Tạo thuận lợi để doanh nghiệp gia nhập, “khai tử”; Mua bán bất động sản chú ý; Quy định mới trách nhiệm tổ chức kinh doanh; Hỗ trợ học nghề người thu hồi đất; Cấp sổ đỏ đất tự khai hoang

Tạo thuận lợi nhất để doanh nghiệp gia nhập cũng như ‘khai tử’

Trường hợp doanh nghiệp ngừng hoạt động nhiều năm và bị truy thu tiền để được “khai tử” đang nhận được sự quan tâm của cộng đồng doanh nghiệp và dư luận. Trước vấn đề cấp bách này, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng đã yêu cầu ngành Tài chính cần đơn giản, rút gọn quy trình giải thể, phá sản với doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), tránh tình trạng "gia nhập thị trường đã khó, rời khỏi còn khó hơn".

Gỡ nút thắt để doanh nghiệp ‘khai tử’

Trong mấy tháng gần đây, ngành Thuế đã triển khai Chiến dịch làm sạch mã số thuế nhằm rà soát cơ sở dữ liệu, hoàn tất tình trạng pháp lý của những công ty đã dừng hoạt động. Nhiều doanh nghiệp được nhận thông báo từ cơ quan Thuế, không ít chủ doanh nghiệp phải chật vật gom tiền nộp vì sợ bị cưỡng chế, nhất là nguy cơ bị tạm hoãn xuất cảnh.

Theo thông tin mới nhất từ Cục Thuế, trong những năm qua, số lượng lũy kế doanh nghiệp, tổ chức, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn thành thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế tiếp tục gia tăng.

Đặc biệt, tình trạng người nộp thuế (NNT) không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký với cơ quan Thuế (bỏ địa chỉ kinh doanh), trốn tránh nghĩa vụ thuế vẫn diễn ra ở nhiều địa bàn, ngành nghề kinh doanh. Đơn cử, tại thời điểm tháng 6/2026, số lượng doanh nghiệp ở 2 tình trạng trên là gần 600.000 doanh nghiệp. 

“Đây là một trong những điểm nghẽn lớn trong công tác quản lý thuế, làm gia tăng hồ sơ tồn đọng, kéo dài thời gian xử lý thủ tục hành chính, gây lãng phí nguồn lực xã hội, ảnh hưởng đến tính minh bạch của môi trường kinh doanh, tác động trực tiếp đến NNT chấp hành tốt pháp luật và tiềm ẩn rủi ro thất thu ngân sách Nhà nước (NSNN); đồng thời làm phát sinh nhiều rủi ro pháp lý đối với chủ doanh nghiệp, người đại diện theo pháp luật, chủ hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh khi không thực hiện hoặc chưa hoàn thành nghĩa vụ thuế theo quy định. 

Bên cạnh đó, thực tiễn quản lý cho thấy một bộ phận đối tượng đã lợi dụng sự thông thoáng của thủ tục thành lập doanh nghiệp, đăng ký kinh doanh để thành lập pháp nhân không phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh thực chất; lợi dụng sử dụng hóa đơn không hợp pháp để hợp thức hóa chi phí, trốn thuế, chiếm đoạt tiền thuế, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, kỷ cương quản lý Nhà nước, môi trường đầu tư, kinh doanh và hiệu lực quản lý thuế.

Trong 8 tháng năm 2026, ngành Thuế đã hoàn tất chấm dứt hiệu lực mã số thuế cho 94.991 doanh nghiệp/tổ chức, bằng 209% cùng kỳ năm 2025, bao gồm 23.017 doanh nghiệp/tổ chức đề nghị chấm dứt hiệu lực mã số thuế trong năm 2026 do không còn nhu cầu hoạt động sản xuất kinh doanh và 71.974 doanh nghiệp/tổ chức có hồ sơ nộp từ năm 2025 về trước, là các trường hợp được cơ quan thuế xử lý trong Chiến dịch Làm sạch Mã số thuế.  Đồng thời, cơ quan Thuế các cấp cũng đã hỗ trợ rà soát và khôi phục mã số thuế để 3.554 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động sản xuất kinh doanh.

Trao đổi với phóng viên báo Tin tức và Dân tộc chiều 11/9, luật sư Nguyễn Văn Tuấn, Giám đốc Công ty Luật TNHH TGS đề xuất: Cần cơ chế “khai tử” đơn giản để doanh nghiệp tiếp tục khởi nghiệp.

