- Thời sự

(Ảnh minh họa).
Theo dự báo của UNCTAD, kinh tế thế giới tăng trưởng 2,4% trong năm 2023, giảm so với mức 3% của năm 2022 và ít có dấu hiệu phục hồi.
Theo báo cáo Thương mại và Phát triển 2023, Hội nghị Liên hợp quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD) nhận định, kinh tế thế giới trì trệ và tăng trưởng bắt đầu chậm lại ở hầu hết các khu vực từ năm 2022 và chỉ có một số ít các quốc gia có thể đi ngược xu hướng này. Theo báo cáo này, kinh tế thế giới đang có các hướng tăng trưởng khác nhau, bất bình đẳng gia tăng, thị trường ngày càng thu hẹp.
Bà Rebeca Grynspan - Tổng thư ký Hội nghị Liên hợp quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD): "Nền kinh tế toàn cầu đang chậm lại bất chấp những tin tốt như hạ cánh mềm của kinh tế Mỹ trong năm nay. Thứ hai, nợ là một vấn đề và rất nhiều nước đang phát triển đang rơi vào khủng hoảng nợ. Thứ ba là đầu tư yếu trong tín dụng. Thứ tư, điều chúng tôi lo lắng là thiếu cạnh tranh và khả năng tài chính của thương mại ở các thị trường quan trọng".
Theo báo cáo, quá trình phục hồi sau đại dịch COVID-19 có sự khác biệt giữa các nền kinh tế. Trong bối cảnh tăng trưởng chậm lại và thiếu phối hợp chính sách, sự khác biệt này làm gia tăng quan ngại về con đường tiến về phía trước của nền kinh tế thế giới.
"Về Trung Quốc, chúng tôi đã hạ dự báo tăng trưởng từ 5% xuống 4,8% do nhu cầu nội địa yếu hơn, đó là một sự chậm lại nhưng không quá bi quan. Chúng tôi nghĩ rằng tốc độ tăng trưởng ở Trung Quốc đang chậm lại, nhưng không phải là một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng", bà Rebeca Grynspan nhấn mạnh.
Báo cáo kêu gọi, cần có các cải cách cấu trúc tài chính toàn cầu, các chính sách thực tế hơn để kiềm chế lạm phát, giải quyết tình trạng bất bình đẳng và nợ công cũng như các biện pháp tăng cường giám sát các thị trường quan trọng. Cơ quan về phát triển và thương mại của Liên hợp quốc cũng hối thúc đảm bảo các thị trường minh bạch và được quản lý tốt để hệ thống thương mại toàn cầu công bằng hơn.
Khủng hoảng nợ phủ bóng tăng trưởng kinh tế
Theo báo cáo của Liên hợp quốc thì một trong các thách thức tác động đến triển vọng kinh tế toàn cầu đó là tình trạng nợ đang gia tăng tại nhiều quốc gia, phủ bóng triển vọng tăng trưởng.
Theo Viện tài chính quốc tế, nợ toàn cầu đã đạt mức kỷ lục là 307 nghìn tỷ USD vào năm 2023. Lạm phát tăng cao đã đẩy nợ toàn cầu lên mức cao mới. Điều này cũng làm gia tăng các lo ngại về việc kinh tế toàn cầu sẽ suy yếu trong năm nay.
Bà Kristalina Georgieva - Tổng giám đốc Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF): "Không gian tài chính và dự trữ bị thu hẹp, nợ đã tăng lên và việc trả nợ trở nên khó khăn hơn do điều kiện tài chính thắt chặt hơn. Hỗ trợ quốc tế đã không còn đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng".
Ngân hàng thế giới cho biết, các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển là những quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi các cuộc khủng hoảng nợ. Những quốc gia đang chịu các áp lực về nợ lớn có thể kể đến là Lebanon, Pakistan, Sri Lanka, Ai Cập, Ethiopia, Ghana, Kenya, Zambia… những nước vốn đang phải hứng chịu nhiều tác động đa chiều từ khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng khí hậu.
