- Thời sự

(Ảnh minh họa).
Tổng thống Mỹ Joe Biden vừa công bố danh sách 31 trung tâm công nghệ mới trên khắp nước Mỹ nhằm biến các trung tâm này thành trung tâm đổi mới cạnh tranh toàn cầu.
Việc thúc đẩy phát triển các trung tâm nêu trên đã chứng tỏ Mỹ đang trải qua thời kỳ bùng nổ các hoạt động sản xuất công nghệ cao, đặc biệt là sản xuất chất bán dẫn sau khi Đạo luật Chips và Khoa học được thông qua.
Các công ty đã đầu tư 210 tỷ USD vào hơn 50 dự án bán dẫn mới tính đến cuối năm ngoái. Mỹ cũng là quê hương của 7 trong số 10 công ty bán dẫn hàng đầu thế giới tính theo vốn hóa thị trường, bao gồm cả công ty hàng đầu là Nvidia. Tuy nhiên, giới phân tích cho rằng, tiến trình này có thể bị cản trở do tình trạng thiếu lao động nghiêm trọng trong ngành.
Theo báo cáo của Hiệp hội công nghiệp bán dẫn và Oxford Economics, sẽ có 85.000 việc làm kỹ thuật mới trong ngành bán dẫn vào năm 2030. Tuy nhiên, báo cáo này cũng ước tính gần 80% số việc làm đó có thể không được lấp đầy. 1/3 lực lượng lao động trong ngành bán dẫn là người sinh ra ở nước ngoài - có nghĩa là các rào cản nhập cư đang làm trầm trọng thêm tình trạng thiếu hụt lao động.
Một phân tích cho thấy, khoảng 5.000 sinh viên quốc tế tại Mỹ sẽ tốt nghiệp trong năm học tới với bằng cấp cao trong các lĩnh vực kỹ thuật và khoa học máy tính liên quan đến chất bán dẫn, ít nhất 4.000 sinh viên trong số đó đã bày tỏ mong muốn ở lại Mỹ. Nhưng luật nhập cư hiện hành khiến họ khó ở lại định cư.
Ông Todd Schulte - Chủ tịch tổ chức vận động cải cách tư pháp hình sự và nhập cư FWD.us: "Thật quá khó để tưởng tượng rằng chúng ta có thể xây dựng ngành công nghiệp bán dẫn trong tương lai nếu không cải cách luật nhập cư. Nếu bạn cần xây dựng những nhà máy bán dẫn này thì phải sở hữu một lượng nhân công nhất định. Lực lượng lao động cần thiết đó có thể ở Mỹ, hoặc ở những nơi khác trên thế giới, điều đó có nghĩa là cần có một hệ thống nhập cư cho phép nước Mỹ đáp ứng các nhu cầu kinh tế ở giữa thế kỷ 21".
Công ty sản xuất chip TSMC của Đài Loan (Trung Quốc) vốn dự kiến mở nhà máy đầu tiên ở bang Arizona (Mỹ) vào năm 2024, mới đây đã thông báo rằng "gã khổng lồ" ngành bán dẫn sẽ bị trì hoãn thêm một năm nữa kế hoạch này do thiếu nhân công chuyên môn.
Theo các chuyên gia, việc đại tu hệ thống nhập cư của Mỹ sẽ không chỉ giúp ích cho ngành công nghiệp bán dẫn, mà các nghiên cứu còn cho thấy nó cũng sẽ mang lại lợi ích cho toàn bộ nền kinh tế Mỹ.
Vì sao Mỹ thiếu lao động ngành bán dẫn?
Mỹ là một trong các quốc gia đi đầu về công nghệ cao, trong đó có công nghệ bán dẫn. Chính vì vậy mà việc thiếu nhân lực cũng đặt ra nhiều câu hỏi. Một nguyên nhân được nhiều nghiên cứu chỉ ra là do ngành này đòi hỏi kỹ sư, lao động trình độ cao, chuyên sâu, trong khi việc đào tạo chuyên ngành kỹ sư điện ở Mỹ lại tốn kém, học khó mà khô cứng nên học sinh người Mỹ không hứng thú. Chuyện này cũng một phần bởi có giai đoạn người ta chạy theo mở rộng thị trường và nhân công giá rẻ bên ngoài hơn là đầu tư cho lao động nội địa.
Mỹ từng sản xuất tới 40% lượng chip trên toàn thế giới vào những năm 90, nhưng nay chỉ còn 12%. Vì thế, Mỹ hiện có hơn 680 nghìn lao động trong ngành bán dẫn, nhưng hơn 1/3 lại là lao động nhập cư. Mỹ hiện có đến 5 trong 10 trường đại học hàng đầu thế giới về kỹ sư và công nghệ, sinh viên quốc tế theo học ngành này ở Mỹ rất nhiều, chiếm tới 60% số cử nhân bậc đại học, nhưng lại bị giới hạn thị thực nên rất ít có thể ở lại làm việc. Thế nên lao động ngành bán dẫn ở Mỹ thừa vẫn thừa mà thiếu vẫn thiếu.
Giải pháp ứng phó tình trạng thiếu nhân lực
Với thực tế trên thì nhiều hiệp hội, tập đoàn, tổ chức nghiên cứu kêu gọi chính quyền Mỹ nới lỏng chính sách thị thực để thu hút số du học sinh quốc tế có trình độ ở lại làm việc. Nhưng có vẻ chính quyền Tổng thống Biden không mặn mà với ý tưởng này. Mỹ không chỉ muốn thu hút đầu tư ngắn hạn vào sản xuất bán dẫn, mà còn phải phát triển bền vững nguồn nhân lực nội địa để tái thống lĩnh ngành công nghiệp mũi nhọn này trong giai đoạn tới.