Theo luật sư Nguyễn Văn Tuấn, Luật Quản lý thuế áp dụng cơ chế NNT tự kê khai, tự nộp và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật. Khi một doanh nghiệp tự ý dừng vận hành mà không làm thủ tục tạm ngừng, hoặc giải thể theo Luật Doanh nghiệp, trên hệ thống pháp lý, doanh nghiệp đó vẫn đang tồn tại.

“Về phía cơ quan Thuế, pháp luật không quy định nghĩa vụ phải gửi văn bản cảnh báo liên tục. Thay vào đó, khi không nhận được tờ khai, cơ quan Thuế sẽ ban hành thông báo NNT không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký và khóa mã số thuế. Kể từ thời điểm này, toàn bộ rủi ro pháp lý thuộc về phía chủ doanh nghiệp”, luật sư Nguyễn Văn Tuấn chia sẻ.

Đề cập trường hợp một doanh nghiệp đã ngừng hoạt động từ năm 2007, nhưng gần 20 năm sau vẫn chưa thể khép lại thủ tục giải thể và phải xử lý số tiền còn tồn đọng lên tới gần 80 triệu đồng, luật sư cho rằng, trong khoảng thời gian đó, những nghĩa vụ chưa được xử lý tiếp tục cộng dồn, từ lệ phí môn bài, tiền chậm nộp đến tiền phạt do chậm nộp tờ khai.

“Đối với con số từ vài chục đến hàng trăm triệu đồng, nhiều người lầm tưởng đây hoàn toàn là tiền phạt chậm nộp tờ khai trong khoảng thời gian ngừng hoạt động (hàng chục năm). Nhưng thực tế, theo Điều 8 Nghị định 125/2020/NĐ-CP, thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính về thủ tục thuế chỉ là 2 năm, nghĩa là cơ quan Thuế không thể phạt hành vi không nộp tờ khai từ năm 2014 ở thời điểm năm 2026. Cấu thành của khoản tiền này đến từ bốn nguồn chính. Đầu tiên là lệ phí môn bài bị tính liên tục 12 năm do doanh nghiệp không thông báo tạm ngừng, bởi thuế và lệ phí không áp dụng thời hiệu truy thu”, luật sư Nguyễn Văn Tuấn cho biết.

Tiếp theo là tiền phạt chậm nộp tiền thuế và lệ phí môn bài tính theo mức 0,03%/ngày, qua hơn 10 năm khoản “lãi mẹ đẻ lãi con” này tăng lên rất lớn; tiền phạt vi phạm thủ tục bị áp dụng mức kịch khung cho các tờ khai còn thiếu trong thời hiệu 2 năm gần nhất khi doanh nghiệp buộc phải khôi phục mã số thuế. Cuối cùng là chi phí dịch vụ kế toán, pháp lý bên ngoài do hồ sơ treo quá lâu, người dân không thể tự xử lý.

Bà Nguyễn Thị Cúc, Chủ tịch Hội Tư vấn Thuế Việt Nam cho rằng, tình trạng này xuất phát từ một bộ phận doanh nghiệp, hộ kinh doanh không am hiểu pháp luật hoặc bỏ quên hoàn thành thủ tục pháp lý sau khi dừng kinh doanh. Vướng mắc lớn nhất hiện nay, theo bà Nguyễn Thị Cúc, là cách xác định nghĩa vụ thuế, tiền phạt và tiền chậm nộp cho nhóm này. Do vậy, cần phân loại nhóm để xử lý, thay vì áp dụng phương thức chung cho tất cả doanh nghiệp.

Với công ty chưa đóng mã số thuế do "bỏ quên", đại diện Hội Tư vấn Thuế đề nghị nhà điều hành có thể nghiên cứu không truy thu lệ phí môn bài, tiền chậm nộp, phạt chậm nộp hồ sơ khai thuế trong thời gian đóng cửa và chỉ phạt việc họ không đóng mã số thuế. Điều kiện là họ không kinh doanh, chưa phát sinh doanh thu, chi phí và nợ thuế.

Ngoài ra, ngành Thuế cần phân loại theo từng sắc thuế, thời gian nợ và chỉ tính tiền chậm nộp tối đa 5 năm với khoản phát sinh của doanh nghiệp trước thời điểm ngừng hoạt động, không có gian lận. Ngược lại, trường hợp lợi dụng chính sách để lập doanh nghiệp "ma", mua bán hóa đơn, trốn thuế, bỏ địa chỉ đăng ký hoặc giả mạo thông tin người khác... cần được xử lý nghiêm.