Quỹ Tiền tệ quốc tế thì ước tính, để đáp ứng các khoản thanh toán nợ, ít nhất 100 quốc gia sẽ phải giảm chi tiêu cho y tế, giáo dục và bảo trợ xã hội.
Tổng Thư ký Liên hợp quốc Antonio Guterres: "Các nước đang phát triển phải đối mặt với chi phí đi vay cao gấp 8 lần so với các nước phát triển - một cái bẫy nợ. Và cứ ba quốc gia trên thế giới thì có một quốc gia có nguy cơ cao xảy ra khủng hoảng tài chính. Hơn 40% số người sống trong tình trạng nghèo cùng cực ở các quốc gia có thách thức nợ nần nghiêm trọng".
Ông Dennis Francis - Chủ tịch Đại hội đồng Liên hợp quốc: "Khoảng 3,3 tỷ người, một nửa nhân loại sống ở các quốc gia chi tiêu nhiều hơn cho việc trả nợ hơn là cho y tế, giáo dục hoặc bảo trợ xã hội".
Các chuyên gia cảnh báo, nếu các quốc gia vỡ nợ, điều đó có thể gây ra sự hoảng loạn cho thị trường tài chính và suy thoái kinh tế.
Liên hợp quốc nhận định, các nỗ lực hiện tại nhằm giải quyết khủng hoảng nợ là chưa đủ do quy mô và tính cấp bách của tình hình. Chính vì thế mà việc hỗ trợ các nước vượt qua khủng hoảng nợ được xem là ưu tiên thảo luận tại cuộc họp thường niên do Ngân hàng Thế giới (WB) và Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) tổ chức tại thành phố Marrakech, Marocco vào tuần tới.
Nhóm G7 gồm các quốc gia công nghiệp hóa dự kiến sẽ cấm kim cương khai thác ở Nga, nhà sản xuất kim cương lớn nhất thế giới, sau cuộc xâm lược toàn diện của Moscow vào Ukraine năm ngoái.
Tuy nhiên, sự phức tạp của thương mại đồng nghĩa với việc sẽ khó ngăn chặn kim cương Nga xâm nhập thị trường toàn cầu, vốn trị giá 87 tỷ đô la mỗi năm.
Nhà sản xuất lớn nhất thế giới
Khoảng một phần ba số kim cương trên thế giới được khai thác ở Nga bởi công ty nhà nước Alrosa, công ty vận hành các mỏ ở Yakutia, Siberia và Arkhangelsk, ở cực bắc của đất nước. Ngành thương mại này mang lại lợi nhuận cho Điện Kremlin hơn 1 tỷ đô la mỗi năm.
Các nước phương Tây quyết tâm tước đoạt nguồn thu đó của Nga. Tại hội nghị thượng đỉnh G7 tháng 5, các thành viên đã thảo luận về việc áp đặt lệnh cấm kim cương của Nga. Nhưng việc thực thi nó sẽ không dễ dàng.
Trung tâm Ấn Độ
Hầu như tất cả kim cương trên thế giới đều được cắt và đánh bóng tại thành phố Surat của Ấn Độ. Edahn Golan, một phân tích gia trong ngành kim cương, giải thích: Lỗ hổng trong các quy định của Hoa Kỳ có nghĩa là kim cương Nga được tự do thâm nhập vào thị trường Mỹ - thị trường chiếm 55% doanh số toàn cầu.
Ông nói với đài VOA: “Ấn Độ chiếm khoảng 95% việc sản xuất và đánh bóng kim cương toàn cầu”. “Theo quy định của Hoa Kỳ, một sản phẩm đã trải qua sự chuyển đổi lớn tại một quốc gia cụ thể nào thì được coi là sản phẩm của quốc gia đó.
Ông Golan nói thêm: “Trong trường hợp kim cương thô của Nga [được] đánh bóng ở Ấn Độ: Theo quan điểm của các quy định của Mỹ, đó là những viên kim cương của Ấn Độ”. “Và vì thế, kim cương này không còn là của Nga nữa”.
