Mối nguy sinh vật ngoại lai; 3 tháng nóng kỷ lục; Khủng hoảng vùng cực; Kiev bất ngờ phòng thủ; Bước chuyển từ 'Lục địa Đen'

Mối nguy toàn cầu từ sinh vật ngoại lai, gây thiệt hại 423 tỷ USD/năm

(Ảnh minh họa).

Báo cáo mới nhất của Liên hợp quốc (LHQ) chỉ ra các loài sinh vật ngoại lai xâm lấn đang gây thiệt hại cho thế giới 423 tỷ USD/năm và khiến môi trường hỗn loạn.

Theo đài truyền hình CNN, báo cáo mới do LHQ thực hiện cho thấy các loài xâm lấn khiến thực vật và động vật trên Trái Đất tuyệt chủng, đe dọa an ninh lương thực và làm trầm trọng thêm thảm họa môi trường trên toàn cầu.

Các nhà khoa học hàng đầu cho biết hoạt động của con người - thường thông qua hoạt động du lịch hoặc thương mại toàn cầu - đang khiến các loài động vật, thực vật và sinh vật khác lan rộng ở các khu vực mới với “tốc độ chưa từng có”, với 200 loài ngoại lai mới được ghi nhận mỗi năm.

Trong số 37.000 sinh vật ngoại lai được biết đến, 3.500 loài được coi là có hại và gây ra mối đe dọa toàn cầu nghiêm trọng do phá hủy mùa màng, xóa sổ các loài sinh vật bản địa, làm ô nhiễm nguồn nước, lây lan dịch bệnh và đặt nền móng cho những thảm họa thiên nhiên tàn khốc. Thiệt hại kinh tế toàn cầu là rất lớn, tăng ít nhất gấp bốn lần mỗi thập kỷ kể từ năm 1970.

Nhà sinh thái học Helen Roy, đồng tác giả của báo cáo Nền tảng liên chính phủ của LHQ về đa dạng sinh học và dịch vụ hệ sinh thái (IPBES), cho biết con số trên chỉ là “phần nổi của tảng băng chìm”.

Nhóm tác giả cảnh báo nếu không có sự can thiệp để ngăn chặn sự lây lan và tác động của chúng, tổng số loài xâm lấn trên toàn cầu vào năm 2050 sẽ cao hơn 1/3 so với năm 2005. “Chúng tôi biết rằng mọi thứ không thay đổi. Biến đổi khí hậu đang trở nên tồi tệ hơn… do đó chúng tôi dự đoán mối đe dọa do các loài ngoại lai xâm lấn gây ra cũng sẽ trở nên tồi tệ hơn”, nhà sinh thái Roy nói.

Các loài ngoại lai là thực vật, động vật hoặc các sinh vật khác di chuyển đến một vùng hoặc khu vực mới thông qua các hoạt động của con người. Một loài ngoại lai trở thành loài xâm lấn khi nó sinh sôi, phát triển ở khu vực mới đó và tạo ra tác động tiêu cực đến đa dạng sinh học và hệ sinh thái địa phương, bao gồm lối sống của con người. Các ví dụ điển hình nhất cho những hiện tượng này là lục bình làm tắc nghẽn các hồ và sông ở châu Phi hay loài ốc đất khổng lồ châu Phi xuất hiện tại các ngôi làng trên đảo Giáng sinh ở Ấn Độ Dương. Mới đây nhất là vụ cua xanh sinh sản tràn lan, đe dọa nền kinh tế của Italy hay muỗi đang lây lan các bệnh như sốt xuất huyết, sốt rét và virus Tây sông Nile sang các khu vực mới.

Theo báo cáo của LHQ, sự lây lan của các loài ngoại lai khắp các quốc gia và lục địa là nguyên nhân chính gây mất đa dạng sinh học, làm suy giảm mạng lưới hệ sinh thái phức tạp mà nhân loại phụ thuộc vào. Báo cáo chỉ ra các loài xâm lấn có mối liên hệ với 60% số vụ tuyệt chủng toàn cầu được ghi nhận.

