- Thời sự

(Ảnh minh họa).
Thị trường gạo toàn cầu đã rung chuyển khi Ấn Độ ban hành lệnh cấm xuất khẩu gạo non-basmati hồi tháng 7. Tuy nhiên, đó có thể chỉ là điểm khởi đầu của một cuộc khủng hoảng kéo dài.
Cơm chiên là lựa chọn phổ biến của thực khách ở Lagos, thủ phủ kinh tế của Nigeria. Tuy nhiên, gần đây nhiều người đã ngừng gọi món này, theo quản lý nhà hàng Toni Aladekomo.
Tại nhà hàng này, giá của một đĩa cơm chiên đã tăng lên tới 4.000 N (5,2 USD) so với mức 1.500 N một năm trước, trở thành món ăn “không còn phù hợp với túi tiền của hầu hết mọi người”.
Ở Nigeria, cơm là thành phần phổ biến nhất trong các bữa ăn nhưng giá 1 kg gạo đã tăng 46,34% trong tháng 8 so với cùng kỳ, theo dữ liệu từ cơ quan thống kê nước này. Khi Nigeria phải vật lộn với tỷ lệ lạm phát cao nhất trong 2 thập kỷ, việc mặt hàng lương thực chủ lực tăng giá có thể bắt nguồn từ việc Ấn Độ hạn chế xuất khẩu gạo.
Cuối tháng 7 vừa qua, Ấn Độ cấm xuất khẩu gạo trắng non-basmati, sau đó áp giá sàn với gạo basmati đồng thời áp thuế 20% với gạo đồ, kéo dài đến tháng 3. “Thật khó khăn khi một quốc gia chiếm 40% thương mại toàn cầu với một nửa số hàng họ xuất khẩu và áp thuế với nửa còn lại”, Joseph Glauber – cựu kinh tế trưởng tại Bộ Nông nghiệp Mỹ nói.
Hiện tượng El Nino cũng có nguy cơ gây thiệt hại sản lượng trong năm tới do điều kiện trồng trọt gặp khó khăn. Các nhà phân tích cảnh báo nếu Ấn Độ duy trì các hạn chế hiện tại và các nhà sản xuất khác làm theo, thế giới sẽ lặp lại cuộc khủng hoảng gạo năm 2008.
Lần này, cuộc khủng hoảng có thể còn tồi tệ hơn do nhu cầu tăng vọt vì tăng trưởng dân số, cùng với đó là những tác động ngày càng khắc nghiệt hơn của biến đổi khí hậu.
Giá gạo đang tăng cao tại Ấn Độ. Giá gạo ở Thái Lan và Việt Nam, 2 nước xuất khẩu lớn thứ 2 và 3 thế giới, cũng tăng 14 và 22% kể từ khi Ấn Độ áp đặt lệnh cấm.
Tích trữ, dự trữ và hỗn loạn
Ấn Độ đã từng có động thái tương tự trước đây. Đây là nước đầu tiên đưa ra phản ứng vào năm 2007 khi giá các mặt hàng lương thực chủ yếu như lúa mì, ngô tăng mạnh do thời tiết xấu đe dọa sản lượng. Nguồn cung gạo khi đó dồi dào nhưng áp lực tăng giá lương thực khiến chính phủ hoảng sợ. New Delhi nhanh chóng áp đặt lệnh cấm xuất khẩu.
Việt Nam – khi đó là nhà cung cấp gạo lớn thứ 2 thế giới – đã áp dụng biện pháp tương tự vào tháng 1/2008. Giá gạo quốc tế đã tăng vọt, đạt mức cao kỷ lục 1.000 USD/tấn do các nước xuất khẩu nhỏ hơn như Ai Cập, Pakistan đã áp đặt các lệnh cấm tương tự.
Prederic Neumann, nhà kinh tế trưởng phụ trách khu vực châu Á tại HSBC, nhớ lại các kệ trống rỗng gạo tại các siêu thị ở Hong Kong (Trung Quốc). Ở những nơi khác, người dân thậm chí rơi vào đói khát.
