Mỹ: Doanh số xe điện thấp; Kinh tế hạ cánh mềm; Thảm cảnh trung tâm mua sắm; Sa vào bẫy do TQ tạo ra; Gửi viện trợ cho Gaza

Giảm giá kịch sàn, doanh số xe điện Mỹ vẫn thấp

(Ảnh minh họa).

Doanh số xe điện ở Mỹ liên tục ở mức thấp, trong khi các hãng xe lớn liên tục trì hoãn các dự án phát triển loại xe này.

Người dân Mỹ còn ít quan tâm

Theo tạp chí Economist ngày 27-11, sự quan tâm của người Mỹ với xe điện vẫn còn tương đối thấp, bất chấp những nỗ lực kích cầu từ các hãng.

Trong quý 3-2023, số xe điện bán được ở Mỹ chiếm chỉ 8% doanh số xe hơi nói chung. Từ đầu năm đến nay, chưa đầy 1 triệu chiếc xe điện đã được bán ra ở xứ sở cờ hoa, tương đương một nửa sức mua của thị trường châu Âu. Thậm chí, con số trên cũng chỉ nhỉnh hơn 25% doanh số xe điện ở Trung Quốc một ít.

Lượng cầu thấp đã buộc nhiều hãng xe Mỹ xem xét lại kế hoạch phát triển xe điện của mình. Hồi tháng 10, Hãng Ford tuyên bố hoãn khoản đầu tư 12 tỉ USD vào lĩnh vực phát triển xe điện.

Cùng tháng, Hãng General Motors hoãn một năm kế hoạch chuyển đổi công năng một nhà máy thành nơi sản xuất xe bán tải điện trị giá 4 tỉ USD. Hãng xe này còn từ bỏ mục tiêu sản xuất xe điện của mình, bao gồm chỉ tiêu xuất xưởng 100.000 xe điện trong 6 tháng cuối năm.

Giá cả vẫn là vấn đề quyết định

Vấn đề lớn nhất ngăn cản người dân Mỹ đến với xe điện vẫn là giá cả. Theo công ty tư vấn lĩnh vực xe hơi Cox Automotive, giá trung bình một chiếc xe điện tại nước này là 52.000 USD, nhỉnh hơn một chút so với mức giá trung bình 48.000 USD của một chiếc xe xăng.

Tuy nhiên, khi cộng thêm chi phí vận hành, mức giá của xe điện tăng vọt. Mỗi chiếc xe điện sẽ tiêu tốn của chủ lên đến 65.000 USD để vận hành trong vòng 5 năm, cao hơn chi phí vận hành xe truyền thống lên đến 9.000 USD. Mức chênh lệch đáng kể này xuất phát từ chi phí lắp đặt trạm sạc tại nhà, bảo hiểm, tình hình giá xăng rẻ ở Mỹ...

Trong tình hình đó, những lựa chọn xe điện giá rẻ và đáng tin cậy ở Mỹ lại không nhiều. Các hãng xe Mỹ, tiêu biểu là Tesla, lại chỉ tập trung vào các mẫu xe sang mang lại biên lợi nhuận cao.

Các mẫu xe điện giá rẻ đến từ Trung Quốc vốn đang tràn ngập thị trường tỉ dân và châu Âu lại gặp khó trong việc xâm nhập thị trường Mỹ do hàng rào thuế quan.

Để giải quyết vấn đề này, Chính phủ Mỹ đã đề ra chính sách giảm thuế lên đến 7.500 USD cho những người mua xe điện. Tuy nhiên, chính sách này chỉ áp dụng cho xe được sản xuất, lắp ráp tại Mỹ hoặc đạt tiêu chí lượng chất liệu quan trọng xuất xứ từ những nước ký hiệp định thương mại tự do (FTA) với Mỹ.

Ngoài ra, quá trình nhận ưu đãi này còn rất nhiêu khê và chỉ có thể nhận khá lâu sau khi hoàn thành giao dịch.

Vòng luẩn quẩn cung - cầu

Những điều trên đẩy nền công nghiệp xe hơi ở Mỹ vào vòng luẩn quẩn. Người tiêu dùng không sẵn sàng trong việc đổ tiền vào xe điện buộc các hãng phải giảm giá mạnh để kích cầu. Mức giảm giá trung bình của một chiếc xe điện lên đến 10%, cao gấp đôi ưu đãi thông thường với xe xăng.