Một khi loài xâm lấn chiếm ưu thế, tác động có thể rất thảm khốc. Gần đây nhất, các loại cỏ và cây bụi ngoại lai ở Huawaii khô héo đã góp phần gây ra vụ cháy rừng tàn khốc ở Maui (Mỹ) vào tháng trước. Đây là một trong những vụ cháy rừng nguy hiểm nhất trong lịch sử hiện đại của Mỹ.

Anibal Pauchard, đồng tác giả báo cáo kiêm Giáo sư tại Viện Sinh thái và Đa dạng sinh học Chile, nhận định: “Sẽ là một sai lầm cực kỳ tốn kém nếu coi các cuộc xâm lược sinh học chỉ là vấn đề của người khác. Mặc dù từng loài gây thiệt hại khác nhau tùy theo từng nơi, nhưng đây là những rủi ro và thách thức có tác động cục bộ, mà người dân ở mọi quốc gia, mọi thành phần và mọi cộng đồng phải đối mặt. Ngay cả Nam Cực cũng đang bị ảnh hưởng”.

Cùng với các loài xâm lấn, các nguyên nhân chính khác gây mất đa dạng sinh học bao gồm hoạt động phá hủy môi trường sống trên đất liền và biển, khai thác sinh vật, biến đổi khí hậu và ô nhiễm.

Báo cáo kết luận cuộc khủng hoảng khí hậu sẽ chỉ làm tăng thêm mối đe dọa từ các loài xâm lấn, trở thành yếu tố chính khiến các loài này lan rộng và sinh sống ở các khu vực mới.

Các nhà khoa học lạc quan rằng nhân loại vẫn có thể ngăn chặn sự xâm lấn của các loài ngoại lai. Điều cần làm đầu tiên và quan trọng nhất vẫn là phòng ngừa, đặc biệt là với hệ thống biển. Các hành động ngăn chặn bao gồm kiểm soát nghiêm ngặt xu hướng xu nhập và hệ thống cảnh báo sớm để phát hiện và ứng phó với các loài trước khi chúng kịp hình thành quần thể.

Thế giới trải qua 3 tháng liên tiếp nóng kỷ lục

Thế giới tiếp tục trải qua tháng 8 nóng chưa từng có, kéo dài chuỗi 3 tháng liên tiếp ghi nhận nhiệt độ cao kỷ lục trên toàn cầu.

Chương trình phụ trách vấn đề biến đổi khí hậu của Liên minh châu Âu Copernicus ngày 6/9 cho biết, tháng vừa qua là tháng 8 nóng kỷ lục trên toàn cầu, kéo dài chuỗi 3 tháng liên tiếp thế giới hứng chịu nhiệt độ cao chưa từng có.

Nhiệt độ không khí bề mặt trung bình toàn cầu là 16,82⁰C trong tháng 8/2023, cao hơn 0,71⁰C so với mức trung bình của tháng 8 trong giai đoạn 1991-2020 và cao hơn 0,31⁰C so với kỷ lục trước đó ghi nhận vào tháng 8/2016.

Ước tính tháng 8 năm nay nóng hơn khoảng 1,5 độ C so với mức trung bình thời kỳ tiền công nghiệp trong giai đoạn 1850-1900.

Hạn chế mức tăng nhiệt độ toàn cầu ở mức 1,5 độ C là cam kết trọng tâm của thỏa thuận chống biến đổi khí hậu quốc tế Paris được 196 quốc gia thông qua vào năm 2015.

Phó giám đốc Copernicus Samantha Burgess cho biết: "Bằng chứng khoa học rất thuyết phục. Chúng ta sẽ tiếp tục chứng kiến nhiều kỷ lục về khí hậu hơn cũng như các hiện tượng thời tiết cực đoan xảy ra thường xuyên và dữ dội hơn, ảnh hưởng đến xã hội và hệ sinh thái, cho đến khi chúng ta ngừng thải khí nhà kính".