Sửa đổi đồng bộ Luật Doanh nghiệp và Luật Quản lý thuế

Một số chuyên gia cho rằng, việc tháo gỡ thủ tục giải thể doanh nghiệp không phải là dung túng cho hành vi trốn thuế, mà là sự cần thiết để minh bạch hóa môi trường đầu tư và giúp những người từng thất bại có cơ hội “khai tử” để tiếp tục khởi nghiệp.

Tình trạng “sống dở chết dở” của các doanh nghiệp “đắp chiếu” không mang lại nguồn thu thực tế cho ngân sách; đồng thời tạo ra khối lượng “dữ liệu rác” khổng lồ và triệt tiêu cơ hội làm lại của người dân. Để tháo gỡ triệt để nút thắt này, việc sửa đổi đồng bộ Luật Doanh nghiệp và Luật Quản lý thuế là yêu cầu cấp thiết hiện nay.

Giám đốc Công ty Luật TNHH TGS đề xuất, cần bổ sung cơ chế xóa tên tự động. Việt Nam nên tham khảo kinh nghiệm từ các quốc gia như Singapore hay nước Anh như: “nếu một doanh nghiệp không phát sinh doanh thu, không nộp báo cáo tài chính trong 3 năm liên tiếp và không nợ thuế gốc, cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan Thuế có quyền tự động chấm dứt hiệu lực mã số thuế và gạch tên doanh nghiệp khỏi sổ đăng ký mà không bắt chủ doanh nghiệp trải qua chuỗi thủ tục phức tạp”.

Giải pháp tiếp theo, áp dụng cơ chế giải thể trước, bảo lưu nghĩa vụ thuế cá nhân sau. Cần tách bạch giữa sinh mệnh pháp nhân và nghĩa vụ tài sản. “Cho phép các DNVVN không nợ thuế bên thứ ba được quyền nộp đơn xin giải thể ngay dựa trên cam kết tự kê khai để đóng vĩnh viễn mã số thuế, tránh để lệ phí môn bài phát sinh”, luật sư Nguyễn Văn Tuấn cho biết.

Nếu quá trình hậu kiểm phát hiện nợ thuế gốc, khoản nợ này sẽ chuyển đổi thành nghĩa vụ dân sự cá nhân gắn vào mã số thuế của người đại diện pháp luật. Giải pháp tháo gỡ tiếp theo là cho phép ân hạn và miễn trừ phạt thủ tục, lệ phí môn bài cho doanh nghiệp đã ngừng hoạt động thực tế. Cần ban hành quy định miễn truy thu lệ phí môn bài và miễn tiền phạt vi phạm thủ tục kê khai đối với các đơn vị chứng minh được đã dừng hoạt động, không có dòng tiền, không xuất hóa đơn trong giai đoạn bị khóa mã số thuế. Cơ quan quản lý chỉ nên thu phần thuế gốc và tiền chậm nộp thuế gốc (nếu có).

Bản chất lệ phí môn bài là thu trên cơ sở có hoạt động kinh doanh, việc truy thu suốt hàng chục năm đối với một doanh nghiệp đã “chết lâm sàng” là chưa phù hợp với nguyên lý thuế. “Cần xây dựng hệ thống cảnh báo vi phạm chủ động từ sớm. Với sự phát triển của hệ thống VNeID và cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ quan thuế cần xây dựng cơ chế tự động gửi thông báo cảnh báo qua tin nhắn, hoặc ứng dụng cho người đại diện pháp luật ngay khi doanh nghiệp trễ hạn tờ khai đầu tiên. Điều này giúp người dân nhận thức rõ hậu quả pháp lý để khắc phục ngay, tránh tình trạng vi phạm kéo dài rồi mới xử lý”, luật sư Nguyễn Văn Tuấn chia sẻ.

Xem tiếp tại đường Link =>

https://share.google/2aTsYEVihuesgVVUs

Tất cả người dân mua bán bất động sản chú ý mức phạt đến 1 tỷ đồng vừa áp dụng

Chính phủ đã ban hành Nghị định số 339/2026/NĐ-CP nhằm thắt chặt quản lý trật tự xây dựng, kinh doanh bất động sản và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người tiêu dùng, có hiệu lực từ ngày 26/8 vừa qua. Điểm nhấn đột phá của văn bản mới này là việc nâng khung chế tài tài chính lên mức cao chưa từng có đối với các hành vi lách luật trong giao dịch, chuyển nhượng hợp đồng bất động sản, đặc biệt là các dự án hình thành trong tương lai.