Điều này ảnh hưởng nghiêm trọng lợi nhuận nhà sản xuất. Mảng xe điện của Ford lỗ đến 62.000 USD với mỗi chiếc xe điện bán ra, trong khi lại lãi 2.500 USD khi bán một xe xăng.

Do đó, các hãng xe chưa đẩy mạnh đầu tư để cho ra các mẫu xe điện mới, hấp dẫn hơn với người tiêu dùng.

Tuy nhiên, người Mỹ đang bắt đầu thấy lối ra cho vòng luẩn quẩn trên. Các hãng xe vẫn cho thấy sự nghiêm túc trong đầu tư dài hạn vào xe điện.

Chuỗi cung ứng, sản xuất lại ngày càng hoàn thiện khiến vấn đề chất lượng dần được cải thiện.

Từ tháng 1-2024, việc nhận ưu đãi thuế khi mua xe cũng sẽ dễ dàng hơn nhiều khi chúng sẽ được trừ ngay tại thời điểm giao dịch.

Những điều trên hứa hẹn sẽ vừa tăng chất lượng xe, vừa giảm giá thành và tăng độ hấp dẫn của loại xe mới này với người tiêu dùng.

Triển vọng “hạ cánh mềm” của nền kinh tế Mỹ

Theo The Wall Street Journal, tình trạng lạm phát tại Mỹ đã trở lại mức trước đại dịch mà không gây ra một cuộc suy thoái, hoặc làm suy yếu nền kinh tế quá nhiều. Đây là điều mà các nhà kinh tế học đã từng cho là điều không thể, và giờ đây nền kinh tế Mỹ được kỳ vọng về một cú “hạ cánh mềm”.

Tiến gần đến mục tiêu 2%

Sau đại dịch COVID-19, đà phục hồi kinh tế mạnh mẽ đã đẩy lạm phát ở Mỹ lên mức cao nhất trong vòng 40 năm, đạt đỉnh 9,1% vào hồi tháng 6/2022. Do đó, Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) đã nâng lãi suất lên trong khoảng 5,25 - 5,5%, cao nhất trong vòng 22 năm qua. Mục tiêu của Fed hiện nay là đưa lạm phát trở lại mức 2%, dựa trên thước đo mà họ tin dùng là chỉ số giá chi tiêu tiêu dùng cá nhân (PCE).

Trong một cuộc khảo sát của The Wall Street Journal vào hồi tháng 5, hầu hết các nhà kinh tế học đều lo ngại rằng nền kinh tế Mỹ sẽ bước vào một cuộc suy thoái trong vòng 12 tháng tới. Song lạm phát lõi, tức chỉ số giá tiêu dùng (CPI) loại trừ các mặt hàng dễ biến động về giá là thực phẩm và năng lượng, cũng đã dịu lại. Lạm phát lõi trong 5 tháng gần đây (từ tháng 6 đến tháng 10) đã tăng 2,8% theo năm, giảm so với mức 5,1% trong 5 tháng đầu năm 2023.

Trong khi đó, giá năng lượng giảm 2,5%, giá thực phẩm lại tăng 0,3%. Chi phí nhà ở vốn chiếm 1/3 tỷ trọng rổ CPI, chỉ tăng 0,3% trong tháng 10, bằng một nửa mức tăng của tháng trước. Đó là những nhân tố khiến lạm phát tại Mỹ hạ nhiệt. Nhà kinh tế trưởng về Mỹ tại ngân hàng Goldman Sachs David Mericle cho biết, hiện phần khó khăn nhất của cuộc chiến chống lạm phát đã tạm thời được giải quyết.

Sự sụt giảm lạm phát mạnh mẽ xảy ra trong thời điểm các chủ doanh nghiệp đang tiếp tục tuyển dụng, và chưa có dấu hiệu rõ ràng cho thấy đà tăng trưởng kinh tế sẽ suy giảm. Trong tháng 9, Fed kỳ vọng lạm phát cơ bản tính theo PCE sẽ kết thúc năm ở mức 3,7%. Trong khi đó, theo Chủ tịch hãng nghiên cứu Inflation Insights ông Omair Sharif, hiện tại dường như mức dự báo này có thể giảm xuống còn 3,4%.