Ở châu Âu, tháng 8 ẩm ướt hơn bình thường trên phần lớn khu vực Trung Âu và bán đảo Scandinavia, dẫn đến lũ lụt, trong khi Pháp, Hy Lạp, Italy và Bồ Đào Nha chứng kiến hạn hán dẫn đến cháy rừng.

Copernicus cho biết, tình trạng nhiệt độ trên mức trung bình cũng xảy ra ở Australia, một số quốc gia Nam Mỹ và phần lớn Nam Cực vào tháng 8.

Trong khi đó, các đại dương toàn cầu ghi nhận chỉ số nhiệt độ bề mặt hàng ngày ấm nhất trong lịch sử.

Cho tới nay, năm 2023 vẫn là năm nóng thứ 2 được ghi nhận, chỉ kém một chút so với năm 2016, theo Reuters.

Khủng hoảng vùng cực: Liệu khí hậu nóng lên có gây ra sự lây lan của các loại virus cổ đại?

(Ảnh minh họa).

Trong vài thập kỷ qua, hiện tượng nóng lên của khí hậu đã trở thành vấn đề toàn cầu không thể bỏ qua. Nhiệt độ tăng, lượng mưa thay đổi và các hiện tượng biến đổi khí hậu khác có thể gây ra những hậu quả sâu rộng đối với thế giới sinh học.

Ở những vùng cực băng giá và lạnh lẽo có một bí ẩn nguy hiểm khiến các nhà khoa học lo lắng. Khi hiện tượng nóng lên toàn cầu ngày càng gia tăng, bí ẩn này cũng dần hé lộ những mối đe dọa chưa từng có. Theo những nghiên cứu ở thời điểm hiện tại, khí hậu nóng lên đã khiến băng ở hai cực tan nhanh hơn, dẫn đến nguy cơ thức tỉnh và lây lan các loại virus cổ đại, không hoạt động ẩn nấp dưới lớp băng.

Những loại virus không hoạt động này thường bị mắc kẹt ở các vùng núi và sông băng, nhưng khi nhiệt độ toàn cầu tăng lên, chúng có thể được thả vào hệ sinh thái mỏng manh của chúng ta. Đây là một thực tế cực kỳ đáng sợ mà chúng ta sắp phải đối mặt, không chỉ tiềm ẩn mối đe dọa đối với sức khỏe con người mà còn có thể tác động rất lớn đến đa dạng sinh học của toàn Trái Đất.

Liệu sự nóng lên của khí hậu có ảnh hưởng đến sự kích hoạt và lây lan của các loại virus không hoạt động hay không luôn là chủ đề nóng trong cộng đồng khoa học. Nhiều nhà khoa học đang nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu đối với virus và cố gắng tìm ra những mối liên hệ khả dĩ.

Nghiên cứu trong những năm gần đây đã chỉ ra rằng hiện tượng nóng lên của khí hậu có thể thúc đẩy sự kích hoạt và lây lan của một số loại virus không hoạt động, nhưng vẫn còn nhiều câu hỏi chưa được giải đáp về vấn đề này.

Đầu tiên, chúng ta phải hiểu virus không hoạt động là gì. Virus không hoạt động là loại virus đang bị mắc kẹt dưới lớp băng hoặc tiềm ẩn trong cơ thể vật chủ và có thể tồn tại trong thời gian dài mà không biểu hiện triệu chứng. Điều này có nghĩa là vật chủ có thể không biết về sự hiện diện của virus cho đến khi một số điều kiện nhất định kích hoạt hoạt động của virus Những tình trạng này có thể bao gồm hệ thống miễn dịch suy yếu, thay đổi môi trường, v.v.