Mức phạt tới 1 tỷ đồng cho hành vi chuyển nhượng hợp đồng sai quy định

Căn cứ quy định tại Khoản 4 Điều 71 Nghị định số 339/2026/NĐ-CP, hành vi chuyển nhượng hợp đồng mua bán, thuê mua nhà ở hoặc công trình xây dựng mà không đáp ứng đầy đủ các điều kiện pháp lý theo quy định sẽ phải đối mặt với mức phạt tiền đặc biệt nặng, từ 800.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng đối với tổ chức vi phạm (mức phạt áp dụng cho cá nhân vi phạm bằng một nửa theo quy định tại Khoản 4 Điều 5 của Nghị định).

Song song với hình thức phạt tiền, Điểm e Khoản 5 Điều 71 còn buộc bên chuyển nhượng phải thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả nghiêm ngặt: hoàn trả toàn bộ số tiền đã thu trái quy định cho bên nhận chuyển nhượng, đi kèm khoản lợi tức phát sinh tương ứng tính trên số tiền đã thu.

So với quy định trước đây tại Điểm h Khoản 3 Điều 58 Nghị định số 16/2022/NĐ-CP (chỉ phạt từ 400 đến 600 triệu đồng đối với hành vi chuyển nhượng hợp đồng mua bán, thuê mua nhà ở hình thành trong tương lai không đúng quy định), Nghị định 339/2026/NĐ-CP đã nhân đôi mức phạt tối đa nhằm hạn chế hoạt động "lướt cọc", giao dịch ngầm khi dự án chưa đủ điều kiện pháp lý.

Siết chặt các vi phạm về hợp đồng mẫu, giá bán và tách rời quyền sử dụng đất

Bên cạnh lỗi chuyển nhượng trái phép, Điều 71 Nghị định 339/2026/NĐ-CP còn thiết lập các khung xử phạt nghiêm khắc đối với hàng loạt hành vi gian lận và thiếu minh bạch trong khâu ký kết hợp đồng của chủ đầu tư, doanh nghiệp kinh doanh bất động sản:

Phạt từ 180.000.000 đến 260.000.000 đồng: Áp dụng đối với các hành vi không sử dụng hợp đồng theo mẫu quy định hoặc dùng hợp đồng thiếu nội dung cốt lõi; không xác định rõ các điều khoản bắt buộc trong hợp đồng mua bán, thuê mua căn hộ chung cư hoặc diện tích sàn xây dựng; đồng thời xử lý nghiêm hành vi không xác nhận, xác nhận sai lệch hợp đồng chuyển nhượng hoặc tự ý thu tiền trái quy định khi thực hiện xác nhận chuyển nhượng hợp đồng.

Phạt từ 260.000.000 đến 300.000.000 đồng: Cho hành vi ký kết hợp đồng mua bán nhà ở, công trình xây dựng hoặc phần diện tích sàn nhưng không gắn liền với quyền sử dụng đất theo đúng quy định pháp luật.

Xem tiếp tại đường Link =>

https://share.google/GmzGAeDdLjxl9jS3Y

Quy định mới về trách nhiệm của tổ chức kinh doanh, cung cấp sản phẩm, dịch vụ dữ liệu

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc thay mặt Chính phủ ký ban hành Nghị định số 347/2026/NĐ-CP ngày 08/9/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của 4 Nghị định về khoa học, công nghệ, sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu; phòng cháy, chữa cháy; xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội, bạo lực gia đình.

Quy định mới về trách nhiệm của tổ chức kinh doanh, cung cấp sản phẩm, dịch vụ dữ liệu.

Nghị định số 347/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực từ ngày 15/9/2026, trong đó có các nội dung sửa đổi, bổ sung Nghị định số 169/2025/NĐ-CP ngày 30/6/2025 quy định hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu. 

Sửa đổi quy định về điều kiện cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh hoạt động sàn dữ liệu 

Nghị định số 347/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số quy định về điều kiện cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh hoạt động sàn dữ liệu. 

Theo đó, điều kiện về nhân sự yêu cầu phải có ít nhất 05 người có trình độ đại học trở lên, trong đó có ít nhất 40% làm việc chính thức, 30% có chứng chỉ, chứng nhận hoàn thành khoá học do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp theo quy định của pháp luật; nội dung khóa học thuộc một trong các lĩnh vực sau đây: khoa học dữ liệu, phân tích dữ liệu, quản lý, quản trị dữ liệu, tư vấn, môi giới, xúc tiến thương mại; quản trị tài sản; thẩm định dữ liệu. 