Nhà kinh tế học đến từ hãng Indeed Nick Bunker nhận định, mặc dù đây được xem là những tín hiệu tốt nhưng để đạt được một cú “hạ cánh mềm” là điều chưa chắc chắn. Lạm phát vẫn còn cách mục tiêu 2% một khoảng khá xa. Các chuyên gia nhận định rằng, nền kinh tế Mỹ có thể chưa suy giảm là do tác động của lãi suất cao vẫn chưa thực sự được hấp thụ. Bất kỳ một yếu tố bên ngoài nào như giá năng lượng hay một cuộc khủng hoảng tài chính cũng có thể gây tác động tiêu cực.

Đặc biệt, người tiêu dùng Mỹ (những người đang giúp nền kinh tế duy trì đà tăng trưởng nhanh) có thể sẽ mất động lực. Doanh số bán lẻ trong tháng 10 đã giảm lần đầu tiên kể từ tháng 3. Theo đó các hãng bán lẻ lớn như Home Depot và Target báo cáo doanh số suy giảm do khách hàng có xu hướng tiết kiệm hơn. Đà tăng lương chậm lại đã thúc đẩy xu hướng giảm lạm phát, theo thời gian, mức lương cao hơn có thể khiến cho giá cả hàng hóa cao hơn. Tuy nhiên thu nhập trung bình theo giờ trong tháng 10 chỉ tăng 4,1% theo năm, mức thấp nhất kể từ tháng 6/2021, khi các công ty giảm bớt sự cạnh tranh trong hoạt động tuyển dụng lao động.

Theo nhà kinh tế trưởng đến từ RSM Joseph Brusuelas, nếu tìm kiếm dấu hiệu của một cú hạ cánh mềm, thì CPI giảm chính là dấu hiệu không thể nhầm lẫn cho thấy nền kinh tế Mỹ bền bỉ hơn nhiều so với mọi dự đoán từ trước năm 2023, nhưng cho đến khi lạm phát trở lại mức 2%, Fed sẽ còn đối mặt với nhiều thách thức.

Vẫn còn nguy cơ một cuộc suy thoái mới

Trong quý III, mỗi tháng các doanh nghiệp ở Mỹ tạo thêm trung bình 204.000 việc làm, giảm so với giai đoạn sau đại dịch nhưng vẫn cao hơn con số trung bình 163.000 của cả năm 2019. Mặc dù tỷ lệ thất nghiệp đã tăng lên mức 3,9% nhưng vẫn được cho là ở mức thấp. Một câu hỏi lớn được đặt ra: liệu người tiêu dùng hiện đang thúc đẩy đà phục hồi của nền kinh tế Mỹ có thể duy trì được hoạt động chi tiêu hay không?

Theo đó, chi tiêu tiêu dùng tăng trưởng hàng năm ở mức 4% trong quý III, nhưng sự tăng trưởng này bắt nguồn từ các khoản tiết kiệm đã được tích lũy nhờ các chương trình kích thích của chính phủ trong giai đoạn đại dịch. Và trong tháng 9 vừa qua, tỷ lệ tiết kiệm đã giảm từ mức 5,3% xuống 3,4% trong tháng 9. Do đó, thực trạng về khả năng chi tiêu của người dân Mỹ sẽ được thể hiện rõ nhất vào mùa nghỉ lễ năm nay.

Hiệp hội Bán lẻ Quốc gia dự báo rằng, chi tiêu trong giai đoạn tháng 11 - 12 năm nay sẽ tăng trong khoảng 3 - 4% so với cùng kỳ năm ngoái, nhưng con số này vẫn thấp hơn so với mức tăng 5,4% năm 2022 và 12,7% trong năm 2021. Theo báo cáo của Bộ Thương mại Mỹ, chi tiêu tiêu dùng tại các cửa hàng, nhà hàng và trực tuyến đã giảm 0,1% trong tháng 10, mức giảm đầu tiên kể từ tháng 3. Hơn nữa, doanh số bán ô tô và đồ nội thất cũng đã giảm mạnh là dấu hiệu cho thấy các hộ gia đình nước này đang giảm bớt các khoản chi tiêu lớn.

Ngoài ra, tỷ lệ thất nghiệp đã tăng nửa điểm phần trăm kể từ tháng 4, đây được xem là tín hiệu cảnh báo sớm vì mức tăng như vậy thường xuất hiện ngay trước một cuộc suy thoái. Số lượng người nộp đơn xin trợ cấp thất nghiệp đang tăng ở mức thấp trong lịch sử, nhưng số lượng người nhận trợ cấp thất nghiệp đã tăng trong 7 tuần liên tiếp, lên gần 1,6 triệu người trong tuần kết thúc vào hôm 21/10, mức cao nhất kể từ tháng 4. Điều này cho thấy người lao động ngày càng gặp khó khăn hơn trong việc tìm công việc mới.

