên nghiệp, duy trì chất lượng dịch vụ đồng nhất và hiện thực hóa mục tiêu trở thành hệ thống di chuyển xanh hàng đầu thế giới.
Green SM là hãng gọi xe công nghệ do tỷ phú Phạm Nhật Vượng sáng lập vào năm 2023. Kể từ khi vận hành, Green SM đã trở thành nền tảng vận tải thuần điện có quy mô lớn nhất khu vực Đông Nam Á, hiện diện tại 4 quốc gia gồm Việt Nam, Lào, Indonesia và Philippines, với tổng cộng hơn 186.000 ô tô và xe máy điện đang hoạt động.
Green SM đang tạo ra việc làm ổn định cho hàng trăm nghìn tài xế, đồng thời hợp tác cùng gần 100 doanh nghiệp vận tải và 11 hãng xe buýt trong quá trình chuyển đổi sang mô hình vận hành thân thiện với môi trường.
Từ "mua mới" sang "mua đúng"
Chi phí vốn vẫn ở mức cao, dòng tiền đầu tư ngày càng thận trọng và các tiêu chuẩn phát triển bền vững liên tục được nâng lên đang làm thay đổi cách thị trường định giá bất động sản thương mại. Nếu trước đây, lợi thế thường thuộc về những dự án mới, thì nay yếu tố quyết định ngày càng nghiêng về khả năng tạo dòng tiền ổn định, thích ứng với nhu cầu của khách thuê và duy trì sức cạnh tranh trong suốt vòng đời khai thác.
Xu hướng này cũng phản ánh định hướng mới của môi trường đầu tư Việt Nam trong năm 2026. Bên cạnh mục tiêu duy trì tăng trưởng kinh tế, chính sách thu hút đầu tư nước ngoài chuyển mạnh sang ưu tiên dòng vốn chất lượng cao, công nghệ, đổi mới sáng tạo, giá trị gia tăng và hiệu quả dài hạn. Sự thay đổi đó không chỉ tác động đến chiến lược lựa chọn dự án của nhà đầu tư mà còn đặt ra yêu cầu mới đối với thị trường bất động sản.
Trong bối cảnh chi phí sử dụng vốn chưa trở lại mức thấp như giai đoạn trước, nhà đầu tư không còn đặt nặng yếu tố "mới" của tài sản mà quan tâm nhiều hơn đến khả năng tạo giá trị bền vững. Thị trường vì thế đang dịch chuyển từ tư duy "mua mới" sang "mua đúng", khi giá trị của một dự án không còn được quyết định bởi tuổi đời công trình mà phụ thuộc vào hiệu quả khai thác, khả năng thích ứng với nhu cầu thị trường và dư địa nâng cao giá trị trong tương lai.
Xu hướng này đang diễn ra rõ nét tại nhiều thị trường phát triển. Theo báo cáo Making Offices Fit for the Future: Retrofit or Redevelopment? của Savills, ngày càng nhiều chủ sở hữu lựa chọn cải tạo (retrofit) hoặc tái định vị tài sản hiện hữu thay vì phát triển dự án hoàn toàn mới. Quyết định này xuất phát từ nhiều yếu tố như chi phí xây dựng gia tăng, yêu cầu ngày càng khắt khe về ESG cũng như kỳ vọng cao hơn của khách thuê đối với chất lượng không gian làm việc, hiệu quả sử dụng năng lượng và tính linh hoạt của công trình.
Theo Savills, việc lựa chọn giữa cải tạo và tái phát triển không có một công thức chung. Mỗi tài sản cần được đánh giá trên nhiều tiêu chí, từ vị trí, chất lượng kết cấu công trình, hiệu quả tài chính đến nhu cầu của thị trường và tiềm năng phát triển của khu vực xung quanh. Điều này phản ánh sự thay đổi trong tư duy đầu tư, khi giá trị của bất động sản được nhìn nhận dựa trên khả năng tạo ra giá trị trong tương lai thay vì chỉ căn cứ vào thời điểm hoàn thành.
Chính vì vậy, hai tòa nhà cùng nằm trên một tuyến phố, cùng phân khúc, thậm chí được phát triển trong cùng một giai đoạn vẫn có thể được thị trường định giá rất khác nhau. Sự chênh lệch này phản ánh khả năng duy trì sức hút đối với khách thuê, tạo dòng tiền ổn định và đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng cao của thị trường.