Nghị định số 347/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung Điều 36 Nghị định số 169/2025/NĐ-CP về thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ sàn dữ liệu; Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh sản phẩm, dịch vụ trung gian, phân tích, tổng hợp dữ liệu; Giấy chứng nhận đủ điều kiện cung cấp sản phẩm, dịch vụ phân tích, tổng hợp dữ liệu. Cụ thể:

Bộ Công an cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ sàn dữ liệu; Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh sản phẩm, dịch vụ trung gian, phân tích, tổng hợp dữ liệu; Giấy chứng nhận đủ điều kiện cung cấp sản phẩm, dịch vụ phân tích, tổng hợp dữ liệu.

Bộ trưởng Bộ Công an giao cơ quan, đơn vị trực thuộc Bộ Công an có chức năng quản lý nhà nước về dữ liệu thực hiện việc cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ sàn dữ liệu; Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh sản phẩm, dịch vụ trung gian, phân tích, tổng hợp dữ liệu; Giấy chứng nhận đủ điều kiện cung cấp sản phẩm, dịch vụ phân tích, tổng hợp dữ liệu theo quy định.

Sửa đổi, bổ sung thủ tục cấp Giấy chứng nhận điều kiện kinh doanh dịch vụ sàn dữ liệu

Ngoài ra, Nghị định số 347/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung quy định về hồ sơ và trình tự thời hạn giải quyết cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ sàn dữ liệu; Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh sản phẩm, dịch vụ trung gian, phân tích, tổng hợp dữ liệu; Giấy chứng nhận đủ điều kiện cung cấp sản phẩm, dịch vụ phân tích, tổng hợp dữ liệu.

Về hồ sơ, tờ khai đề nghị cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ sàn dữ liệu áp dụng theo Mẫu TK01; Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh sản phẩm, dịch vụ trung gian, phân tích, tổng hợp dữ liệu theo Mẫu TK02; Giấy chứng nhận đủ điều kiện cung cấp sản phẩm, dịch vụ phân tích, tổng hợp dữ liệu theo Mẫu TK04 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này.

Nghị định số 347/2026/NĐ-CP nêu rõ: Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận đầy đủ ý kiến tham gia của các đơn vị có liên quan, cơ quan có thẩm quyền quy định tại Điều 36 Nghị định này xem xét, quyết định cấp bản giấy và bản điện tử Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ sàn dữ liệu theo Mẫu GCN01, Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh sản phẩm, dịch vụ trung gian, phân tích, tổng hợp dữ liệu theo Mẫu GCN02, Giấy chứng nhận đủ điều kiện cung cấp sản phẩm, dịch vụ phân tích, tổng hợp dữ liệu theo Mẫu GCN04 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này; trường hợp không cấp phải có thông báo bằng văn bản nêu rõ lý do.

Tổ chức kinh doanh báo cáo định kỳ việc cung cấp sản phẩm, dịch vụ cho Bộ Công an trước 20/12 hằng năm

Bên cạnh đó, Nghị định số 347/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 5 Điều 31 của Nghị định số 169/2025/NĐ-CP về trách nhiệm của tổ chức kinh doanh, cung cấp sản phẩm, dịch vụ phân tích, tổng hợp dữ liệu.

Nghị định nêu rõ: tổ chức cung cấp sản phẩm, dịch vụ phân tích, tổng hợp dữ liệu phải gửi thông báo về Trung tâm dữ liệu quốc gia trước khi hoạt động và báo cáo định kỳ về việc cung cấp sản phẩm, dịch vụ theo Mẫu BC01 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này cho Bộ Công an (qua Trung tâm dữ liệu quốc gia) trước ngày 20/12 hằng năm (số liệu báo cáo tính từ ngày 15/12 năm trước đến hết ngày 14/12 năm báo cáo) hoặc báo cáo đột xuất khi được yêu cầu. Việc gửi thông báo và báo cáo định kỳ được thực hiện bằng một trong các phương thức: trực tiếp, qua dịch vụ bưu chính hoặc trực tuyến.

Tổ chức cung cấp sản phẩm, dịch vụ phân tích, tổng hợp dữ liệu đang hoạt động trước ngày Nghị định này có hiệu lực thực hiện thông báo về Trung tâm dữ liệu quốc gia trong thời hạn 20 ngày làm việc sau khi Nghị định này có hiệu lực.