Giờ đây, chính phủ Ấn Độ coi lệnh cấm như một bước cần thiết để bảo vệ an ninh lương thực trong nước trong bối cạnh lạm phát đáng lo ngại và mùa màng kém do thời tiết. Tuy nhiên, với nông dân trồng lúa Ấn Độ, lệnh cấm xuất khẩu là một đòn nặng nề.
Sandeep Kumar, 37 tuổi, nghĩ rằng mình gặp may khi bang Haryana ở phía bắc Ấn Độ tránh được lũ lụt tàn phá mùa màng. Tuy nhiên, chính phủ sau đó cấm xuất khẩu gạo non-basmati mà vợ chồng anh đã trồng. Giá giảm nhanh chóng trên thị trường mở.
Kirti Kumar Dawar, người điều hành công ty xuất khẩu gạo Jaishree Import ở Haryana, cho biết ông đã phải thu gần 20 container gạo, tổng cộng khoảng 450 tấn, đã đợi sẵn ở cảng để vận chuyển đến Trung Đông.
Ông nói doanh nghiệp sẽ không thể tồn tại lâu hơn nếu không đạt được doanh số kỳ vọng. Ashok Gulati, nhà kinh tế và cố vấn lâu năm cho chính phủ Ấn Độ cho rằng các nhà xuất khẩu phải mất nhiều năm để phát triển thị trường và điều này sẽ gây khó chịu cho các nhà nhập khẩu. “Bạn đang nhường thị trường cho các đối thủ cạnh tranh”, ông này nói.
Bên bờ khủng hoảng
Động thái của Ấn Độ khiến nhiều bên hoang mang. IMF kêu gọi New Delhi xem xét lại bước đi này trong khi Mỹ và các quốc gia khác tại WTO đã đặt câu hỏi về sự cần thiết của các biện pháp hạn chế xuất khẩu trong khi dự trữ của Ấn Độ vẫn đủ.
Một số quốc gia châu Á đã theo bước Ấn Độ. Myanmar, nước xuất khẩu gạo đứng thứ 5 thế giới, tuyên bố cấm xuất khẩu ngũ cốc trong 45 ngày kể từ cuối tháng 8. Vài ngày sau, Philippines đưa ra mức trần giá gạo nhằm nỗ lực giảm chi phí tiêu dùng đang tăng cao.
Giá gạo tăng là trở ngại đáng kể cho các ngân hàng trung ương ở châu Á trong nỗ lực kiềm chế lạm phát. Mặc dù các thành viên của ASEAN, gồm 3 trong số 5 nhà sản xuất gạo lớn nhất, đã cam kết không sử dụng các rào cản thương mại “phi lý” hồi tháng 9, Bộ trưởng Nông nghiệp Malaysia đã nói với truyền thông nước này rằng các nhà lãnh đạo ASEAN đã đồng ý ưu tiên cung cấp gạo cho các thành viên trong khu vực trước.
Husain của Tổ chức lương thực thế giới (WFP) cho biết tình hình này giống những gì xảy ra với lúa mì vào mùa xuân năm ngoái. Giá ngũ cốc đã tăng vọt sau khi xung đột Nga – Ukraine nổ ra. Ukraine cung cấp 10% lượng lúa mì xuất khẩu toàn cầu, gây ra cuộc khủng hoảng toàn diện về an ninh lương thực ở nhiều quốc gia.
Hết gạo
Cuộc khủng hoảng vừa qua tạm chấm dứt khi Nhật Bản, Thái Lan và Việt Nam cam kết thúc đẩy xuất khẩu và chi phí vận chuyển giảm. Tuy nhiên, mối lo vẫn còn đó.
Dân số thế giới dự kiến đạt gần 10 tỷ người vào năm 2050 với mức tăng trưởng lớn nhất ở châu Phi và châu Á. Các nhà nghiên cứu ước tính sự gia tăng này sẽ làm tăng nhu cầu gạo lên 1/3 nhưng sản lượng không theo kịp.