Chính vì vậy, trong gói hơn 52 tỷ USD đầu tư cho phát triển sản xuất bán dẫn nội địa, Mỹ dành 39 tỷ để khuyến khích các ông lớn như Intel, Samsung, TSMC, Texas Instruments mở rộng sản xuất. Còn hơn 13 tỷ để hỗ trợ nghiên cứu và phát triển nguồn nhân lực. Với ngân sách này, mới đây chính quyền Tổng thống Biden đã hỗ trợ cấp vốn đối ứng cho 31 trung tâm công nghệ trên khắp nước Mỹ để thúc đẩy phát triển nhân lực, năng lực sản xuất, nghiên cứu và thương mại.
Theo các chuyên gia nhận định, nhân sự chính là một trong các thách thức lớn nhất trong tham vọng tự chủ công nghệ bán dẫn của mỗi quốc gia. Bởi đây là ngành yêu cầu độ phức tạp cao cùng năng lực kỹ thuật, công nghệ để giải quyết các vấn đề mới. Bài học từ Mỹ cũng sẽ là những thông tin tham khảo hữu ích đối với Việt Nam trong nỗ lực đào tạo nhân lực ngành bán dẫn, tiến tới trở thành một trong các trung tâm bán dẫn tại khu vực.
Tỷ phú Elon Musk vừa lên tiếng cảnh báo rằng chính quyền của Tổng thống Mỹ Joe Biden đã “vũ khí hóa” đồng đô la (USD) một cách quá đà bằng các biện pháp trừng phạt và điều đó đã thúc đẩy nhiều quốc gia trên thế giới cắt giảm các giao dịch sử dụng đồng tiền này.
“Bây giờ các bạn đang chứng kiến nhiều quốc gia giảm sử dụng đồng đô la Mỹ trong các giao dịch của họ bởi vì chúng ta đã buộc họ phải làm như vậy. Diễn biến này còn vượt xa ra khỏi các nước Nga, Trung Quốc và Iran”, tỷ phú Elon Musk cũng là chủ sở hữu của X (trước đây là Twitter) mới đây cho biết.
Ông Musk đã nhấn mạnh đến thực tế là các nước đang chuyển sang giao dịch bằng đồng nội tệ, đặc biệt là giữa các quốc gia trong nhóm BRICS. Vị tỷ phú Mỹ nói thêm rằng, thực tế trên không phải là sự lựa chọn của các quốc gia này mà là điều họ buộc phải làm do các biện pháp trừng phạt của phương Tây liên quan đến cuộc chiến Nga-Ukraine.
“Các nước như Brazil hay Ấn Độ vẫn muốn giao dịch với Nga. Họ không thể làm điều đó bằng đô la, vì vậy chúng ta đã buộc họ phải phi đô la hóa các giao dịch của mình, do đó làm suy yếu sức mạnh của đồng đô la trên thế giới,” ông Musk giải thích.
Việc vũ khí hóa đồng bạc xanh đã thúc đẩy nhiều quốc gia tìm kiếm các giải pháp thay thế, sau khi một loạt biện pháp trừng phạt đã cắt đứt Nga khỏi hệ thống tài chính phương Tây một cách hiệu quả.
Một số lượng lớn các nhà kinh tế nổi tiếng đã nhiều lần cảnh báo rằng sự thống trị của các tổ chức tài chính dựa trên đồng đô la và chính sách kinh tế gây hấn của Mỹ sẽ khiến nhiều quốc gia trên thế giới từ bỏ giao dịch bằng đồng đô la và chuyển sang sử dụng đồng nội tệ trong thương mại.

(Ảnh minh họa).
Sau nhiều thập kỷ mở rộng, các chuỗi nhà thuốc lớn nhất Mỹ đang phải đóng cửa hàng trăm cửa hàng. Quyết định được đưa ra trong bối cảnh sự cạnh tranh ngày càng gia tăng, hàng loạt vụ kiện liên quan đến thuốc phiện và một số vấn đề khác.
Chuỗi nhà thuốc Rate Aid đã nộp đơn xin bảo hộ phá sản theo Chương 11 trong bộ luật tại New Jersey hôm 15/10 và cho biết họ sẽ bắt đầu tái cơ cấu để giảm nợ.
Chuỗi nhà thuốc đang phải vật lộn với tình trạng doanh số bán hàng trì trệ, nợ nần chồng chất và hàng loạt vụ kiện cáo buộc công ty đã góp phần gây ra dịch bệnh opioid trên toàn quốc bằng cách cung cấp quá nhiều thuốc giảm đau.
Opioids là một nhóm thuốc bao gồm ma túy bất hợp pháp heroin, opioid tổng hợp như fentanyl và thuốc giảm đau hợp pháp theo đơn, chẳng hạn như oxycodone, hydrocodone, codeine, morphine và nhiều loại khác.
Tương tự, hãng thuốc CVS và Walgreens đã có kế hoạch đóng cửa hơn 1.500 nhà thuốc trong suốt hai năm qua. Các chuyên gia y tế công cộng đã nhìn thấy hậu quả của điều này. Họ lưu ý rằng những khu dân cư đầu tiên mất hiệu thuốc thường là người da đen, người Latin và người có thu nhập thấp.
Dima Qato, Phó Giáo sư tại Đại học Nam California, người nghiên cứu về khả năng tiếp cận dược phẩm và công bằng y tế, cho biết: "Theo ước tính của chúng tôi, khoảng một trong bốn khu vực lân cận đang 'sa mạc hiệu thuốc'. Những lần đóng cửa này ảnh hưởng không tương xứng đến các cộng đồng đang cần hiệu thuốc nhất."