Bãi bỏ điều kiện kinh doanh sản phẩm, dịch vụ phân tích, tổng hợp dữ liệu

Đáng chú ý, Nghị định bãi bỏ khoản 1 Điều 28 Nghị định số 169/2025/NĐ-CP. Theo đó, từ ngày 15/9/2026 sẽ không còn quy định những tổ chức cung cấp sản phẩm, dịch vụ phân tích, tổng hợp dữ liệu sau đây phải được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh sản phẩm, dịch vụ phân tích, tổng hợp dữ liệu:

a) Sản phẩm, dịch vụ phân tích, tổng hợp dữ liệu thuộc nhóm cấp độ 3, cấp độ 4 trong hệ thống thông tin của cơ quan nhà nước.

Xem tiếp tại đường Link =>

https://share.google/qVvJlFXaucWKv9tf0

Chính thức: Nhà nước thu hồi đất, người dân nhận hỗ trợ 3 triệu đồng học nghề, đối tượng nào được nhận?

Theo Luật Đất đai 2024 và các văn bản hướng dẫn, việc hỗ trợ đào tạo nghề phụ thuộc vào đối tượng, tình trạng sử dụng đất, quá trình tạo thu nhập và quy định cụ thể của từng địa phương.

Khi Nhà nước thu hồi đất, người dân không chỉ được xem xét bồi thường về đất và tài sản mà trong một số trường hợp còn được hưởng chính sách hỗ trợ đào tạo nghề, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm. Mức hỗ trợ khoảng 3 triệu đồng được nhiều người quan tâm, nhưng không phải ai bị thu hồi đất cũng mặc nhiên được nhận khoản tiền này.

Theo Luật Đất đai 2024 và các văn bản hướng dẫn, việc hỗ trợ đào tạo nghề phụ thuộc vào đối tượng, tình trạng sử dụng đất, quá trình tạo thu nhập và quy định cụ thể của từng địa phương.

Chính sách hỗ trợ học nghề khi Nhà nước thu hồi đất

Điều 109 Luật Đất đai 2024 quy định về chính sách hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm đối với người có đất bị thu hồi. Chính sách này hướng tới việc giúp người dân có thêm điều kiện ổn định cuộc sống, tìm kiếm việc làm hoặc chuyển sang ngành nghề mới khi mất đất sản xuất.

Các quy định liên quan còn được hướng dẫn tại Nghị định 88/2024/NĐ-CP và Quyết định 12/2024/QĐ-TTg. Bên cạnh đó, UBND cấp tỉnh căn cứ quy định pháp luật và điều kiện ngân sách để ban hành mức hỗ trợ cụ thể trên địa bàn.

Vì vậy, khoản 3 triệu đồng học nghề không phải mức tiền cố định áp dụng đồng loạt trên cả nước. Đây có thể là mức kinh phí hỗ trợ đối với khóa đào tạo nghề trình độ sơ cấp hoặc khóa đào tạo dưới 3 tháng tại một số địa phương.

Ngoài hỗ trợ đào tạo nghề, người đủ điều kiện còn có thể được hưởng các chính sách khác như hỗ trợ chuyển đổi nghề bằng tiền, tư vấn và giới thiệu việc làm, hỗ trợ vay vốn tạo việc làm hoặc hỗ trợ tiền ăn, tiền đi lại trong thời gian học nghề.

Ai có thể được nhận hỗ trợ học nghề?

Không phải mọi trường hợp bị thu hồi đất đều được hỗ trợ đào tạo nghề.

Nhóm đối tượng phổ biến là hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp có đất nông nghiệp bị Nhà nước thu hồi. Người sử dụng đất cần đáp ứng các điều kiện theo quy định, trong đó có việc trực tiếp sản xuất và tạo thu nhập từ diện tích đất bị thu hồi tại thời điểm phương án bồi thường, hỗ trợ được phê duyệt.

Một số nhóm khác cũng có thể thuộc diện được xem xét hỗ trợ, gồm người nhận khoán đất của nông trường, lâm trường hoặc công ty nông, lâm nghiệp theo hợp đồng hợp pháp; người thuộc diện bảo trợ xã hội, hộ nghèo, hộ cận nghèo; thương binh, bệnh binh, thân nhân liệt sĩ thuộc trường hợp pháp luật quy định.

Trường hợp sử dụng đất ở kết hợp kinh doanh dịch vụ nhưng việc Nhà nước thu hồi đất khiến người dân mất địa điểm kinh doanh và nguồn thu nhập chính cũng có thể được xem xét hỗ trợ theo quy định.

Đối với đất nông nghiệp, diện tích làm căn cứ hỗ trợ là phần diện tích thực tế bị thu hồi nhưng không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp theo quy định.