Trong vài thập kỷ qua, hiện tượng nóng lên của khí hậu đã trở thành vấn đề toàn cầu không thể bỏ qua. Nhiệt độ tăng, lượng mưa thay đổi và các hiện tượng biến đổi khí hậu khác có thể gây ra những hậu quả sâu rộng đối với thế giới sinh học. Một số nghiên cứu cho thấy môi trường ấm hơn có thể thúc đẩy sự sinh sản và lây lan của virus. Ví dụ, nhiệt độ tăng có thể làm suy yếu hệ thống miễn dịch của vật chủ, điều này có thể tạo cơ hội cho các virus tiềm ẩn hoạt động và gây bệnh. Ngoài ra, nhiệt độ và độ ẩm cao hơn có thể tạo ra môi trường sinh sản thích hợp hơn cho nhiều sinh vật truyền bệnh, chẳng hạn như muỗi, do đó làm tăng cơ hội lây truyền vi rút.

Nghiên cứu về mối quan hệ giữa hiện tượng nóng lên của khí hậu và virus không hoạt động vẫn còn ở giai đoạn sơ khai và các kết luận thu được cho đến nay vẫn chưa đủ để thiết lập mối quan hệ nhân quả rõ ràng.

Ngoài hiện tượng khí hậu nóng lên, các nhà nghiên cứu cũng xem xét các yếu tố khác có thể ảnh hưởng đến sự kích hoạt và lây lan của các loại virus không hoạt động, chẳng hạn như sự di cư của dân số và sự gia tăng toàn cầu hóa. Những yếu tố này có thể thay đổi cách tiếp xúc giữa con người với mầm bệnh và tạo thêm cơ hội cho virus lây lan.

Điều kiện khí hậu ấm áp có thể đẩy nhanh sự lây lan của virus. Đầu tiên, nhiệt độ cao tạo điều kiện cho vi khuẩn và virus phát triển và sinh sản, đặc biệt là trong các vùng nước. Nhiều loại virus lợi dụng khí hậu ấm áp và các vùng nước để mở rộng phạm vi sống sót của chúng, do đó làm tăng khả năng lây lan của chúng.

Thứ hai, nhiệt độ cao sẽ đẩy nhanh những thay đổi trong hệ sinh thái vật chủ, khiến các loài dễ bị nhiễm virus hơn khi chúng tìm kiếm môi trường sống và nguồn thức ăn mới. Do đó, nhiệt độ tăng có khả năng làm tăng nguy cơ lây truyền virus ở các vùng cực.

Khi khí hậu ấm lên, băng ở các vùng cực tan nhanh hơn, điều này cũng kéo theo hàng loạt tác động không thể bỏ qua. Đầu tiên, băng tan cho phép virus bị chôn vùi trong băng được thải trở lại môi trường. Nghiên cứu cho thấy có một số lượng lớn virus sinh học ẩn náu trong lớp băng vĩnh cửu ở các vùng cực, những virus này không hoạt động trong thời gian băng giá dài, nhưng khi thải ra môi trường, chúng có thể gây ra các bệnh mới.

Thứ hai, băng tan cũng đẩy nhanh quá trình trao đổi vật chất giữa đại dương và đất liền, điều này có thể dẫn đến sự lây lan dần dần của virus sang động vật và con người trên đất liền thông qua chuỗi thức ăn.

Sự nóng lên của khí hậu đã làm thay đổi sự cân bằng động của các hệ sinh thái ở các vùng cực, từ đó tạo điều kiện cho virus lây lan. Các hệ sinh thái ở vùng cực rất nhạy cảm và bất kỳ sự xáo trộn bên ngoài nào cũng có thể phá vỡ sự cân bằng giữa các loài. Những thay đổi trong hệ sinh thái do biến đổi khí hậu có thể làm tăng hoặc giảm số lượng một số loài nhất định, ảnh hưởng đến sự tương tác của chúng với virus. Ví dụ, nhiệt độ đại dương tăng có thể dẫn đến sự gia tăng quần thể của một số loài động vật biển, tạo thêm cơ hội cho sự lây lan của virus biển. Những thay đổi này sẽ làm trầm trọng thêm nguy cơ lây lan virus.