Các hiệu thuốc có thể là cứu cánh ở các khu vực nông thôn hoặc nơi có thu nhập thấp, đặc biệt là ở các vùng sa mạc lương thực - những khu vực có khả năng tiếp cận hạn chế với thực phẩm lành mạnh và giá cả phải chăng. Lorece Edwards, Giáo sư y tế công cộng tại Đại học bang Morgan, người tập trung vào sự chênh lệch về sức khỏe, cho biết dược sĩ thường là chuyên gia chăm sóc sức khỏe, dễ tiếp cận nhất đối với những cộng đồng này.
Nhưng các nhà phân tích bán lẻ cho biết, đối với các chuỗi nhà thuốc quốc gia, việc cắt giảm đã diễn ra từ lâu, khi cạnh tranh gia tăng, thay đổi hành vi của người tiêu dùng, tội phạm bán lẻ, thiếu nhân sự và thiếu sự đầu tư. Các nhà thuốc cũng đang cảm thấy xuống dốc từ việc bán vaccine ngừa virus Corona, bộ dụng cụ xét nghiệm tại nhà và các sản phẩm khác trong thời kỳ đại dịch.
Neil Saunders, giám đốc điều hành của công ty phân tích GlobalData Retail cho biết: "Tính kinh tế của các nhà thuốc không mang lại lợi nhuận như trước đây. Điều này khiến các nhà bán lẻ đang tìm cách để giảm tải".
Một cuộc khủng hoảng của các nhà thuốc
Trước đây, hiệu thuốc ở góc phố là hình mẫu của sự tiện lợi, nơi không chỉ bán thuốc theo đơn mà còn bán một số đồ khác như đồ ăn nhẹ, thiệp sinh nhật và đồ đa dụng. Trong những năm 1990 và đầu những năm 2000, CVS và Walgreens bắt đầu đặt trụ sở trên khắp đất nước, vượt xa các công ty độc lập. Ngày nay, hai chuỗi nhà thuốc lớn nhất quốc gia có lần lượt hơn 9.000 và 8.700 địa điểm và tổng doanh thu là 455,2 tỷ USD vào năm 2022.
Tuy nhiên, theo các nhà phân tích, hiện nay, người tiêu dùng có nhiều sự lựa chọn hơn, nhiều cửa hàng bán đồ rẻ hơn và tiện lợi hơn. Họ cũng chi tiêu thận trọng hơn khi lạm phát đang tăng lên mức cao nhất trong 4 thập kỷ vào năm 2022 và hiện vẫn đang ở mức cao.
Các hiệu thuốc như Rite Aid đã phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng khi người mua hàng ngày càng chuyển sang các nhà bán lẻ như Amazon, Target, Walmart bởi vì mức giá rẻ hơn và giao hàng thuận tiện đến tận nhà khách hàng.
Rite Aid cũng đã phải vật lộn để theo kịp các đối thủ lớn hơn của mình như CVS và Walgreens, vì các công ty này đã tập trung vào chăm sóc sức khỏe và phù hợp để thực hiện các khoản đầu tư lớn để phù hợp.
CVS đã mở rộng phạm vi hoạt động của mình trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe bằng cách mua lại Caremark, một trong những nhà quản lý lợi ích dược phẩm lớn nhất, công ty bảo hiểm sức khỏe Aetna và gần đây nhất là công ty chăm sóc sức khỏe Oak Street Health.
Do nhiều khủng hoảng đè nén, các nhân viên hiệu thuốc tại CVS và Walgreens đã tổ chức đình công, cáo buộc rằng điều kiện làm việc tồi tệ đang khiến họ và bệnh nhân gặp nguy hiểm. Các dược sĩ, kỹ thuật viên và nhân viên hỗ trợ cho rằng tình trạng thiếu nhân lực đã khiến cho việc quản lý vaccine hoặc giải quyết hàng trăm đơn thuốc tồn động ngày càng tồi tệ, và làm cản trở công việc của họ.
Saunders cho biết, các chuỗi nhà thuốc đang “tự bắn vào chân mình” khi không đầu tư vào nhân viên hiệu thuốc, bởi vì hiệu thuốc là điểm khiến những chuỗi này khác biệt với các đối thủ cạnh tranh bán lẻ khác. Ông nói, nếu dịch vụ kém hoặc đơn thuốc bị chậm trễ, điều đó sẽ khiến khách hàng càng thất vọng hơn.
Các gã khổng lồ ngành dược phẩm đã tìm cách củng cố vị thế của mình thông qua hợp nhất và bằng cách đồng bộ hóa với các công ty bảo hiểm để bệnh nhân quay trở lại. Bệnh nhân Aetna có thể đến bất kỳ hiệu thuốc nào, nhưng họ sẽ nhận được ưu đãi tốt hơn tại CVS, công ty đã mua lại công ty bảo hiểm vào năm 2018. Khách hàng của Blue Cross Blue Shield có thiết lập tương tự với Walgreens. Trái lại, hãng thuốc Rite Aid lại không có bất kỳ mối quan hệ nào với hãng bảo hiểm.
Tính đến ngày 15/10, theo các quan chức trong ngành, các hiệu thuốc tư nhân, không có bảo trợ của công ty chiếm 19.432 địa điểm trên toàn quốc cũng đang gặp phải nhiều khủng hoảng tương tự, thậm chí tồi tệ hơn chuỗi nhà thuốc có thương hiệu.