Theo một nghiên cứu gần đây trên tạp chí học thuật Nature Food, sau nhiều thập kỷ tăng trưởng nhanh chóng nhờ phát triển các giống mới, năng suất đang trì trệ ở 4 quốc gia sản xuất gạo lớn ở Đông Nam Á. Trên toàn cầu, năng suất trung bình tăng 0,9%/năm trong giai đoạn 2011-2021, giảm so với mức 1,2%/năm trong giai đoạn 2001-2011.
Nguyên nhân chính cho sự thụt lùi này vẫn là biến đổi khí hậu.
Bjoern Ole Sander, một nhà khoa học khí hậu ở Thái Lan, cho biết vì lúa mọc ở vùng có khí hậu nóng – 90% lúa gạo trên thế giới được sản xuất ở châu Á – người ta cho rằng nhiệt độ toàn cầu tăng thêm 1 vài độ không thành vấn đề. Tuy nhiên, đến mức nhiệt độ nhất định, năng suất lúa giảm và hạt gạo đặc biệt nhạy cảm với nhiệt độ ban đêm.
Một nghiên cứu năm 2017 cho thấy nhiệt độ toàn cầu tăng 1 độ C có khả năng làm giảm năng suất lúa trung bình 3,3%. Nhiệt độ đã tăng ít nhất 1,1 độ C kể từ thời tiền công nghiệp.
Theo dự báo, đến năm 2100, số ngày nhiệt độ trên 35% tại các nước xuất khẩu gạo hàng đầu châu Á sẽ tăng mạnh, trong đó Thái Lan có khả năng phải chịu thêm 188 ngày trên ngưỡng này trong trường hợp xấu nhất.
Đối với các vùng đồng bằng sản xuất lúa gạo của châu Á, từ sông Mê Kông đến sông Hằng, biến đổi khí hậu có thể gây ra những biến chứng khác. Khi nhiệt độ tăng, nước biển dâng và chảy vào các sông nước ngọt, kênh tưới tiêu và đất, làm giảm sản lượng khiến việc trồng trọt không thể thực hiện được.
Năm nay, các nhà sản xuất gạo phải đối mặt với El Nino. Kết hợp với những tác động của biến đổi khí hậu có thể dẫn đến lượng mưa ít hơn ở các vùng trồng lúa.
Trong khi Ấn Độ đang chờ đợi để đo lường tác động của thời tiết năm nay đối với sản xuất lúa gạo, Bộ Nông nghiệp Thái Lan gần đây dự báo mùa vụ của nước này sẽ thấp hơn dự kiến do lượng mưa dưới mức trung bình vào tháng 9 và 10.
Theo các chuyên gia thời tiết, El Nino có thể kéo dài sang năm tới khiến nguồn cung gạo toàn cầu bị thắt chặt hơn nhiều.
Neumann cảnh báo đây không phải vấn đề giá gạo trong ngắn hạn mà còn là vấn đề cách thế giới đối phó với kiểu thời tiết ngày càng thất thường, cộng thêm sự biến động của giá lương thực toàn cầu.
Đối với Husain của WFP, câu trả lời là giao thương nhiều hơn để phân phối thực phẩm tốt hơn trên khắp thế giới. Nhưng ông lo ngại rằng khi biến đổi khí hậu trở nên tồi tệ hơn, các chính phủ có thể sẽ đóng cửa biên giới, tránh xa thị trường toàn cầu.
Cú sốc hiện tại có thể trở thành một “cú sốc lớn” nếu điều đó xảy ra.
Khắp nơi trên thế giới, các nước đang trong cuộc đua không chỉ khai thác lithium mà còn đảm bảo nguồn cung ổn định và ưu thế công nghệ trong bối cảnh toàn cầu đang chuyển đổi năng lượng mạnh mẽ.
Tại một vùng đất được bao phủ bởi đá sa thạch ở tỉnh Salta phía tây bắc Argentina, các công nhân đang miệt mài đào đất. Mục tiêu của họ là tìm kiếm lithium cho các ông chủ người Trung Quốc, cụ thể là Công ty Ganfeng đến từ tỉnh Giang Tây.