Kiev bất ngờ chuyển sang phòng thủ

Do những thất bại liên tiếp trên thực địa, quân đội Ukraine đã buộc phải thay đổi chiến thuật và chuyển sang thế phòng thủ.

Thông tin bất ngờ được cựu sĩ quan tình báo quân đội Mỹ Tony Shaffer cho biết: "Tổng thống Ukraine Zelensky hiện đã lệnh cho quân nhân chuyển sang thế trận phòng thủ trước một cuộc tấn công tiềm tàng mới của Nga".

Nguyên thủ Ukraine đã nhìn thấy các cuộc tấn công của quân đội Kiev hóa ra lại không hề có tác dụng như một cuộc phản công. Ông Shaffer lưu ý không có bằng chứng nào cho thấy quân đội Ukraine đạt được tiến bộ ổn định và có ý nghĩa trong cuộc phản công.

Theo chuyên gia, thực trạng này xuất hiện là do hiệu quả của tuyến phòng thủ Nga. Shaffer giải thích, Nga có đủ thời gian để tính toán tất cả các bước đi có thể của quân đội Ukraine, do đó lực lượng Kiev dễ dàng trở thành mục tiêu.

Một cựu sĩ quan tình báo quân sự khác của Mỹ là Scott Ritter cũng cho biết, dù chuyển sang chiến thuật nào thì thất bại với Kiev là điều khó tránh bởi nhiều lý do khác nhau.

Trong đó, quân đội Ukraine đã không thực hiện các chiến thuật mà họ đã được huấn luyện, trong đó tập trung vào cách tiếp cận vũ khí tổng hợp sử dụng hỏa lực để tấn công lực lượng Nga, tìm cách kết hợp xung kích với số lượng lớn để chọc thủng các vị trí phòng thủ chắc chắn của Moscow.

Việc huấn luyện vũ khí kết hợp mà họ nhận được từ phương Tây dựa trên các nguyên tắc học thuyết, chẳng hạn như sự cần thiết của sự hỗ trợ trên không đầy đủ, điều mà Ukraine không bao giờ có thể thực hiện, khiến cuộc phản công thất bại gần như ngay từ đầu.

Chính vì vậy buộc Ukraine phải thích ứng với thực tế của chiến trường bằng cách từ bỏ cách tiếp cận theo vũ khí tổng hợp để chuyển sang chiến đấu tập trung vào bộ binh. Chiến thuật mới này đã gây thương vong cho lực lượng của Kiev.

Tuy nhiên, điều đáng tiếc là cả hai cách tiếp cận chiến tranh đều không giúp Ukraine đạt được các mục tiêu và mục đích đầy tham vọng mà nước này đã đặt ra khi tiến hành phản công, cụ thể là chọc thủng hàng phòng ngự của Nga dẫn đến cắt đứt hành lang đất liền nối Crimea với Nga.

Ukraine - với sự hỗ trợ của các đối tác NATO, đã tích lũy năng lực quân sự để tham gia vào các hoạt động quân sự phối hợp chống lại Nga kể từ khi cuộc phản công bắt đầu vào đầu tháng 6, thì thực tế là nỗ lực này không bền vững.

Nói tóm lại, Ukraine đã đi đến giới hạn cuối cùng. Trong khi tình hình chiến thuật dọc đường tiếp xúc với Nga biến động hàng ngày và Ukraine chỉ đạt được một số thành công rất hạn chế ở một số khu vực nhất định.

Thương vong nặng nề Ukraine phải gánh chịu, kết hợp với việc phản công gần như thất bại trong việc chọc thủng ngay cả tuyến phòng thủ đầu tiên đã được chuẩn bị sẵn của Nga, đã khiến quân đội Ukraine phải đưa lực lượng dự bị chiến lược vào cuộc chiến để phản công.

Đơn vị dự bị này, bao gồm một số lực lượng được huấn luyện và trang bị tốt nhất hiện có của quân Ukraine, nhằm khai thác những tiến bộ đạt được từ các hoạt động tấn công ban đầu.