Mariana Socal, phó nhà khoa học tại Trường Y tế Công cộng Bloomberg của Đại học Johns Hopkins, cho biết: “Bối cảnh tích hợp theo chiều dọc của các doanh nghiệp trên các dịch vụ khác nhau đã khiến các hiệu thuốc không tham gia gặp bất lợi lớn."
Hình phạt cho sức khỏe đô thị
Đối với Patrice La Vigne, một nhà báo tự do ở vùng nông thôn Healy, Alaska, việc có thuốc theo đơn đồng nghĩa với việc phải mất hai giờ lái xe. Cô cho biết thị trấn gần nơi ở không có phòng khám, bệnh viên hay hiệu thuốc nào. Điều đó có nghĩa là chồng cô, người mắc bệnh mãn tính phải đi về phía Bắc đến Fairbanks để trực tiếp điều trị.
Con đường điều trị và lấy thuốc đó dường như quen thuộc với hầu hết 1.000 cư dân ở vùng nông thôn Healy. "Đối với chúng tôi, đó là sự đánh đổi khi sống ở một vùng xa xôi của Alaska. Tôi nghĩ phần lớn cộng đồng ở đây đều muốn có một hiệu thuốc", cô Patrice La Vigne nói.
Một khu vực nông thôn có thể được coi là sa mạc hiệu thuốc nếu cư dân nơi đó cách hiệu thuốc gần nhất hơn 8km. Ở các trung tâm đô thị, nơi người dân có phương tiện giao thông công cộng, bán kính này hạ tiêu chuẩn xuống còn gần 1km.
Theo Jenny Guadamuz, trợ lý giáo sư về sức khỏe cộng đồng tại Đại học California ở Berkeley, mặc dù số lượng hiệu thuốc ở Mỹ đã dao động gần 64.000 kể từ năm 2014, nhưng vẫn có sự điều chỉnh. Bà cho biết , các hiệu thuốc đang rời bỏ các khu dân cư có thu nhập thấp và đa số là người da đen và Latin. Các nhà thuốc mở rộng sang các khu vực chủ yếu có người da trắng và có thu nhập trung bình cao hơn.
Các chuyên gia y tế công cộng cũng lo ngại việc tái phân phối này cũng có thể làm trầm trọng thêm sự chênh lệch về kinh tế và phân biệt chủng tộc lâu đời trong kết quả chăm sóc sức khỏe. Đó là điều mà Edwards gọi là “hình phạt về sức khỏe đô thị”.
Bà Lorece Edwards cho bieeys điều này đã từng diễn ra trong lịch sử và làm trầm trọng thêm sự chênh lệch về sức khỏe. Nó cũng làm gián đoạn việc chăm sóc, khả năng tiếp cận tư vấn y tế, vaccine, tiếp cận thực phẩm và các mặt hàng chủ lực khác.
Ví dụ, các nhóm chủng tộc thiểu số ở Mỹ đã có nguy cơ mắc bệnh tiểu đường và huyết áp cao, cao hơn. Bà Edwards cho biết trẻ em ở các khu vực thu nhập thấp có tỷ lệ mắc bệnh hen suyễn và các vấn đề về sức khỏe tâm thần cao hơn .
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc tiếp cận nhà thuốc ảnh hưởng trực tiếp đến mức độ mọi người tuân thủ chặt chẽ chế độ dùng thuốc do bác sĩ đặt ra. Đặc biệt, người cao tuổi có vấn đề sức khỏe phức tạp dễ trở nên phụ thuộc vào dược sĩ mà họ có mối quan hệ trực tiếp.
Guadamuz cho biết: “Bệnh nhân có mối quan hệ lâu dài với các hiệu thuốc của họ. “Khi một hiệu thuốc đóng cửa, họ phải tìm một hiệu thuốc mới đáp ứng mọi nhu cầu, có bảo hiểm và giá cả phải chăng. Nhưng ở những khu dân cư có người da màu và khu vực nông thôn… họ ít có khả năng làm điều đó hơn."
Ngoài cung cấp các thiết bị y tế cần thiết, thuốc không kê đơn và thực phẩm, hiệu thuốc còn cung cấp máy đo huyết áp tự động. "Tất cả những điều này đã giúp những cộng đồng vốn đã khốn khổ", bà Edwards cho biết.
Sắp có thêm nhiều lần đóng cửa
Các nhà bán lẻ cũng phải vật lộn với làn sóng kiện tụng liên quan đến đại dịch opioid, căn bệnh đã cướp đi sinh mạng của hơn 300.000 người ở Mỹ kể từ năm 2000.
Walgreens và CVS đã đạt được thỏa thuận trị giá 10 tỷ USD với nhiều bang và Kroger đồng ý trả 1,2 tỷ USD. Rite Aid đã đạt được thỏa thuận giải quyết opioid trị giá 30 triệu USD vào năm 2022 với văn phòng tổng chưởng lý Tây Virginia nhưng phải đối mặt với nhiều vụ kiện tổng hợp tại Tòa án Quận Mỹ cho Quận Bắc Ohio và với Bộ Tư pháp .
Rite Aid cho biết đã lỗ 1 tỷ USD trong những tháng trước, khi nộp đơn xin phá sản vào ngày 15/10. Hiện chuỗi nhà thuốc này đang đóng cửa 154 địa điểm trong số 2.100 cửa hàng còn lại của mình.
Trong một tuyên bố với The Post, Rite Aid cam kết cải thiện khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế quan trọng trên các thị trường của mình. “Thí điểm cửa hàng quy mô nhỏ của chúng tôi được thiết kế đặc biệt để cung cấp khả năng tiếp cận các dịch vụ hiệu thuốc ở khu vực 'sa mạc hiệu thuốc' và các cộng đồng chưa được phục vụ đầy đủ.”