Có thời hạn đăng ký học nghề sau khi bị thu hồi đất

Một điểm đáng chú ý là người có đất bị thu hồi không nhất thiết phải đăng ký học nghề ngay tại thời điểm nhận bồi thường.

Theo nội dung tài liệu, người đủ điều kiện có thể đăng ký học nghề trong thời hạn 5 năm kể từ ngày quyết định thu hồi đất có hiệu lực.

Quy định này tạo khoảng thời gian nhất định để người dân lựa chọn nghề phù hợp với nhu cầu việc làm và điều kiện thực tế của gia đình.

Trong trường hợp một người đồng thời thuộc nhiều diện được hưởng chính sách đào tạo nghề, nguyên tắc áp dụng là không để xảy ra tình trạng hưởng trùng lặp đối với cùng một chính sách. Người thuộc nhiều diện có thể được áp dụng mức hỗ trợ cao nhất theo quy định.

Mức hỗ trợ học nghề có phải luôn là 3 triệu đồng?

Câu trả lời là không.

Mức 3 triệu đồng thường được nhắc đến là khoản kinh phí hỗ trợ đối với một khóa đào tạo nghề ngắn hạn tại một số địa phương. Mức cụ thể không được áp dụng thống nhất trên phạm vi toàn quốc mà do UBND cấp tỉnh quy định trên cơ sở khung pháp luật và điều kiện thực tế.

Nếu người dân tham gia chương trình đào tạo có thời gian dài hơn hoặc trình độ cao hơn, mức hỗ trợ có thể được xác định theo học phí thực tế trong giới hạn pháp luật cho phép.

Ngoài học phí, người tham gia còn có thể được xem xét hỗ trợ tiền ăn, tiền đi lại, tư vấn nghề nghiệp, giới thiệu việc làm hoặc tiếp cận nguồn vốn ưu đãi để tạo việc làm, tự kinh doanh.

Tiền hỗ trợ học nghề được chi trả thế nào?

Tùy cơ chế của từng địa phương, kinh phí đào tạo nghề có thể được thực hiện theo nhiều phương thức.

Xem tiếp tại đường Link =>

https://share.google/Fev3VwGCZa6j9StBB

Người dân tự khai hoang đất, làm ao rồi xây nhà ở gần 20 năm nhưng không có giấy tờ, hỏi có được cấp sổ đỏ lần đầu theo Luật Đất đai 2024, Bộ Nông nghiệp và Môi trường trả lời

Một trường hợp người dân ở Hải Phòng sử dụng đất tự khai hoang, không có giấy tờ đặt ra câu hỏi về điều kiện cấp sổ đỏ lần đầu theo Luật Đất đai 2024.

Ông Nguyễn Đình Huy ở Hải Phòng có đang sử dụng đất không có giấy tờ, nguồn gốc tại đất bản đồ 299 là đất mạ. Năm 1984, Nhà nước lấy đất để đắp đê thành thùng vũng, bỏ hoang không canh tác được, nhân dân ra khai hoang, canh tác và làm nhà.

Đến năm 1997, những hộ làm nhà đều được cấp sổ đỏ, còn ông Huy khai hoang, khoanh vùng, làm ao thả cá. Năm 2008, ông xây nhà để ở. Bản đồ 1997 thể hiện là ao, bản đồ 2008 thể hiện là đất ở, đất vườn, đất ao trong cùng thửa đất.

Năm 2025, ông đề nghị cấp sổ đỏ lần đầu nhưng UBND phường không xác định được ông sử dụng đất có vi phạm hay không, vì theo Điều 139 Luật Đất đai năm 2024, đất được nhà nước giao có giấy tờ mà tự ý thay đổi mục đích sử dụng mới vi phạm, còn đất của ông không có giấy tờ, chỉ có bản đồ biểu hiện quá trình sử dụng đất.

Ông Huy hỏi, ông sử dụng đất có vi phạm hay không? Nếu được cấp sổ đỏ thì cấp theo Điều 139 hay Điều 138 Luật Đất đai năm 2024?

Theo Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất thuộc thẩm quyền của chính quyền địa phương và cần căn cứ vào hồ sơ cụ thể, các văn bản quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai do UBND cấp tỉnh ban hành theo thẩm quyền.