Theo các chuyên gia, đây cũng là nguyên nhân khiến khoảng cách giữa nhóm tài sản dẫn đầu và phần còn lại của thị trường ngày càng lớn. Những dự án liên tục được đầu tư nâng cấp, thích ứng với các yêu cầu mới sẽ tiếp tục giữ lợi thế cạnh tranh, trong khi các tài sản chậm đổi mới có nguy cơ suy giảm hiệu quả khai thác dù vẫn sở hữu vị trí thuận lợi.
Xu hướng này diễn ra trong bối cảnh hoạt động đầu tư bất động sản toàn cầu phục hồi theo hướng chọn lọc hơn. Khi chi phí vốn chưa quay về mức thấp như trước đây, nhà đầu tư không còn ưu tiên mục tiêu tăng giá ngắn hạn mà tập trung vào các tài sản có khả năng tạo lợi nhuận ổn định, duy trì hiệu quả vận hành qua nhiều chu kỳ thị trường và còn dư địa gia tăng giá trị.
Sự thay đổi trong cách định giá tài sản cho thấy bất động sản thương mại đang bước sang một chu kỳ cạnh tranh mới. Trong bối cảnh dòng vốn ngày càng coi trọng chất lượng và hiệu quả sử dụng vốn, khả năng nâng cấp, tái định vị và duy trì giá trị khai thác sẽ trở thành yếu tố quyết định sức hấp dẫn của mỗi dự án. Đây không chỉ là xu hướng tại các thị trường phát triển mà còn là tín hiệu đáng chú ý đối với thị trường bất động sản thương mại Việt Nam trong những năm tới.
Khi giá trị tài sản được nhìn theo "vòng đời"
Nếu tại các thị trường phát triển, bất động sản thương mại đang được định giá theo "vòng đời giá trị", thì xu hướng này cũng bắt đầu hình thành rõ nét tại Việt Nam khi thị trường bước vào giai đoạn phát triển theo chiều sâu.
Sau gần hai thập kỷ mở rộng nguồn cung, nhiều dự án văn phòng, trung tâm thương mại và tổ hợp đa chức năng được phát triển trong giai đoạn 2005-2015 đang bước vào chu kỳ vận hành mới. Cùng với quá trình đô thị hóa, sự hoàn thiện của hạ tầng và yêu cầu ngày càng cao từ cộng đồng doanh nghiệp, tiêu chí đánh giá chất lượng tài sản cũng thay đổi đáng kể.
Nếu trước đây, nhà đầu tư thường coi thời điểm hoàn thành công trình hay vị trí trung tâm là lợi thế quyết định, thì hiện nay, khả năng duy trì hiệu quả khai thác, chất lượng khách thuê, hiệu suất vận hành và dư địa nâng cấp mới là những yếu tố tạo nên giá trị dài hạn của tài sản.
Theo bà Nguyễn Lê Dung, Trưởng Bộ phận Tư vấn Đầu tư, Savills Hà Nội, thị trường đang chuyển từ tư duy đánh giá bất động sản dựa trên tuổi đời công trình sang tiếp cận theo "vòng đời giá trị". Một tài sản chỉ thực sự được xem là dẫn đầu thị trường khi có thể duy trì sức cạnh tranh, tạo dòng tiền bền vững và liên tục thích ứng với những thay đổi của nhu cầu thuê cũng như xu hướng đầu tư.
Điều đó cũng đồng nghĩa với việc khái niệm "prime" đang được định nghĩa lại. Thay vì gắn với một công trình mới hoàn thành hoặc sở hữu vị trí đắc địa, tài sản "prime" ngày càng được nhìn nhận thông qua năng lực vận hành và khả năng tạo giá trị lâu dài. Lợi thế cạnh tranh không còn đến từ "tuổi trẻ" của công trình mà đến từ khả năng duy trì sức hấp dẫn trong suốt vòng đời khai thác.
Sự thay đổi trong cách định giá tài sản phản ánh yêu cầu ngày càng cao của thị trường. Nếu trước đây doanh nghiệp chủ yếu quan tâm đến diện tích và vị trí, thì nay các tiêu chí như chất lượng môi trường làm việc, hiệu quả sử dụng năng lượng, tiêu chuẩn vận hành, khả năng đáp ứng các mục tiêu ESG và tính linh hoạt của không gian trở thành những yếu tố quan trọng khi lựa chọn mặt bằng.