Là một phần của việc đóng cửa cửa hàng do tòa án giám sát về phá sản, công ty đã “tiến hành nghiên cứu bổ sung để giúp đảm bảo rằng chúng tôi không tạo ra tình trạng sa mạc hiệu thuốc trong cộng đồng mà chúng tôi phục vụ", Rite Aid khẳng định
Walgreens đã đóng cửa 150 địa điểm ở Mỹ vào cuối mùa hè tới. Họ cũng cam kết thúc đẩy khả năng tiếp cận công bằng với dịch vụ chăm sóc dược phẩm. Họ sử dụng các dịch vụ dược phẩm có mục tiêu như giao thuốc theo toa trong ngày để trợ giúp các khu vực chưa được tiếp cận với hiệu thuốc kịp thời.
“Chúng tôi cũng tham gia vào các liên minh quan trọng để tiếp cận những nhóm dân cư dễ bị tổn thương, vì chúng tôi có lịch sử lâu dài hợp tác với các nhà thờ địa phương, các nhóm dân sự và các tổ chức dịch vụ công quốc gia để cung cấp vaccine cứu sống cho những nhóm dân cư chưa được chăm sóc y tế", Walgreens thông báo.
Vào năm 2021, CVS thông báo sẽ đóng cửa khoảng 900 cửa hàng trong ba năm tới. Từ năm 2018 đến năm 2020, công ty đã đóng cửa 244 địa điểm. CVS đã không trả lời yêu cầu bình luận của The Post.
Các hiệu thuốc độc lập cũng đang chịu áp lực do nhiều lực lượng tương tự. Một cuộc khảo sát gần đây của Hiệp hội Dược sĩ Cộng đồng Quốc gia cho thấy các hiệu thuốc độc lập báo cáo tỷ suất lợi nhuận thấp nhất kể từ khi tổ chức này bắt đầu thu thập dữ liệu đó 10 năm trước.
Ronna Hauser, phó chủ tịch cấp cao của tập đoàn thương mại, cho biết những thay đổi sắp tới về cách chính phủ xử lý các khoản thanh toán Medicare có thể khiến vấn đề trở nên tồi tệ hơn. Bà cho biết, quy định có hiệu lực từ ngày 1/1 tới, dự kiến sẽ giảm các khoản thanh toán cho hiệu thuốc.
"Dòng tiền sẽ là mối lo ngại thực sự trong 3-6 tháng đầu năm 2024. Chúng tôi lo ngại rằng có thể phải đóng cửa do khủng hoảng dòng tiền này và chúng tôi cũng rất lo ngại về các điểm tiếp cận cho bệnh nhân", Ronna Hauser bộc bạch.
Báo Financial Times (FT) nhận định xu hướng rõ ràng sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và được củng cố trong đại dịch Covid-19 đó là nền kinh tế Mỹ đã vượt qua châu Âu, được dự báo sẽ tiếp diễn đến năm 2024 và thậm chí xa hơn nữa.
Tuần trước, trong Hội nghị mùa Thu 2023 của IMF và Ngân hàng Thế giới (WB) tổ chức ở Marrakech, Maroc, Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) đã tuyên bố rằng nền kinh tế Mỹ sẽ tiếp tục dẫn đầu toàn cầu, dự kiến tăng trưởng 1,5% trong năm tới. Trong khi, dự báo tăng trưởng kinh tế của IMF đối với Khu vực sử dụng đồng Euro (Eurozone) và Anh lần lượt là 1,2% và 0,6%.
Đâu là nguyên nhân lý giải cho sự khác biệt ngày càng lớn giữa hai khu vực giàu có nhất thế giới, khi Mỹ đã tăng trưởng với tốc độ gần gấp đôi Eurozone và Anh trong hai thập kỷ qua?
Những lý do chính bao gồm từ chu kỳ đến cơ cấu. Các yếu tố tương đối ngắn hạn như biện pháp kích thích sau đại dịch Covid-19 và cuộc xung đột Nga - Ukraine đã tạo nên sự khác biệt, nhưng còn có những yếu tố khác để giải thích cho câu hỏi này, như khả năng tiếp cận tín dụng và xu hướng đầu tư, cùng với thành phần công nghiệp và nhân khẩu học.
Gói kích thích dồi dào thúc đẩy chi tiêu
Trong thời kỳ đại dịch Covid-19, các quan chức ở hai bên bờ Đại Tây Dương đã sử dụng các biện pháp kích thích tài chính mạnh mẽ, để ngăn chặn cuộc khủng hoảng y tế chuyển thành khủng hoảng kinh tế.
Tuy nhiên, Mỹ đã thực hiện với quy mô lớn hơn. Điều này đã dẫn đến mức thâm hụt ngân sách khổng lồ của Mỹ trong các hai năm đại dịch. Vào năm 2021, thâm hụt của chính phủ Mỹ chiếm 9,4% tổng sản phẩm quốc nội (GDP), cao hơn gấp đôi mức thâm hụt của Eurozone và gần gấp đôi so với mức của Anh.
Chuyên gia Jennifer McKeown, nhà kinh tế trưởng toàn cầu tại Capital Economics, cho biết: “Mỹ đã có phản ứng tài chính đặc biệt mạnh mẽ sau đại dịch và điều này đã hỗ trợ nền kinh tế”.
Sự hỗ trợ hào phóng của chính phủ Mỹ đã giúp thúc đẩy sự phục hồi trong chi tiêu của người tiêu dùng, trở thành một trong những lý do chính khiến tốc độ tăng trưởng kinh tế của nước này rất mạnh mẽ.