Chi phí lãi vay cao hơn sẽ khiến cho doanh nghiệp phải chi nhiều tiền hơn để trả nợ. Nhiều doanh nghiệp cũng đang tạm hoãn kế hoạch mở rộng. Tài chính hộ gia đình cũng trở nên khó khăn hơn. Tỷ lệ người vay thẻ tín dụng mới quá hạn đã tăng lên 2% trong quý III năm nay, cao hơn so với trước đại dịch. Trong một môi trường mong manh như vậy, giá năng lượng tăng mạnh hoặc một đợt phá sản của các doanh nghiệp, ngân hàng có thể đẩy nền kinh tế Mỹ vào một cuộc suy thoái trong năm tới.

Liệu Fed có chấm dứt lộ trình tăng lãi suất?

Hiện nay tình trạng lạm phát đã có dấu hiệu giảm tốc, nhưng nhiều người Mỹ vẫn không an tâm vì mọi thứ đang tăng giá một cách bất thường từ ô tô, hàng tạp hóa đến nhà ở. Trong báo cáo lạm phát tháng 10, CPI lõi đã tăng trong 5 tháng liên tục, với mức tăng chậm hơn so với hai năm trước, đây là những điều kiện mà giới chức Fed tin rằng đủ sức thuyết phục để không cần tăng lãi suất.

Trong năm nay, Fed đã nâng lãi suất cơ bản lên mức cao nhất trong 22 năm để kiềm chế lạm phát thông qua việc hạ nhiệt hoạt động kinh tế. Fed đã giảm cường độ tăng lãi suất vào cuối năm ngoái và nâng lãi suất cơ bản ở cấp độ trung tính hơn trong suốt 7 tháng gần đây, với mức tăng khiêm tốn là 0,25 điểm phần trăm mỗi đợt. Kể từ đó, trong hai phiên họp tháng 9 và tháng 11 Fed đều quyết định giữ nguyên lãi suất cơ bản.

Các chuyên gia cho rằng, nhiều khả năng Fed sẽ tiếp tục duy trì mức lãi suất này trong cuộc họp từ ngày 12 - 13/12 tới. Nếu Fed giữ lãi suất ổn định vào tháng tới, thời gian tạm dừng tăng lãi suất sẽ được kéo dài lên khoảng 6 tháng. Bước “đóng băng” lãi suất này diễn ra sẽ tạo ra luồng quan điểm lạc quan về việc Fed sẽ đạt được mục tiêu “hạ cánh mềm” đối với nền kinh tế Mỹ.

Mặc dù đây được xem là tín hiệu tốt, nhưng Chủ tịch Fed Jerome Powell cho biết, Fed không vội vã tuyên bố chiến thắng lạm phát. Một số quan chức cũng tỏ ra thận trọng, vì ngay cả khi đã giảm nhiệt thì lạm phát vẫn cao hơn ngưỡng mục tiêu 2%.

Giới phân tích cho biết, dữ liệu mới nhất cũng làm giảm khả năng Fed tiếp tục tăng lãi suất vào đầu năm 2024. Trong cuộc họp sắp tới, thay vì tập trung vào việc có nên tăng lãi suất hay không, Fed có thể ưu tiên việc có nên sửa đổi định hướng chính sách trong tuyên bố sau cuộc họp hay không. Và nếu có thì việc sửa đổi cần thực hiện ra sao để phản ánh những bước tiến gần đây về lạm phát, cũng như triển vọng về việc có thêm đợt tăng lãi suất.

Cuối cùng, liệu Fed có thể duy trì mức giảm lạm phát này hay không sẽ còn phụ thuộc vào cách thức nền kinh tế Mỹ thích ứng trước loạt tăng lãi suất, thắt chặt tiền tệ trong quá khứ. Và chi tiêu tiêu dùng mạnh mẽ sẽ giúp tăng cường khả năng phục hồi kinh tế trong năm nay.

Thảm cảnh trung tâm mua sắm ở Mỹ: Nhiều nơi bị ví như ‘zombie’, mất gần 100% giá trị

(Ảnh minh họa).