Tuy nhiên, với việc chuyển sang thế phòng thủ đã cho thấy thực trạng lực lượng Ukraine đang như thế nào trong cuộc đối đầu với Nga.

Bước chuyển từ 'Lục địa Đen'

(Ảnh minh họa).

Hội nghị thượng đỉnh đầu tiên của châu Phi về biến đổi khí hậu được tổ chức tại thủ đô Nairobi của Kenya trong tuần này đã chứng minh rõ ràng rằng trọng tâm của hành động khí hậu thực sự đang thay đổi đáng kể.

Hội nghị đã thông qua Tuyên bố Nairobi, tài liệu nêu bật tính dễ bị tổn thương của châu Phi trước cuộc khủng hoảng khí hậu và kêu gọi những hành động tham vọng và tiến bộ hơn từ các nước phát triển. Các nhà lãnh đạo đã hối thúc cộng đồng quốc tế hỗ trợ "Lục địa Đen" thông qua đầu tư vào chương trình nghị sự khử carbon. Tuyên bố kêu gọi các quốc gia “mời các đối tác phát triển từ cả Nam và Bắc bán cầu sắp xếp và điều phối các nguồn lực tài chính và kỹ thuật của họ hướng tới châu Phi nhằm thúc đẩy việc sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên để lục địa này tiến tới phát triển carbon thấp và góp phần vào việc khử carbon toàn cầu”.

Ngoài Tuyên bố Nairobi, tại hội nghị, các nước châu Phi còn nhận được cam kết về khoản đầu tư 23 tỷ USD từ nhiều bên liên quan. Các quỹ sẽ hướng tới “tăng trưởng xanh, giảm thiểu và thích ứng” trên khắp "Lục địa Đen". Các cam kết bao gồm sáng kiến trị giá 4,5 tỷ USD của Các Tiểu vương quốc Arab thống nhất (UAE), nước chủ nhà Hội nghị lần thứ 28 các bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc (LHQ) về biến đổi khí hậu (COP28), với mục tiêu tạo ra 15GW năng lượng sạch ở châu Phi vào năm 2030.

Theo Nhóm Ngân hàng Phát triển châu Phi, mặc dù các quốc gia châu Phi vẫn nằm trong danh sách gây ô nhiễm carbon ít nhất thế giới, chỉ đóng góp 10% lượng khí thải toàn cầu, nhưng khu vực này cũng đang trên đà trở thành nền kinh tế phát triển nhanh nhất thế giới trong nhiều thập niên. Đây là lý do tại sao tuyên bố chung của Chủ tịch Ủy ban Liên minh châu Phi (AU) - tổ chức liên chính phủ gồm 55 thành viên - với Chính phủ Kenya và Chủ tịch COP28 (Bộ trưởng Công nghiệp và Công nghệ tiên tiến UAE Sultan Ahmed Al-Jaber) về “tăng gấp 3 công suất năng lượng tái tạo” và “hiệu quả năng lượng gấp đôi” vào năm 2030 là một bước tiến quan trọng.

Hội nghị thượng đỉnh Nairobi không chỉ đánh dấu lần đầu tiên các nước châu Phi cùng tuyên chiến với biến đổi khí hậu bằng một tiếng nói. Đây còn là lần đầu tiên một cam kết cụ thể về năng lượng sạch được đưa ra bàn thảo ở mức độ cao như vậy. Mặc dù cam kết này vẫn chưa có hiệu lực như một thỏa thuận mang tính ràng buộc toàn châu Phi, với một số quốc gia thành viên vẫn có ý kiến phản đối, nhưng Ủy ban AU chưa bao giờ công khai tán thành một ý tưởng táo bạo như vậy.

Tất nhiên, chỉ đưa ra một tuyên bố thôi là chưa đủ. Không có tuyên bố nào, dù tham vọng đến đâu, trở nên có ý nghĩa nếu không có được hỗ trợ về tài chính.