Điều này buộc các chủ đầu tư phải liên tục đầu tư nâng cấp và tái định vị tài sản thay vì chỉ dựa vào lợi thế của một công trình từng được đánh giá hiện đại tại thời điểm đưa vào khai thác. Theo bà Nguyễn Lê Dung, những tiêu chuẩn mới của thị trường không được xác lập bởi năm hoàn thành công trình mà bởi khả năng thích ứng với hành vi của khách thuê, yêu cầu của doanh nghiệp và sự dịch chuyển của dòng vốn đầu tư.
Đối với Việt Nam, đây được dự báo sẽ là xu hướng nổi bật trong giai đoạn tới, khi thị trường bất động sản thương mại chuyển từ mở rộng nguồn cung sang nâng cao chất lượng tài sản. Đồng thời, định hướng thu hút dòng vốn FDI chất lượng cao, ưu tiên công nghệ, đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững cũng khiến yêu cầu của các doanh nghiệp quốc tế đối với văn phòng và mặt bằng thương mại ngày càng khắt khe hơn.
Trong bối cảnh đó, việc nâng cấp, tái định vị và gia tăng giá trị tài sản không chỉ là yêu cầu để duy trì hiệu quả khai thác mà còn trở thành điều kiện quan trọng để thu hút dòng vốn đầu tư mới. Các chuyên gia nhận định, khi thị trường tiếp tục định nghĩa lại khái niệm "prime", lợi thế sẽ không còn thuộc về những tài sản đơn thuần là mới nhất, mà thuộc về những dự án có khả năng liên tục tự làm mới mình nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng cao của khách thuê và nhà đầu tư.
Nguồn: VOV; Báo Mới; Người Quan Sát; Thời Báo Ngân Hàng
Việt Nam: Bức tranh bất động sản Hà Nội; Giá nhà giảm khắp nơi; Chuyện bán đất “cắt lỗ sớm”; Một cổ phiếu tăng hơn 200% sau 12 phiên
Việt Nam: Hệ sinh thái 8 tỷ phú USD; Giá đất nền giảm sâu; Mô hình tàu cao tốc của Trần Bá Dương; 5 mẫu xe hybrid hút khách nhất; Bất động sản TP.HCM
Việt Nam: Cơn hoảng loạn chưa hồi kết; Giá nhà vượt khả năng chi trả; Cuộc đua bất động sản công nghệ cao; Các tỷ phú đóng góp cho đất nước; Doanh nhân Tài Phạm
Việt Nam: Xuất khẩu 10.000 tấn gạo sang Hàn Quốc; Nhiều lô đất nền cắt lỗ; Bất động sản khó giảm sâu; 19.500 doanh nghiệp thành lập mới; Dự án 2.000 ha của Bầu Đức tại Lào
Việt Nam: Người mua ô tô tất toán khoản vay; Tổng tài sản 5 tỉ phú; Dự báo giá vàng; Bất động sản được “hậu thuẫn” từ nhu cầu ở thực; Yếu tố cạnh tranh mới bất động sản công nghiệp
Việt Nam: Đặng Lê Nguyên Vũ mời miễn phí 1.000 ly café; Hòn đảo 10.333 tỷ đồng; 10 ngày dồn dập ở Đà Nẵng; Bắt ông Nguyễn Duy Dũng; Tập đoàn Hàn Quốc đầu tư 6 tỷ USD
Việt Nam: Vingroup xây nhà máy 500 triệu USD; 2.000 doanh nghiệp rút khỏi Thái Nguyên; Nhà trong hang của “vua café”; Ngân hàng có vốn 200.000 tỷ; Nhà đất Thanh Hà cắt lỗ
Việt Nam: 5 nữ doanh nhân quyền lực nhất; VinFast bán ra hơn 70.000 ô tô điện; Dự án thủy điện đội vốn 46.000 tỷ; Giao dịch bất động sản thấp kỷ lục; Dự án Khu đô thị 115ha
Bình luận và đánh giá
Gửi nhận xét đánh giá