Ông Pierre-Olivier Gourinchas, nhà kinh tế trưởng của IMF, cho biết các hộ gia đình châu Âu có thể đã “thận trọng” hơn so với các hộ gia đình Mỹ vì những lý do khác, bao gồm cả việc họ ở gần cuộc xung đột ở Ukraine hơn.
Ông Gourinchas lập luận rằng cú sốc giá năng lượng "khốc liệt" ở châu Âu - một hậu quả khác của cuộc xung đột - là động lực "quan trọng nhất" dẫn đến sự khác biệt kinh tế gần đây của hai khu vực.
Giá khí đốt bán buôn ở châu Âu đã tăng lên mức cao kỷ lục, lớn hơn nhiều so với mức giá ở Mỹ, sau khi xung đột bùng phát vào tháng 2/2022. Kết quả là lạm phát giá năng lượng tại Anh lên tới 59% và tại Eurozone là 44%.
Tại Hội nghị mùa Thu IMF-WB, Vị chuyên gia hàng đầu của IMF, phát biểu: “Khu vực này (châu Âu) còn nghèo do giá năng lượng cao”.
Chuyên gia Tomasz Wieladek, nhà kinh tế trưởng khu vực châu Âu tại công ty đầu tư T Rowe Price, đồng quan điểm. Ông nhấn mạnh: “Nguồn năng lượng chính của châu Âu đã không còn đáng tin cậy”.
Lĩnh vực công nghệ đang bùng nổ của Mỹ
Yếu tố cấu trúc quan trọng đằng sau sự khác biệt kinh tế giữa Mỹ và châu Âu là sự khác nhau về cơ cấu công nghiệp của hai nền kinh tế. Mỹ có một hệ thống công nghệ đang bùng nổ. Nhiều công ty của nước này đã thành công và ngày càng sáng tạo, như Amazon, Alphabet (công ty mẹ của Google) và Microsoft. Trong khi châu Âu không sở hữu các công ty có quy mô tương đương.
Một số nhà kinh tế cảnh báo rằng việc Mỹ thống trị lĩnh vực công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI) có thể khiến cho khoảng cách với châu Âu ngày càng mở rộng. Ngược lại, các lĩnh vực công nghiệp tiềm năng quan trọng của châu Âu đang chật vật đối mặt với mối đe dọa cạnh tranh từ Trung Quốc, nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, chẳng hạn như xe điện.
Chuyên gia Christian Keller, người đứng đầu bộ phận nghiên cứu kinh tế tại Ngân hàng Đầu tư Barclays, nói: “Châu Âu, đặc biệt là Đức, đã là ‘người chiến thắng lớn’ từ xu hướng toàn cầu hóa cho đến năm 2018. Nhưng kiểu toàn cầu hóa đó giờ đây dường như đã kết thúc”.
Không những vậy, Mỹ cũng đang tỏ ra nhanh nhẹn hơn trong việc chuyển đổi nền kinh tế sang hướng công nghệ xanh. Đạo luật Giảm lạm phát (IRA) trị giá 369 tỷ USD của Washington đã giúp khuyến khích đầu tư vào công nghệ xanh, với hàng trăm tỷ USD tiền trợ cấp và tín dụng thuế.
Theo nhiều nhà kinh tế, phản ứng của Liên minh châu Âu (EU) chậm hơn và quá trình thực thi cũng phức tạp hơn. Bị thu hút bởi IRA, một số công ty châu Âu đã chuyển đầu tư sang Mỹ, bao gồm Total Energies, BMW và Northvolt. Chuyên gia Gruenwald, nhà kinh tế trưởng tại S&P Global Ratings , cho biết: “Chắc chắn hiện đang có một sự phục hưng đầu tư ở Mỹ”.
Việc tiếp cận tài chính dễ dàng hơn từ lâu đã giúp nền kinh tế Mỹ, bao gồm cả lĩnh vực công nghệ, bùng nổ. Nhiều vốn đầu tư mạo hiểm hơn, thị trường nợ và vốn cổ phần phát triển tốt hơn đã giúp các công ty Mỹ dễ dàng huy động vốn để mở rộng hoạt động nhanh hơn so với các đối tác châu Âu ,vốn phụ thuộc lớn vào hoạt động giải ngân của các ngân hàng.
Sau khủng hoảng tài chính, châu Âu cũng phải chịu đựng cuộc khủng hoảng nợ công và chính sách thắt lưng buộc bụng tài chính dai dẳng hơn. Cả hai yếu tố này đều ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư.
Chỉ riêng trong lĩnh vực AI, tổng số vốn đầu tư mạo hiểm chảy vào Mỹ trong thập kỷ qua đã lên tới 450 tỷ USD, gấp gần 10 lần so với Eurozone hoặc Anh, theo dữ liệu từ OECD. Chuyên gia Keller cho biết: “Khả năng huy động số tiền lớn, tài trợ cho khoản đầu tư khá rủi ro không có ở châu Âu” và “Mô hình tài chính ngân hàng châu Âu không cho phép điều đó.”
Ông Nathan Sheets, nhà kinh tế trưởng tại ngân hàng Citi của Mỹ, nhấn mạnh rằng vốn đầu tư mạo hiểm đã cung cấp “cơ chế tài chính linh hoạt” cho công nghệ. Ông nói: “Tôi chắc chắn rằng việc đưa ra các ý tưởng công nghệ cho một công ty đầu tư mạo hiểm ở Thung lũng Silicon sẽ dễ dàng hơn so với việc đưa ra ý tưởng đó cho một ngân hàng lớn ở châu Âu”.