Hội nghị thượng đỉnh này diễn ra vào thời điểm quan trọng khi thế giới cần xây dựng lộ trình giải quyết thảm họa khí hậu thông qua tài chính khí hậu. Ở đây, có thể nhắc tới vai trò của các ngân hàng phát triển đa phương như Ngân hàng Phát triển châu Phi, Ngân hàng Thế giới (WB) và Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF).

Một báo cáo gần đây của tập đoàn Zenizeni Sustainent Finance cho thấy các thị trường mới nổi và các nền kinh tế đang phát triển (ngoại trừ Trung Quốc) cần 1.300 tỷ USD vào năm 2025 và 3.500 tỷ USD vào năm 2030 để đạt được các mục tiêu phát triển bền vững và khí hậu trong các lĩnh vực như y tế và giáo dục, cơ sở hạ tầng bền vững và chuyển đổi năng lượng, khả năng thích ứng và phục hồi, nông nghiệp bền vững và đa dạng sinh học.

Bởi vậy, có thể thấy tuyên bố của Chủ tịch COP28 Sultan Ahmed Al-Jaber về một cơ sở khí hậu mới trị giá 4,5 tỷ USD dành riêng cho việc tăng cường đầu tư vào năng lượng tái tạo ở châu Phi là yếu tố thay đổi cuộc chơi. Đây là một quyết định mang tính bước ngoặt được công bố tại Hội nghị thượng đỉnh về khí hậu châu Phi.

Tại hội nghị, ông Sultan Ahmed Al-Jaber nhấn mạnh sáng kiến này sẽ chứng minh cho thế giới thấy khả năng thương mại của việc đầu tư vào cuộc cách mạng năng lượng sạch ở châu Phi và cung cấp một mô hình có thể nhân rộng nhanh chóng trên khắp lục địa. Chủ tịch COP28 cũng đang thúc đẩy các cuộc họp với lãnh đạo các tổ chức tài chính lớn nhất thế giới để xóa bỏ những rào cản lâu đời ngăn cản việc giải ngân cho các dự án giảm thiểu và thích ứng với khí hậu khẩn cấp. Cách tiếp cận mới này mang lại hy vọng thực sự về việc giải phóng nguồn tài chính mà thế giới đang rất cần.

Các chuyên gia đánh giá châu Phi không chỉ có tiềm năng năng lượng Mặt trời cao hơn nhiều so với phần còn lại của thế giới mà còn có thể cung cấp năng lượng cho phần lớn hành tinh. Năng lượng tất nhiên là xương sống của tăng trưởng kinh tế và phát triển công nghiệp. Với nguồn năng lượng sạch dồi dào, châu Phi có thể nhanh chóng trở thành trung tâm toàn cầu cho các ngành công nghiệp sạch trong tương lai. Bằng cách đầu tư vào châu Phi, thế giới đang đầu tư vào một tương lai thịnh vượng bền vững cho tất cả mọi người.

Tuyên bố Nairobi cũng nhấn mạnh: “Cải cách tài chính đa phương là cần thiết nhưng chưa đủ để cung cấp quy mô tài trợ khí hậu mà thế giới cần nhằm đạt được mức giảm phát thải 45% vào năm 2030 theo Hiệp định Paris về biến đổi khí hậu". Cách đây 14 năm, các nước phát triển đã cam kết huy động 100 tỷ USD/năm cho việc thực hiện hành động vì khí hậu ở các nước đang phát triển. Tuyên bố Nairobi lưu ý rằng cam kết này đã không được đáp ứng, đồng thời kêu gọi các nước phát triển tôn trọng cam kết.

Tuyên bố Nairobi sẽ đóng vai trò là quan điểm của châu Phi trước các cuộc họp quan trọng như Hội nghị thượng đỉnh Nhóm các nền kinh tế phát triển và mới nổi hàng đầu thế giới (G20) sắp tới ở Ấn Độ, Khóa họp lần thứ 78 Đại hội đồng LHQ và các cuộc đàm phán về khí hậu toàn cầu trong khuôn khổ COP28 tại Dubai, UAE vào tháng 11 tới.