Đối với Trung Quốc, lithium rất có giá trị, khi nước này đẩy mạnh ngành xe điện. Nhu cầu quá lớn khiến nguồn cung trong nước không đủ và doanh nghiệp của họ phải đi tìm nguồn lithium ở nước ngoài.
Từ cuộc đua khai thác...
Trong loạt bài gần đây, báo Nikkei Asia của Nhật gọi lithium là "kim cương trắng" của ngành xe điện và công nghệ năng lượng tái tạo. Cuộc cách mạng xe điện và xu hướng chuyển sang điện gió, điện mặt trời đã dẫn tới cuộc đua khai thác nhiều khoáng sản khác quan trọng cho sản xuất pin và thiết bị lưu trữ.
Trong đó, lithium nổi lên như loại khoáng sản quan trọng nhất. So với năm 2017, nhu cầu lithium vào năm 2022 đã tăng gấp ba, theo Cơ quan Năng lượng quốc tế.
Chile và Úc là hai nước có trữ lượng lớn lithium vào loại lớn nhất, chiếm gần 80%, theo Cơ quan Khảo sát địa chất Mỹ. Ở cả hai nước này đều đã có dấu chân của các công ty Trung Quốc. Trung Quốc chỉ có khoảng 8% trữ lượng lithium toàn cầu nhưng lại nắm tới 65% thị phần tinh chế lithium của thế giới.
Doanh nghiệp Ganfeng nói trên đang đi đầu tại Nam Mỹ. Công ty này gây chú ý vào năm 2009 khi xây dựng dây chuyền sản xuất lithium carbonate từ nước bơm từ hồ muối đầu tiên ở Trung Quốc.
Sau khi niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thâm Quyến vào năm 2010, Ganfeng bắt đầu tìm kiếm lithium ở nước ngoài. Vào tháng 10-2021, công ty này mua lại cổ phần trong dự án Mariana ở tỉnh Salta của Argentina từ một công ty Canada.
Theo Nikkei Asia, Ganfeng có bốn dự án phát triển lithium đang được triển khai ở Argentina. Tổng vốn đầu tư sẽ là 2,7 tỉ USD với sản lượng lithium carbonate dự kiến đạt 100.000 tấn mỗi năm.
Không chỉ Argentina, các công ty Trung Quốc còn đang đầu tư vào 10 quốc gia khác để khai thác lithium, trải dài từ châu Mỹ như Canada, Chile và Mexico đến châu Phi, Ireland, Mông Cổ và Úc. Tổng số tiền đầu tư cho các dự án này, tính đến tháng 3-2023, là khoảng 4,5 tỉ USD.
Tại Mỹ, sau khi Đạo luật giảm lạm phát được thông qua, "cơn sốt pin lithium" đã bùng nổ giống như "cơn sốt vàng" đầu thế kỷ 19. Có tám nhà máy pin đang được xây dựng từ bờ đông đến bờ tây nước Mỹ, và 14 nhà máy khác đã được lên kế hoạch với tổng trị giá đầu tư hơn 40 tỉ USD nhằm mục tiêu tăng gấp năm lần sản lượng pin của Mỹ vào năm 2026.
...Đến "cuộc chiến" đảm bảo nguồn cung
Thấy rõ tầm quan trọng của lithium, những quốc gia giàu nguồn khoáng sản này đã bắt đầu các bước đi nhằm củng cố vị thế và tăng sự phụ thuộc của thế giới vào họ. Bốn nước Nam Mỹ gồm Bolivia, Chile, Argentina và Brazil đang thảo luận về việc thành lập một cơ chế giống như Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) để kiểm soát nguồn cung lithium.
Giống như OPEC đã thiết lập quyền lực trong kỷ nguyên động cơ đốt trong, các nước trên kỳ vọng quyền lực và tiếng nói của họ sẽ tăng lên trong kỷ nguyên xe điện.
Xu hướng này không chỉ dừng ở Nam Mỹ. Mexico đã quyết định quốc hữu hóa lithium, trong khi Zimbabwe cấm hẳn việc xuất khẩu, Canada và Úc thì thận trọng với các khoản đầu tư từ Trung Quốc trong ngành đất hiếm. Với các nước có ít lithium, những động thái như vậy là rất đáng lo ngại, chúng khiến họ tin rằng chủ nghĩa bảo hộ trong ngành lithium sẽ sớm đến.