Các doanh nghiệp có thể mở rộng quy mô nhanh hơn ở Mỹ vì quốc gia này cung cấp một thị trường rộng lớn với ngôn ngữ chính sách nhất quán và hệ thống quản lý, hỗ trợ đổi mới. Mặc dù là thị trường liền khối nhưng EU vẫn bị phân mảnh về nhiều mặt, đặc biệt là trong lĩnh vực dịch vụ.
Sự đổi mới từ các trường đại học hàng đầu của Mỹ, “cái nôi” đào tạo công nghệ hàng đầu thế giới, chẳng hạn như Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) ở khu vực bờ Đông và Stanford ở bờ Tây, cũng đã phát huy hiệu quả. Chuyên gia Sheets cho biết: “Một khi bạn có được sự tích tụ chuyên môn đó, nó sẽ có xu hướng phát triển nhanh chóng. Những yếu tố đó đã giúp thúc đẩy đầu tư và năng suất của Mỹ, một yếu tố quyết định quan trọng đến mức sống, cao hơn nhiều so với ở châu Âu”.
Lợi thế nhân khẩu học
Dân số già hóa nhanh chóng ở châu Âu và tốc độ tăng trưởng dân số yếu hơn đang đè nặng lên nền tài chính công của lục địa này. Nó cũng có tác động đến khoảng cách kinh tế với Mỹ, nơi - không giống như châu Âu - đã chứng kiến dân số trong độ tuổi lao động tăng kể từ năm 2010, mặc dù tốc độ đó đang ngày càng chậm.
Ông Alfred Kammer, Giám đốc IMF khu vực châu Âu, cho biết hồi đầu tháng này: “Châu Âu đã phải vật lộn với tình trạng tăng trưởng năng suất thấp trong một thời gian và những ảnh hưởng của già hóa dân số cũng như hạn chế về nguồn cung lao động đang bắt đầu ảnh hưởng”.
Nếu không có sự khác biệt về nhân khẩu học, khoảng cách giữa tăng trưởng xuyên Đại Tây Dương sẽ ít rõ ràng hơn. Tuy nhiên, trong những thập kỷ tới, xu hướng nhân khẩu học sẽ thiên về hướng có lợi hơn cho châu Âu. Chuyên gia Wieladek lưu ý rằng sự tăng trưởng của châu Âu đã được hỗ trợ bởi những xu hướng thuận lợi trên thị trường lao động trong những thập kỷ gần đây, chẳng hạn như ngày càng có nhiều phụ nữ và người già đi làm. Ông nói: “Tiền lương của công nhân lành nghề Đông Âu đang tăng lên nhanh chóng. Cải cách xã hội ở Tây Âu, nhân tố góp phần nâng cao sự tham gia vào thị trường lao động, có thể đã đạt đến giới hạn.”
Khoảng cách ngày càng mở rộng?
Với sự đầu tư mạnh mẽ hơn và nhân khẩu học tốt hơn, khoảng cách kinh tế giữa Mỹ và châu Âu có thể sẽ ngày càng mở rộng trong những năm tới. Chuyên gia Keller cho biết: “Mỹ có thể nâng mức tăng trưởng tiềm năng trong khi châu Âu đang cố gắng duy trì mức tăng trưởng thấp hơn hiện có”.
Chuyên gia Samy Chaar, nhà kinh tế trưởng tại ngân hàng Lombard Odier, nhận định khả năng châu Âu bắt kịp Mỹ là “rất khó xảy ra”. Trong khi, chuyên gia Sven Jari Stehn, nhà kinh tế tại ngân hàng đầu tư Goldman Sachs, phân tích Mỹ sẽ “tiếp tục phát triển nhanh hơn Eurozone trong những năm tới”, ngay cả khi các yếu tố tạm thời hậu đại dịch mờ nhạt dần.
Tuy nhiên, thâm hụt ngân sách cao của Mỹ - dự kiến sẽ đẩy nợ công từ mức 97% GDP hiện tại lên mức cao kỷ lục 119% GDP vào năm 2033 - đặt ra mối đe dọa cho quá trình tăng trưởng của nước này. Vì vậy, ông Keller cho rằng: “Mỹ sẽ phải đưa ra những quyết định khó khăn về mặt tài chính.

(Ảnh minh họa).
Trong 3 tuần qua Đảng Cộng hòa đã lãng phí vị thế đa số của họ trước Đảng Dân chủ tại Hạ viện Mỹ – được coi là một sự bối rối đến khó chịu đối với một số người.
Đảng Cộng hòa vào cuối ngày 24/10 (giờ địa phương) đã chọn Hạ nghị sĩ Mike Johnson làm ứng cử viên mới nhất của họ cho vị trí Chủ tịch Hạ viện Mỹ. Quyết định được đưa ra vài giờ sau khi người được chọn trước đó, Hạ nghị sĩ Tom Emmer, đột ngột rút lui trước sự phản đối của cựu Tổng thống Donald Trump và các nhà lập pháp Đảng Cộng hòa theo đường lối cứng rắn.
Ông Johnson, đại diện từ bang Louisiana, là một thành viên cấp thấp hơn trong đội ngũ lãnh đạo Đảng Cộng hòa tại Hạ viện. Nhà lập pháp 51 tuổi trở thành ứng cử viên thứ 4 của Đảng Cộng hòa cho chiếc “ghế nóng” sau khi ông Emmer, ông Jim Jordan – được ông Trump tán thành, và ông Steve Scalise thất bại trong một vòng luẩn quẩn đấu đá chính trị gần như vô lý kể từ khi ông Kevin McCarthy bị lật đổ 3 tuần trước.