Do không có hồ sơ, tài liệu kèm theo đơn nên Bộ Nông nghiệp và Môi trường chưa có đầy đủ cơ sở để trả lời cụ thể đối với trường hợp của ông. Trên cơ sở nội dung phản ánh, Bộ Nông nghiệp và Môi trường có ý kiến về mặt nguyên tắc chung như sau:

Căn cứ khoản 3 Điều 139 Luật Đất đai năm 2024, việc xử lý đối với trường hợp hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất có vi phạm pháp luật trước ngày 01/7/2014 được áp dụng cho cả hai nhóm trường hợp: (1) sử dụng đất do lấn đất, chiếm đất không thuộc quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này; và (2) sử dụng đất không đúng mục đích đã được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất.

Đối với nội dung phản ánh của ông, nguồn gốc thửa đất do Nhà nước thu hồi để đắp đê vào năm 1984, sau đó người dân tự khai hoang, khoanh vùng sử dụng và xây dựng nhà ở nhưng chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao đất hoặc cho thuê đất.

Do đó, việc xác định thửa đất có vi phạm pháp luật đất đai hay không phải được cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, đối chiếu dựa trên hồ sơ quản lý đất đai qua các thời kỳ để xem xét hành vi lấn, chiếm đất hoặc hành vi sử dụng đất không đúng mục đích theo quy định của pháp luật, chứ không chỉ căn cứ thuần túy vào việc thửa đất đã có giấy tờ quyền sử dụng đất hay chưa.

Điều 138 Luật Đất đai năm 2024 quy định về việc cấp Giấy chứng nhận cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có giấy tờ về quyền sử dụng đất nhưng không vi phạm pháp luật đất đai và không thuộc trường hợp đất giao không đúng thẩm quyền.

Điều 139 Luật Đất đai năm 2024 quy định về việc giải quyết đối với trường hợp hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất có vi phạm pháp luật đất đai trước ngày 01/7/2014.

Việc áp dụng đúng điều nào (Điều 138 hoặc Điều 139 Luật Đất đai năm 2024) để xem xét cấp Giấy chứng nhận cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất cần căn cứ vào hồ sơ cụ thể (hồ sơ lưu trữ tại địa phương, các giấy tờ, nguồn gốc và quá trình sử dụng đất thực tế của thửa đất,…).

Xem tiếp tại đường Link =>

https://share.google/zbjUGnMb9IvOHsWeE

Nguồn: Báo Tin Tức; Soha; Báo Chính Phủ; Góc Nhìn Pháp Lý

Xem thêm:
Về trang trước

Chủ đề:

Bình luận và đánh giá
Gửi nhận xét đánh giá

Đọc nhiều nhất

Bất động sản “lách luật”; Thông báo nhà cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ; Cấp sổ đỏ đất lấn, chiếm; Điểm mới đăng ký kết hôn và khai sinh; Đánh thuế cao “đất bỏ hoang”

Người có bất động sản chú ý; VNeID thay đổi mới; Lưu ý dùng camera, TV, máy giặt, tủ lạnh kết nối Internet; Nộp thuế đất phi nông nghiệp; Định danh tài khoản MXH trên VNeID

Cấp nhầm sổ đất cho dân; Gỡ tạm hoãn xuất cảnh vì nợ thuế; Đánh thuế 0,2% đất bỏ hoang; Lưu ý mới từ cơ quan Thuế; Tháo gỡ vướng mắc đất đai, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

Mã định danh bất động sản; Phạt chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà sai quy định; Chú ý phạt khai báo tạm trú; Người có bảo hiểm xã hội chú ý; Người có sổ đỏ chú ý

Chú ý mức phạt khai báo tạm trú; Quy định cấp đổi sổ đỏ ghi đất “thổ cư”; Gỡ khó cho 4.000 trường hợp bị mạo danh; Điều kiện giảm 50% tiền sử dụng đất; Lỗ hổng thừa kế

Lời khuyên sống ở chung cư; Chú ý mức phạt đăng ký cư trú; Người sử dụng WiFi chú ý; Lời khuyên cho người gửi tiết kiệm; Làm rõ thế nào là đất bỏ hoang

Sổ đỏ ghi sai mục đích sử dụng; Trả lại đất mua bằng giấy viết tay; Thêm trường hợp thu hồi sổ đỏ; Người có máy tính, laptop chú ý; Bố tặng nhà trên đất ao, con được giảm tiền sử dụng

Tạo chữ ký số trên VneID; Điều tra giao dịch chuyển khoản sau; Cấp sổ đỏ đất không phù hợp quy hoạch; Quy định đất bỏ hoang, bị đánh thuế; Quy định mới xuất, nhập khẩu gạo

Lên đầu trang