Để chuẩn bị cho viễn cảnh đó, Liên minh châu Âu (EU) đang chuẩn bị ban hành quy định về việc tái chế lithium và các khoáng sản khác dùng cho chế tạo pin của khối này. Theo đó, đến năm 2027, EU đặt mục tiêu tái chế được 50% lithium từ pin cũ và tăng lên 80% vào năm 2031. Mục đích nhằm giảm phụ thuộc vào nguồn lithium nhập khẩu từ bên ngoài.
Những bước đi của Mỹ
Mỹ cũng đã có các động thái khéo léo nhằm hướng tới mục tiêu lớn nhất là đảm bảo an ninh kinh tế, giảm lệ thuộc bên ngoài. Theo đó, các doanh nghiệp sản xuất xe điện, pin lithium sẽ nhận được các khoản ưu đãi thuế nếu sản xuất ở nước này. Chính quyền Mỹ khuyến khích người dân mua xe điện với khoản trợ cấp lên tới 7.500 USD mỗi người.
Nhưng các mẫu xe muốn vào chương trình này phải đáp ứng một loạt điều kiện nghiêm ngặt. Chẳng hạn ít nhất 40% khoáng chất quan trọng sử dụng trong pin phải được sản xuất ở các quốc gia thân thiện và ít nhất 50% linh kiện được sản xuất ở Bắc Mỹ (Mỹ, Canada và Mexico). Washington cũng loại trừ nguồn cung từ các thực thể ở một số quốc gia, bao gồm cả Trung Quốc.

(Ảnh minh họa).
Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đã chỉ ra hai nguyên nhân dẫn đến dòng di cư tăng mạnh ở các quốc gia giàu có.
Theo OECD, làn sóng di cư tới các nước giàu đã đạt mức cao nhất mọi thời đại vào năm ngoái, do các cuộc khủng hoảng nhân đạo toàn cầu và nhu cầu về lao động.
Tổ chức có trụ sở tại Paris này ước tính 6,1 triệu người di cư mới đã chuyển đến 38 quốc gia thành viên của OECD vào năm ngoái, tăng 26% so với năm 2021 và cao hơn 14% so với năm 2019, trước khi đại dịch COVID-19 gây gián đoạn hoạt động di chuyển xuyên biên giới.
OECD tiết lộ rằng các số liệu sơ bộ của năm 2023 cho thấy mức tăng còn cao hơn nữa. Điều đó chỉ ra rằng mức tăng đột biến của năm ngoái không chỉ là do đại dịch COVID-19 kết thúc.
Con số trên không bao gồm: 4,7 triệu người Ukraine phải đi sơ tán vì chiến tranh và đang sống ở các nước OECD tính đến tháng 6 năm nay; lượng người di cư tạm thời để làm việc; hay 1,9 triệu sinh viên quốc tế vừa được cấp phép.
OECD cho biết dòng người liên quan đến di cư nhân đạo và nhu cầu lao động đều có thể tiếp tục duy trì ở mức cao. Trong đó lượng người di cư vì nhu cầu lao động chiếm tỷ trọng ngày càng tăng, vì tình trạng khan hiếm lao động trên diện rộng.
Ông José Luis Escrivá, Bộ trưởng Di cư của Tây Ban Nha, phát biểu tại buổi công bố báo cáo của OECD: “Hầu hết các nước OECD đang gặp phải tình trạng thiếu lao động. Tình hình có thể trở nên tồi tệ hơn trong tương lai”.
Ông Escrivá giải thích rằng đơn giản là để ổn định dân số, dựa trên xu hướng nhân khẩu học, Liên minh châu Âu (EU) sẽ cần ít nhất 50 triệu người nước ngoài trong 25 năm tới.
Lượng người nhập cư nhân đạo đến Đức và Mỹ - hai quốc gia hàng đầu về cấp quyền tị nạn - đã tăng gần gấp đôi vào năm 2022.