Nước Mỹ có hàng trăm trung tâm mua sắm ‘zombie’.

Trung tâm mua sắm Berkshire từng đông đúc tới mức các con đường dẫn đến bãi đậu xe ùn tắc liên tục. Thanh thiếu niên vùng lân cận thường đổ xô đến đây sau mỗi giờ tan học, tụ tập tại khu ăn uống hoặc trò chuyện rôm rả quanh đài phun nước trước sân.

Ngày nay, bãi đậu xe Berkshire có tới 5 hố sụt, một hố sâu đến mức người dân có thể nhìn thấy mạch nước chảy ngầm bên dưới. Tuần trước, ngay trước thềm ngày mua sắm Black Friday, ban quản lý trung tâm cố gắng khắc phục tình trạng tắc cống khiến nước thải tràn lên cả lối đi.

“Nơi đây đã phát triển mạnh mẽ trong ít nhất 3 thập kỷ. Thật buồn khi thấy cảnh hiện tại”, Michele Bare, quản lý quận Wyomissing, cho biết.

Nước Mỹ có hàng trăm trung tâm mua sắm ‘zombie’ như Berkshire. Theo công ty nghiên cứu bất động sản Green Street, những căn hộ cũ, cấp thấp đã mất ít nhất một nửa giá trị và trong một số trường hợp, thậm chí là 70% kể từ thời kỳ đỉnh cao nhất cuối năm 2016. Lúc này, chủ sở hữu thường ngừng thanh toán các khoản thế chấp và tìm cách thương lượng lại với người cho vay.

Đó là lúc Namdar Realty & Mason muốn tham gia thương vụ. Họ kiếm tiền bằng cách mua lại các trung tâm thương mại với giá rẻ, sau đó duy trì hoạt động. Bà Michele Bare cho biết cộng đồng sẽ được hưởng lợi nếu Berkshire trở thành nơi giá trị hơn, chẳng hạn như tích hợp nhà ở, văn phòng y tế hoặc không gian giáo dục.

“Bất kỳ đề xuất nào cũng sẽ tốt hơn một trung tâm mua sắm đổ nát”, bà nói.

Được biết, Namdar Realty & Mason đã trả khoảng 95.000 USD thuế mỗi năm, ít hơn khoảng 86% so với mức hơn 660.000 USD mà chủ sở hữu trước đó đã phải chi trả. Tổ chức này hiện đang khám phá cơ hội liên doanh với một nhà phát triển khu dân cư cho một dự án thuộc khu trung tâm thương mại.

“Mục tiêu của chúng tôi là tăng thêm giá trị cho tài sản của mình. Chúng tôi luôn nỗ lực khắc phục mọi vấn đề về bảo trì cũng như quản lý”, đại diện Namdar Realty & Mason nói và cho biết hiện mới chỉ bán lại được 10 trong số hàng chục trung tâm thương mại khép kín đã mua kể từ năm 2012. Hiện cả 2 đang sở hữu khoảng 80 trung tâm thương mại.

“Hầu hết các trung tâm mua sắm đều không chết. Chúng chỉ thay đổi thôi”, Elliot Nassim, chủ tịch của Mason cho biết.

Vào tháng 6, Namdar Realty báo cáo lợi nhuận gộp là 86,7 triệu USD, tăng gần 8% so với cùng tháng năm ngoái. Các trung tâm thương mại của họ phần lớn đều đạt hiệu suất tốt khi người mua hàng quay trở lại sau đại dịch.

Sự phát triển của các trung tâm mua sắm ở Mỹ bùng nổ vào những năm 1960 và 1970, khi người dân rời thành phố để đến vùng ngoại ô. Các trung tâm mua sắm tập trung chủ yếu vào chuỗi cửa hàng bách hóa, bán mọi thứ từ quần áo, giày dép đến phụ tùng ô tô, đồ gia dụng, thiết bị làm vườn và sách.

Theo thời gian, các cửa hàng bách hóa bắt đầu mất thị phần vào tay các đối thủ cạnh tranh giá thấp, chẳng hạn như Staples và Home Depot. Đến giữa những năm 2010, doanh số bán hàng tiếp tục bị ăn mòn bởi thương mại điện tử. Theo Green Street, từ năm 2016 đến năm 2020, hơn 1.000 cửa hàng bách hóa đã đóng cửa trên khắp nước Mỹ. Khoảng 150 trung tâm thương mại khép kín đã thoái trào kể từ khi nguồn cung đạt đỉnh vào năm 2008.