Truy xuất nguồn gốc
Tiến trình Kimberley, được ban hành vào năm 2000, đã đưa ra khả năng truy xuất nguồn gốc đối với những viên kim cương chưa cắt để ngăn chặn lợi nhuận thúc đẩy xung đột - cái gọi là “kim cương máu”. Tuy nhiên, tiến trình này không áp dụng cho những viên kim cương đã cắt, đánh bóng - và hệ thống này còn nhiều thiếu sót, ông Golan nói.
“Câu hỏi đặt ra là, Tiến trình Kimberly giải quyết một lô hàng chứa kim cương thô từ nhiều nguồn gốc như thế nào? Câu trả lời là cụm từ ‘hỗn hợp’,” ông nói. “Vì vậy, bây giờ, nếu bạn có một bưu kiện hoàn toàn là kim cương của Nga - nhưng một viên kim cương trong đó đến từ một quốc gia khác - thì đó là bưu kiện ‘hỗn hợp’.”
Phản đối
Không phải ai cũng ủng hộ lệnh cấm được đề nghị. Một phái đoàn G7 đã tới Ấn Độ vào tuần trước để tìm kiếm sự hợp tác nhằm loại trừ Nga khỏi hoạt động buôn bán kim cương. Nhưng New Delhi tỏ ra hoài nghi, ông Golan nói.
Ông Golan cho biết: “Trước hết, nếu không có sản phẩm của [công ty Nga] Alrosa, họ sẽ mất 1/3 sản lượng toàn cầu sắp tới”. “Thứ hai, Ấn Độ nói chung không muốn tham gia các lệnh trừng phạt đối với Nga, bởi nền chính trị toàn cầu của họ khác với chính trị toàn cầu của Mỹ và châu Âu”.
Ông Golan nói: “Điều này đặc biệt nhạy cảm với giới lãnh đạo Ấn Độ, với [Thủ tướng Narendra] Modi, bởi vì phần lớn các nhà sản xuất và kinh doanh kim cương Ấn Độ là người Gujarati và ông Modi là người Gujarati, vì vậy đó là một nền kinh tế quan trọng đối với khu vực bầu cử của ông”.
‘Kim cương Nga không phải là mãi mãi’
Liên hiệp châu Âu đã vạch ra kế hoạch vào tháng 5 để cấm nhập khẩu kim cương của Nga. Họ hy vọng sẽ loại Alrosa khỏi thị trường bắt đầu từ năm 2024, với quy trình truy xuất nguồn gốc và thực thi được triển khai trong những tháng tiếp theo.
“Chúng tôi sẽ hạn chế buôn bán kim cương của Nga. Kim cương Nga không phải là mãi mãi”, ông Charles Michel, chủ tịch Hội đồng châu Âu, cho biết trong cuộc họp báo hồi tháng 5 năm nay, sau hội nghị thượng đỉnh G7 ở Hiroshima.
Theo kế hoạch của EU, kim cương có thể được cấp giấy chứng nhận xuất xứ và sẽ được kiểm tra tại các trung tâm thương mại như Antwerp ở Bỉ. Nhưng hệ thống này có thể phản tác dụng, theo Giáo sư Koen Vandenbempt, nhà kinh tế học tại Đại học Antwerp.
“Có lẽ họ sẽ không đi qua Antwerp nữa. Hoạt động thương mại lớn này sẽ di chuyển đến Dubai và từ Dubai đến Ấn Độ hoặc trực tiếp tới Ấn Độ - điển hình là những quốc gia sẽ không và có thể sẽ không bao giờ áp dụng các biện pháp trừng phạt đối với Nga”, ông nói với AFP.
Thợ mỏ châu Phi
Các công ty khác trong ngành đang thúc đẩy một hệ thống chứng nhận dựa trên sự tin cậy, ít công nghệ hơn - một đề xuất được hỗ trợ bởi tập đoàn kim cương De Beers của Anh và Nam Phi.
Ông Golan nói: “Rất dễ dàng để đưa những người khai thác thủ công vào hệ thống đó, ở những nơi như phía đông bắc [Cộng hòa Dân chủ Congo]”. “Những người đó không có khả năng sử dụng các phương tiện công nghệ phức tạp, nhưng họ có iPad và điện thoại di động.”