Trong khi đó, người di cư lao động đã đạt mức cao nhất trong 15 năm ở nhiều quốc gia. Tỷ lệ tăng ở Đức là 59%, ở Mỹ là 39% và ở Pháp là 26%. Dòng người đổ vào New Zealand đã gấp ba lần kỷ lục trước đó nhờ chính sách một lần cho phép cư trú tạm thời đối với những người di cư tìm việc làm.
Tỷ lệ có việc làm của người nhập cư đạt mức cao kỷ lục với hơn 70% và chưa đầy 8% thất nghiệp.
Ông Stefano Scarpetta, Giám đốc phụ trách việc làm, lao động và các vấn đề xã hội của OECD, cho biết việc phần lớn người nhập cư là phụ nữ Ukraine cho thấy các chính phủ cần nỗ lực nhiều hơn nhằm giúp đỡ người phụ nữ có công ăn việc làm.
Phụ nữ thường nhập cư theo con đường đoàn tụ gia đình chứ không phải với tư cách là người lao động hay người tị nạn. Điều đó sẽ gây ra những hậu quả sâu rộng, vì những người nhập cư theo gia đình thường là điểm mù trong các chính sách di cư và hội nhập.
Ông Scarpetta nói thêm rằng khả năng tiếp cận tốt hơn chế độ nghỉ phép chăm con hoặc hỗ trợ chăm sóc trẻ em sẽ là chìa khóa để thu hẹp khoảng cách về tỷ lệ việc làm của phụ nữ nhập cư và phụ nữ bản địa. Nếu thành công, họ có thể đưa thêm 5,8 triệu phụ nữ vào lực lượng lao động.
Theo Tổ chức Di cư quốc tế, biên giới Mỹ - Mexico là một trong những tuyến đường di cư nguy hiểm nhất trên thế giới. Năm ngoái, đã có 686 người thiệt mạng và mất tích trong hành trình này. Chỉ riêng trong năm nay, có 1,7 triệu người di cư đã đến biên giới Mexico - Mỹ.
Hơn 700 người chết tại Dải Gaza do các trận không kích của Israel trong một ngày, trong khi bác sĩ cảnh báo bệnh viện có nguy cơ thành "mộ tập thể".
Quân đội Israel ngày 24/10 thông báo đã tấn công hơn 400 "mục tiêu Hamas" và hạ hàng chục chiến binh của lực lượng này.
Cơ quan y tế tại Gaza cho biết tổng cộng 704 người đã thiệt mạng trong 24 giờ. Người phát ngôn Ashraf Al-Qidra xác nhận đây là số người chết trong 24 giờ cao nhất trong hai tuần Israel ném bom Dải Gaza.
Quân đội Israel tuyên bố hạ 3 phó chỉ huy Hamas trong các cuộc tấn công.
Các nhân chứng và quan chức y tế cho biết, nhiều cuộc không kích nhằm vào các tòa nhà dân cư, trong đó có các cơ sở ở miền nam Gaza, nơi Israel đã yêu cầu dân thường trú ẩn.
Theo những người may mắn sống sót, cuộc tấn công trong đêm đã san phẳng một tòa nhà dân cư 4 tầng ở thành phố Khan Younis phía nam, khiến ít nhất 32 người thiệt mạng và hàng chục người khác bị thương.
Tại thành phố Gaza, ít nhất 19 người thiệt mạng khi một cuộc không kích tấn công vào nhà của gia đình Bahloul. Ngoài ra, hàng chục người khác vẫn bị chôn vùi. Các nhân viên cứu hộ đã kéo ít nhất hai đứa trẻ ra khỏi tòa nhà bị sập.
"Hàng nghìn gia đình đã phải di dời ngay lập tức, đống đổ nát và mảnh vụn ở khắp mọi nơi", phóng viên Youmna ElSayed của hãng tin Al Jazeera đưa tin từ Gaza.
"Bạn có thể nghe thấy âm thanh của máy bay không người lái và máy bay chiến đấu Israel trên bầu trời. Ai cũng cảm thấy rằng tại Gaza, không còn nơi nào an toàn để ở nữa", ElSayed cho biết thêm.