Vào tháng 6, Crystal Mall được mua lại với giá 9,5 triệu USD dù trước đó được định giá ở mức 153 triệu USD vào năm 2012, tức mất tương đương gần 100% giá trị. Midway Mall ở Elyria, Ohio cũng được thâu tóm vào năm 2017 với giá 4,5 triệu USD.

Hàng triệu người Mỹ đang sa vào bẫy do Trung Quốc tạo ra

Theo một báo cáo mới của Pew, ngày càng nhiều người trưởng thành ở Hoa Kỳ thừa nhận rằng họ thường xuyên nhận tin tức trên TikTok. Báo cáo lưu ý, “Điều này trái ngược với nhiều trang truyền thông xã hội khác, nơi mà lượng tiếp nhận tin tức đã giảm hoặc không thay đổi trong những năm gần đây.”

Điều này sẽ khiến tất cả độc giả nào quan tâm đến Hoa Kỳ đều phải lo lắng. Như báo cáo này chứng minh rõ ràng, TikTok là một ứng dụng nguy hiểm đến mức không thể ngờ được, và rất có thể đang bị Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) vũ khí hóa. Cụ thể hơn, ứng dụng này đang được ĐCSTQ sử dụng để gây chia rẽ thêm cho một đất nước vốn đã bị chia rẽ một cách nguy hiểm rồi.

Báo cáo của Pew nêu rõ, kể từ năm 2020, tỷ lệ người trưởng thành ở Hoa Kỳ thường xuyên nhận tin tức từ TikTok “đã tăng hơn gấp bốn lần,” từ 3% trong ba năm trước lên 14% vào năm 2023. Các tác giả của báo cáo đáng suy ngẫm này cho biết thêm, hiện nay “43% người dùng TikTok cho hay họ thường xuyên nhận được tin tức trên trang này, tăng từ 33% trong năm 2022.”

Không hiếm khi các ký giả ở cả hai phe chính trị đồng ý về một vấn đề cụ thể. Tuy nhiên, với TikTok — từ New York Post đến New York Times, Washington Post đến Washington Examiner — mọi người dường như đều đồng ý rằng TikTok là một ứng dụng đầy phá hoại.

Điều này giải thích tại sao Nepal mới đây đã chọn cấm TikTok, cho rằng nền tảng này lan truyền nội dung ảnh hưởng tiêu cực đến “sự hòa hợp xã hội.” Ấn Độ, một nước láng giềng của Nepal, cũng đã cấm TikTok — vì lý do chính đáng.

Đầu năm nay, The Guardian đã xuất bản một bài viết, cho thấy một cách tỉ mỉ cách mà TikTok dường như là một phần trong “chiến dịch chiến tranh nhận thức” của ĐCSTQ.

TikTok là sự bổ sung mới nhất cho lĩnh vực nhận thức trong chiến dịch quân sự của ĐCSTQ. Nói tóm lại, tâm thức, trí óc con người là một chiến trường mới, và còn cách nào tốt hơn để chinh phục nó so với việc vũ khí hóa một ứng dụng hiện được 150 triệu người Mỹ sử dụng chứ?

Ông James Giordano, một chuyên gia về vũ khí hóa công nghệ, đồng ý với quan điểm trên. Là đồng giám đốc Chương trình Trung tâm Pellegrino-Viện O’Neill về Khoa học Não bộ và Luật và Chính sách Y tế Toàn cầu tại Đại học Georgetown, ông Giordano nói với tôi rằng ĐCSTQ xem TikTok là bánh răng then chốt trong tiến trình phát triển các Chiến dịch Tâm lý (PSYOP.)

Là người có nghiên cứu xoay quanh việc lạm dụng các kỹ thuật và công nghệ khoa học thần kinh trong y học, đời sống xã hội, và các ứng dụng quân sự, ông Giordano tin rằng “cả TikTok và các hình thức phức tạp hơn về trí tuệ/đánh giá và giao tiếp tâm lý chung sẽ ngày càng được sử dụng để thúc đẩy ảnh hưởng trong lối truyền đạt, ý nghĩa hình ảnh, và diễn giải theo ngữ cảnh.”

Theo ông Giordano, tác động của ứng dụng này đối với “truyền thông cá nhân và đại chúng” có thể sẽ tăng lên, đặc biệt là với cuộc bầu cử tổng thống — được cho là cuộc bầu cử quan trọng nhất nước Mỹ trong thế kỷ 21 — sẽ chỉ còn một năm nữa thôi.