Sự chia rẽ trong nội bộ Đảng Cộng hòa tại Hạ viện Mỹ thể hiện rõ thông qua việc các thành viên cực hữu sẽ không chấp nhận một Chủ tịch theo đường lối truyền thống hơn và những Hạ nghị sĩ ôn hòa không muốn có lãnh đạo là một người theo đường lối cứng rắn.
Trong vòng bỏ phiếu kín cuối ngày 24/10, ông Johnson đã giành được 128 phiếu ủng hộ trong tổng số 221 phiếu – nhiều hơn bất cứ ứng viên nào trước đây, nhưng vẫn là chưa đủ. Trong vòng bỏ phiếu lưỡng đảng dự kiến vào ngày 25/10, bất cứ ứng cử viên nào cũng cần giành được ít nhất 217 phiếu để có được chiếc búa tượng trưng cho quyền lực của Chủ tịch Hạ viện Mỹ.
“Mike! Mike! Mike!” Các nhà lập pháp đã hô vang trong một cuộc họp báo sau đó, vây quanh ông Johnson và chụp ảnh selfie với ứng cử viên mới nhất để thể hiện sự ủng hộ.
Ông Johnson, một trong những đồng minh trung thành nhất của ông Trump trong nỗ lực lật ngược kết quả bầu cử Tổng thống năm 2020, cho biết ông “rất tự tin” mình sẽ được bầu làm Chủ tịch Hạ viện Mỹ.
“Các vị sẽ thấy nhóm này ở đây hoạt động giống như một cỗ máy được bôi dầu trơn tru”, vị Hạ nghị sĩ nói với các phóng viên khi được một số đồng nghiệp Đảng Cộng hòa vây quanh.
Trong 3 tuần qua Đảng Cộng hòa đã lãng phí vị thế đa số của họ trước Đảng Dân chủ tại Hạ viện – được coi là một sự bối rối đến khó chịu đối với một số người, là nền dân chủ đang hoạt động đối với những người khác, nhưng hoàn toàn không phải là cách mà Hạ viện Mỹ nên hoạt động.
Chính phủ liên bang có nguy cơ đóng cửa trong vài tuần nếu Hạ viện vẫn không có người đứng đầu, dẫn tới Quốc hội lưỡng viện tê liệt không thể thông qua dự luật tài trợ trước hạn chót ngày 17/11 để duy trì hoạt động của các dịch vụ và khối văn phòng.
Cấp bách hơn, Tổng thống Joe Biden của Đảng Dân chủ đã yêu cầu Quốc hội Mỹ cung cấp 105 tỷ USD viện trợ – để giúp Israel và Ukraine trong bối cảnh xung đột và củng cố biên giới Mỹ-Mexico. Các chương trình hàng không và nông nghiệp liên bang cũng sẽ hết hạn nếu không có hành động lập pháp nào được thực hiện.
Lo lắng và kiệt sức, các nhà lập pháp Đảng Cộng hòa đang cố gắng bước tiếp. Hạ nghị sĩ Steve Womack của Đảng Cộng hòa cho biết: “Có thể là ở lần thử thứ 4, hoặc thứ 5, hoặc thứ 6, hoặc thứ 10, chúng tôi sẽ làm được”
Nguồn: VTV; Soha; CafeF; Báo Quốc Tế; Người Đưa Tin
Việt Nam: Đề nghị kỷ luật Sử Ngọc Anh; Cáp treo mới 16.234 tỷ; Thiên đường nghỉ dưỡng; Cựu Phó TGĐ Ngân hàng VNCB trốn truy nã; Đấu giá biệt thự Chủ tịch AIC
Việt Nam: Ngọc nữ lọt top mỹ nhân đẹp nhất thế giới; Đường dây rửa tiền xuyên quốc gia; Quy hoạch công viên Thủ Lệ; Thánh đường 5.000 người trước ngày khánh thành
Việt Nam: EU đưa ra khỏi danh sách quốc gia không hợp tác thuế; Phải khai báo trường hợp chuyển khoản sau; Top quốc gia được yêu thích nhất; Xác minh giao dịch 300 triệu
Người Việt hải ngoại: Thu nhập Vương Phạm ở Mỹ; Kỹ sư đến Google DeepMind; Quán café tại Pháp; 9X lọt Forbes 30 Under 30 Asia; Giáo sư tại Nhật vào nhóm nhà khoa học xuất sắc nhất
Người Việt hải ngoại: Sắp diễn ra Hội nghị người Việt ở nước ngoài toàn thế giới lần thứ 5; Hoa hậu 2 lần đổ vỡ sang Canada cưới người yêu đơn phương 5 năm
Người Việt hải ngoại: Nữ chuyên gia có 200 bằng sáng chế; Nữ Tổng Quản Lý Marriott International; phát triển trạm sạc nhanh tại Mỹ; Cựu Phó Thủ tướng Đức vào HĐQT Chứng khoán HD
Việt Nam: Lãi suất ngân hàng 12/10; Khách sạn lọt top 3 tốt nhất Đông Nam Á; Chung cư 90 triệu đồng/m2; Chuyển trái phép 900 tỷ ra nước ngoài; Ngân hàng bán bất động sản xử lý nợ
Việt Nam: Cảnh báo sớm sai sót thuế; Cho thuê chung cư để lưu trú; Giải phóng mặt bằng các dự án lớn Hà Nội; Lừa bán phụ nữ sang Trung Quốc làm vợ; Đường dây đánh bạc, rửa tiền
Bình luận và đánh giá
Gửi nhận xét đánh giá