Trong phát biểu bế mạc hội nghị, Tổng thống nước chủ nhà Kenya William Ruto cho biết: “Tuyên bố mà chúng tôi đưa ra với thế giới ngày nay xác định và củng cố quan điểm của châu Phi trên con đường tiến tới hành động vì khí hậu và các nguyên tắc cơ bản mà cộng đồng quốc tế phải tuân theo để đảm bảo rằng các yêu cầu về kinh tế và sinh thái của nhân loại đạt được một cách hiệu quả, mạch lạc và bền vững”.

Theo đánh giá của LHQ, châu Phi sẽ là châu lục dễ bị tổn thương nhất trước biến đổi khí hậu khi nhiều nước khu vực vẫn là các quốc gia thu nhập thấp, ít nguồn lực và chưa được trang bị tốt để ứng phó với những hậu quả của biến đổi khí hậu. Có thể thấy, với những gì đạt được tại hội nghị thượng đỉnh về khí hậu đầu tiên, các nhà lãnh đạo châu Phi đang muốn chứng minh rằng các quốc gia châu Phi là giải pháp hiệu quả nhất trên thế giới đối với vấn đề biến đổi khí hậu - và hiện đang đi đầu trong hành động về khí hậu.

Nguồn: Soha; Dân Trí; CafeF; Giáo Dục Thời Đại; Báo Tin Tức

Xem thêm:
Về trang trước

Chủ đề:

Bình luận và đánh giá
Gửi nhận xét đánh giá

Đọc nhiều nhất

Việt Nam: Ngọc nữ lọt top mỹ nhân đẹp nhất thế giới; Đường dây rửa tiền xuyên quốc gia; Quy hoạch công viên Thủ Lệ; Thánh đường 5.000 người trước ngày khánh thành

Việt Nam: Đề nghị kỷ luật Sử Ngọc Anh; Cáp treo mới 16.234 tỷ; Thiên đường nghỉ dưỡng; Cựu Phó TGĐ Ngân hàng VNCB trốn truy nã; Đấu giá biệt thự Chủ tịch AIC

Người Việt hải ngoại: Mỹ nhân mở tiệc 3 ngày 3 đêm ở Mỹ; Du học sinh tốt nghiệp ở Bắc Kinh, về quê làm khu công nghiệp; Đại hội Phụ nữ vùng Kansai, Nhật Bản

Việt Nam: EU đưa ra khỏi danh sách quốc gia không hợp tác thuế; Phải khai báo trường hợp chuyển khoản sau; Top quốc gia được yêu thích nhất; Xác minh giao dịch 300 triệu

Việt Nam: Lãi suất ngân hàng 12/10; Khách sạn lọt top 3 tốt nhất Đông Nam Á; Chung cư 90 triệu đồng/m2; Chuyển trái phép 900 tỷ ra nước ngoài; Ngân hàng bán bất động sản xử lý nợ

Người Việt hải ngoại: Sắp diễn ra Hội nghị người Việt ở nước ngoài toàn thế giới lần thứ 5; Hoa hậu 2 lần đổ vỡ sang Canada cưới người yêu đơn phương 5 năm

Việt Nam: Cảnh báo sớm sai sót thuế; Cho thuê chung cư để lưu trú; Giải phóng mặt bằng các dự án lớn Hà Nội; Lừa bán phụ nữ sang Trung Quốc làm vợ; Đường dây đánh bạc, rửa tiền

Người Việt hải ngoại: Nữ chuyên gia có 200 bằng sáng chế; Nữ Tổng Quản Lý Marriott International; phát triển trạm sạc nhanh tại Mỹ; Cựu Phó Thủ tướng Đức vào HĐQT Chứng khoán HD

Lên đầu trang