Israel không kích dồn dập vào Gaza sau khi cuộc tấn công vào miền nam Israel của các chiến binh Hamas cướp đi sinh mạng của ít nhất 1.400 người hôm 7/10.
Cơ quan y tế ở Gaza cho biết ít nhất 5.791 người Palestine, trong đó có 2.360 trẻ em, đã thiệt mạng trong cuộc tấn công của Israel. Khoảng 20.000 người bị thương ở cả hai bên do các cuộc giao tranh.
Ngoài việc bắn phá Dải Gaza, Israel đã cắt nguồn cung lương thực, nước uống, thuốc men và nhiên liệu trong một "cuộc bao vây toàn diện".
Người phát ngôn cơ quan tế Gaza cho biết hơn 40 trung tâm y tế đã ngừng hoạt động do tình trạng thiếu thốn và thiệt hại do các vụ đánh bom gây ra.
Một số xe tải viện trợ đã đi từ Ai Cập đến Gaza từ cuối tuần trước, nhưng Liên hợp quốc vẫn cảnh báo về một "thảm họa nhân đạo" nếu các chuyến hàng viện trợ không được tăng cường đáng kể.
Các quan chức Liên hợp quốc cho biết không có nguồn nhiên liệu nào được đưa vào Dải Gaza qua cửa khẩu Ai Cập. Phía Isreal tuyên bố nước này không cho phép chuyển nhiên liệu vào Dải Gaza vì lo ngại Hamas có thể sử dụng nhiên liệu để chế tạo rocket.
Bác sĩ Ghassan Abu-Sittah cảnh báo bệnh viện Shifa lớn nhất Gaza sẽ trở thành "ngôi mộ tập thể" nếu hết nhiên liệu.
"Câu hỏi đặt ra là bệnh viện có còn lại gì khi không có điện? Câu trả lời của tôi là không còn gì cả. Thực tế, bệnh viện Shifa sẽ trở thành một ngôi mộ tập thể nếu hết điện", bác sĩ Abu-Sittah cho biết.
Theo bác sĩ, hiện có 150 bệnh nhân dùng máy thở và các bác sĩ không thể vận hành phòng mổ và máy gây mê do thiếu nhiên liệu. Ông cho biết bệnh viện hiện tiếp nhận "khoảng 1.700 bệnh nhân bị thương, gấp 3 lần sức chứa".
Với việc cắt điện kéo dài và thường xuyên hơn, bác sĩ Abu-Sittah nói rằng bệnh viện Shifa "thực tế sẽ không còn tồn tại như một bệnh viện nữa". Ông cảnh báo, điều này cũng sẽ ảnh hưởng đến các sản phụ và trẻ sơ sinh vì hơn 15 lồng ấp sẽ "ngưng hoạt động" một khi hết điện.

(Ảnh minh họa).
Ngày 25/10, hàng trăm lính cứu hỏa đã phải vật lộn để dập tắt các đám cháy rừng ở bang Queensland, miền Đông Australia, trong bối cảnh nhiệt độ tại khu vực này tăng cao và gió mạnh khiến tình hình trở nên tồi tệ.
Theo phóng viên TTXVN tại Sydney, một trong những khu vực bị ảnh hưởng nặng nề nhất là Western Downs - nơi tập trung trồng cây ăn quả và cây nông nghiệp quan trọng, cách thủ phủ Brisbane của bang Queensland khoảng 4 giờ lái xe về phía Tây.
Ông Warren Buckley, quyền Giám đốc Sở cứu hỏa bang Queensland, cho biết trong đêm 24/10, khoảng 350 người đã phải trú ngụ trong các trung tâm sơ tán do Hội đồng khu vực điều hành. Tính đến ngày 25/10, một đám cháy ngoài tầm kiểm soát đã thiêu rụi hơn 11.000 ha đất, thiêu rụi 4 ngôi nhà và một nhà kho. Ngọn lửa chính vẫn cách thị trấn Tara khoảng 15 km, song chính quyền bang đã cảnh báo người dân ở các khu vực nông thôn lân cận rời đi. Ông Buckley cảnh báo mùa cháy rừng “sẽ kéo dài”. Trong một trận hỏa hoạn khác, một ngôi nhà và 4 nhà kho ở thị trấn Millmerran, cách thị trấn Tara gần 2 giờ lái xe về phía Đông Nam, cũng đã bị thiêu rụi cùng 3.000 ha đất.