Theo chuyên gia này, các chiến dịch tâm lý “tạo thành một lĩnh vực xác định trong ‘ba cuộc chiến [không bom đạn] của Trung Quốc.’” Lĩnh vực đầu tiên liên quan đến việc đánh giá tâm lý về niềm tin và mô hình nhận thức chung của đối thủ. Đây là một trong những lý do khiến TikTok trở nên nguy hiểm như vậy. Ứng dụng này có thể được sử dụng để đo “nhiệt độ” của chính trường Hoa Kỳ. Sau khi nhiệt độ đo được rồi, thì giai đoạn thứ hai liên quan đến việc kiểm soát các hãng truyền thông khác nhau, thông qua việc truyền thông điệp tâm lý cụ thể. Bước cuối cùng liên quan đến việc đưa ra lối truyền đạt ủng hộ ĐCSTQ hoặc sửa đổi lối truyền đạt có lợi cho Bắc Kinh. Ông Giordano cho rằng mục đích chính ở đây liên quan đến việc tạo ra “các chương trình gây ảnh hưởng và truyền thông điệp mang tính phá hoại nhằm tiếp cận và tác động đến các yếu tố dễ thay đổi về nhận thức, cảm xúc, và hành vi của Hoa Kỳ và phương Tây.”

Chúng ta nên lắng nghe khi một người có đủ tư cách như ông Giordano đây lên tiếng.

Suy cho cùng, chúng ta đang nói về Trung Quốc, một quốc gia đã đánh cắp dữ liệu cá nhân của 80% người Mỹ trưởng thành. Rất có thể TikTok đang được sử dụng, không chỉ để tác động đến tâm thức người Mỹ, mà còn để đánh cắp dữ liệu cá nhân của họ.

Trong tháng Hai năm nay, Thượng nghị sĩ Michael Bennet (Dân Chủ-Colorado) đã kêu gọi Apple và Google loại bỏ ngay TikTok khỏi các cửa hàng tương ứng của mình, với lý do lo ngại về an ninh quốc gia. Là thành viên Đảng Dân Chủ trong Ủy ban Tình báo Thượng viện, ông Bennet đã viết một lá thư có lời lẽ mạnh mẽ, hỏi tại sao “các mệnh lệnh của Đảng Cộng Sản Trung Quốc lại có quyền thu thập dữ liệu sâu rộng như vậy về người dân Mỹ hoặc quản lý nội dung cho gần một phần ba dân số của chúng ta.” Câu hỏi này không những không được trả lời, mà TikTok vẫn có sẵn trên App Store của Apple và thông qua Google Play.

Điều này thật không ổn.

Hồi tháng Chín, một báo cáo phân tích của Microsoft về mối đe dọa đã phác thảo rõ ràng cách mà các chiến dịch gây ảnh hưởng và thông tin giả của ĐCSTQ, đang nhắm mục tiêu vào cả cử tri Mỹ và các ứng cử viên chính trị ở cả hai phía.

Theo báo cáo, “các hoạt động gây ảnh hưởng bí mật” có liên kết chặt chẽ với Bắc Kinh “hiện đã bắt đầu thu hút thành công khán giả mục tiêu trên mạng xã hội ở mức độ lớn hơn so với quan sát trước đây.”

Xét thấy TikTok thuộc sở hữu của Trung Quốc là ứng dụng truyền thông xã hội được sử dụng nhiều nhất ở Hoa Kỳ, có thể chắc chắn kết luận rằng ĐCSTQ đang tập trung vào việc gây ảnh hưởng đến nền tảng này nhiều hơn so với Instagram và Facebook.

Một dấu hiệu không mấy hay ho sắp xảy ra. Vì lý do nào đó, quá nhiều người trong chúng ta, từ chối hiểu. Điều này đã xảy ra trong nhiều năm.

Vào năm 2013, một chuyên gia về Trung Quốc tên là Dean Cheng, khi đó đang liên kết với Quỹ Di sản, đã cảnh báo độc giả rằng “Thời đại Thông tin mang đến khả năng chưa từng có là tác động đến cả các nhà lãnh đạo và người dân của một quốc gia.”

Giống như ông Giordano, ông Cheng nhấn mạnh rằng “cốt lõi của khái niệm tâm lý chiến của Trung Quốc là thao túng những khán giả đó, bằng cách tác động đến tiến trình suy nghĩ và khuôn khổ nhận thức của họ. Khi làm như vậy, Bắc Kinh hy vọng có thể giành chiến thắng trong các cuộc xung đột về sau mà không cần nổ súng — chiến thắng được thực hiện thông qua sự kết hợp giữa việc làm suy yếu ý chí của đối thủ và gây ra sự rối loạn tối đa.”

Hãy nhớ rằng cảnh báo này được đưa ra nhiều năm trước khi TikTok được tạo ra, một ứng dụng từng bước phá hủy cơ cấu xã hội Mỹ quốc.

Mỹ lần đầu gửi hàng viện trợ cho Gaza

(Ảnh minh họa).

Mỹ thông báo điều ba phi cơ quân sự đến Ai Cập, chở theo hàng viện trợ để cung cấp cho người dân Gaza trong thời gian ngừng bắn.

"Chuyến bay viện trợ đầu tiên trong số ba chuyến bay do quân đội Mỹ thực hiện sẽ đến Bắc Sinai, Ai Cập ngày 28/11", AFP dẫn lời các quan chức cấp cao chính quyền Mỹ nói. "Động thái sẽ cung cấp nhiều hàng hóa, như vật tư y tế, thực phẩm, đồ dùng mùa đông cho dân thường".

Theo nhóm quan chức, nhân viên Liên Hợp Quốc sẽ tiếp nhận hàng viện trợ ở Bắc Sinai, sau đó đưa vào Dải Gaza để phân phát. Bắc Sinai có biên giới chung với Dải Gaza, khu vực Hamas kiểm soát.

Đây là lần đầu tiên Mỹ gửi hàng viện trợ cho Gaza kể từ khi xung đột giữa Israel và Hamas bùng phát ngày 7/10. Hoạt động bắt đầu một ngày sau khi Tổng thống Mỹ Joe Biden nói ông sẽ tranh thủ việc Israel và Hamas gia hạn lệnh ngừng bắn để đưa thêm hàng viện trợ vào Gaza.

Hai chuyến bay tiếp theo sẽ đến Ai Cập "trong những ngày tới", nhóm quan chức cho biết.

Xung đột nổ ra hôm 7/10, khi Hamas bất ngờ tấn công lãnh thổ Israel, khiến khoảng 1.200 người thiệt mạng và 240 dân thường bị bắt làm con tin. Israel đáp trả bằng các cuộc không kích và tấn công trên bộ vào Dải Gaza. Giao tranh giữa hai bên đã khiến khoảng 16.000 người thiệt mạng, hơn 41.000 người bị thương tính đến ngày 23/11.

Liên Hợp Quốc ước tính khoảng 2/3 trong tổng số 2,3 triệu người ở Gaza phải di dời vì chiến sự, đẩy khu vực vào tình trạng khủng hoảng nhân đạo. Nước, thực phẩm thiết yếu và nhiên liệu trở nên khan hiếm.

Israel và Hamas đạt thỏa thuận ngừng bắn dài 4 ngày, bắt đầu từ 24/11, để trao đổi con tin và tạo điều kiện cho hoạt động nhân đạo. Trong thời gian này, Hamas đã thả 69 người, gồm 50 người Israel và người mang quốc tịch kép, cùng với 19 người nước ngoài. Đổi lại, Israel trả tự do cho 150 công dân Palestine đang bị giam tại các nhà tù nước này. Thỏa thuận đã được gia hạn thêm hai ngày.

Mỹ cho biết 800 xe tải viện trợ đã từ Ai Cập đến Gaza trong 4 ngày ngừng bắn, một số xe còn tiếp cận được miền bắc Gaza, nơi bị tàn phá nặng nề do chiến sự.

"Hoạt động viện trợ trong 4-5 ngày qua có quy mô lớn đến mức cần phải bổ sung hàng hóa. Những phi cơ viện trợ của Mỹ là một phần trong nỗ lực bù đắp này", theo một quan chức Mỹ cấp cao.

Nguồn: Tuổi Trẻ; Tạp Chí Tài Chính; Soha; Epoch Times; Vnexpress

Xem thêm:
Về trang trước

Chủ đề:

Bình luận và đánh giá
Gửi nhận xét đánh giá

Việt Nam

Người Việt hải ngoại

EU

Thế giới

Lên đầu trang