Tại bang lân cận New South Wales, lực lượng cứu hỏa cũng đang phải vật lộn với khoảng 70 đám cháy, trong đó có một đám cháy ở phía Tây thị trấn Kempsey đã thiêu rụi gần 30.000 ha đất.
Australia đang phải đối mặt với mùa cháy rừng dữ dội nhất kể từ năm 2019-2020, khi hàng loạt đám cháy ngoài tầm kiểm soát hoành hành khắp vùng biển phía Đông, tàn phá những khu rừng, giết chết hàng triệu động vật và bao phủ các thành phố trong làn khói độc hại.
Tháng 9 vừa qua, cơ quan dự báo thời tiết quốc gia Australia xác nhận rằng hiện tượng El Nino đang diễn ra, khiến nhiệt độ tăng vọt, có nguy cơ xảy ra mùa cháy rừng nghiêm trọng và hạn hán.
Hiện tượng El Nino – khiến các vùng biển ở phía Nam Thái Bình Dương nóng hơn, dẫn đến thời tiết oi bức hơn - có khả năng góp phần làm cho năm 2023 trở thành năm nóng kỷ lục. Các nhà nghiên cứu đã nhiều lần cảnh báo rằng biến đổi khí hậu làm tăng nguy cơ xảy ra thiên tai như cháy rừng, lũ lụt và lốc xoáy.
Nguồn: Soha; Tuổi Trẻ; CafeF; Dân Trí; Báo Tin Tức
Việt Nam: Đề nghị kỷ luật Sử Ngọc Anh; Cáp treo mới 16.234 tỷ; Thiên đường nghỉ dưỡng; Cựu Phó TGĐ Ngân hàng VNCB trốn truy nã; Đấu giá biệt thự Chủ tịch AIC
Việt Nam: Ngọc nữ lọt top mỹ nhân đẹp nhất thế giới; Đường dây rửa tiền xuyên quốc gia; Quy hoạch công viên Thủ Lệ; Thánh đường 5.000 người trước ngày khánh thành
Việt Nam: EU đưa ra khỏi danh sách quốc gia không hợp tác thuế; Phải khai báo trường hợp chuyển khoản sau; Top quốc gia được yêu thích nhất; Xác minh giao dịch 300 triệu
Người Việt hải ngoại: Thu nhập Vương Phạm ở Mỹ; Kỹ sư đến Google DeepMind; Quán café tại Pháp; 9X lọt Forbes 30 Under 30 Asia; Giáo sư tại Nhật vào nhóm nhà khoa học xuất sắc nhất
Người Việt hải ngoại: Nữ chuyên gia có 200 bằng sáng chế; Nữ Tổng Quản Lý Marriott International; phát triển trạm sạc nhanh tại Mỹ; Cựu Phó Thủ tướng Đức vào HĐQT Chứng khoán HD
Người Việt hải ngoại: Sắp diễn ra Hội nghị người Việt ở nước ngoài toàn thế giới lần thứ 5; Hoa hậu 2 lần đổ vỡ sang Canada cưới người yêu đơn phương 5 năm
Người Việt hải ngoại: Nghiên cứu sinh giành học bổng Apple; Làm TGĐ từ năm 27 tuổi; Chủ tịch Hạ viện Czech ghi nhận đóng góp của cộng đồng; 2 người bị bắt ở Indonesia
Việt Nam: Cảnh báo sớm sai sót thuế; Cho thuê chung cư để lưu trú; Giải phóng mặt bằng các dự án lớn Hà Nội; Lừa bán phụ nữ sang Trung Quốc làm vợ; Đường dây đánh bạc, rửa tiền
Bình luận và đánh giá
Gửi nhận xét đánh giá