Thông tin chi tiết về các đề nghị của G7 dự kiến sẽ được công bố trong những tuần tới. Ông Golan cho biết đây là cơ hội để cải thiện hình ảnh của ngành công nghiệp kim cương.
Ông Golan nói thêm: “Tôi nghĩ rằng có thể đưa ra một giải pháp tốt phù hợp cho cả mục đích chính trị của Hoa Kỳ và Châu Âu”. “Tôi nghĩ có một cách có thể phục vụ rất tích cực cho ngành công nghiệp kim cương, cần sự tham vấn của cả hai bên.
“Cảm nhận về ngành công nghiệp kim cương rất tiêu cực trong mắt người tiêu dùng. Và đó là một cách tuyệt vời để chứng minh rằng ngành công nghiệp kim cương hoạt động hiệu quả,” ông nói với VOA.

(Ảnh minh họa).
Chính phủ Nga hôm 6/10 thông báo bỏ lệnh cấm xuất khẩu dầu diesel qua đường ống, sau vài tuần áp dụng chính sách này.
Diesel là sản phẩm từ dầu được Nga xuất khẩu nhiều nhất, khoảng 35 triệu tấn năm ngoái. Trong đó, gần 75% là qua đường ống.
"Chính phủ gỡ bỏ lệnh cấm xuất khẩu dầu diesel qua đường ống, miễn là các công ty cung cấp ít nhất 50% lượng dầu diesel sản xuất ra cho thị trường nội địa", chính phủ Nga cho biết trong thông báo hôm nay.
Lệnh cấm xuất khẩu xăng vẫn được giữ nguyên. Nga năm ngoái xuất khẩu 4,8 triệu tấn xăng.
Hôm 21/9, Chính phủ Nga ban hành lệnh cấm tạm thời việc bán xăng và dầu diesel sang tất cả các nước, trừ 4 quốc gia thuộc Liên minh Kinh tế Á-Âu gồm Belarus, Kazakhstan, Armenia and Kyrgyzstan. Lệnh cấm này có hiệu lực ngay lập tức, nhằm bình ổn thị trường trong nước.
Vài tháng gần đây, Nga đối mặt với tình trạng nhiên liệu thiếu và giá cao. Tình hình này tác động mạnh đến các nông dân trong mùa thu hoạch.
Nga hiện là nước xuất khẩu dầu diesel hàng đầu thế giới. Sau khi Liên minh châu Âu (EU) cấm nhập các sản phẩm từ dầu của Nga, nước này chuyển hướng xuất khẩu sang Brazil, Thổ Nhĩ Kỳ, Vùng Vịnh và một số nước ở Bắc và Tây Phi. Lệnh cấm của họ đã kéo giá toàn cầu lên, buộc một số người mua tìm các nguồn cung xăng và dầu diesel thay thế.
Dù vậy, từ khi lệnh cấm xuất khẩu được áp dụng, giá bán buôn dầu diesel tại Nga giảm 21%. Giá xăng cũng giảm 10%.
Điều này không đồng nghĩa giá bán lẻ giảm tương tự. Tuy nhiên, Phó thủ tướng Nga Alexander Novak cho biết lệnh cấm đã bắt đầu có tác động tích cực. Cơ quan Chống độc quyền Liên bang Nga (FAS) cho biết họ đã gửi hướng dẫn đến các hãng dầu để đề nghị giảm giá các sản phẩm từ dầu.
Chuyên gia nhận định, chiến sự Nga - Ukraine khiến khối NATO - liên minh quân sự hàng đầu thế giới - dường như nhận ra rằng họ vẫn chưa chuẩn bị đầy đủ cho một cuộc xung đột quy mô lớn.
Kể từ sau Chiến tranh Lạnh và sự sụp đổ của Liên Xô, khối NATO đã đóng vai trò trong các cuộc xung đột trên thế giới, nhưng điểm chung có thể nhận ra rằng đây là những cuộc đối đầu quy mô không quá lớn, với những lực lượng có tiềm lực quân sự yếu hơn hẳn.
Khi xung đột Nga - Ukraine bùng phát vào tháng 2 năm ngoái, lần đầu tiên trong vài chục năm qua, NATO gián tiếp đối đầu với một đối thủ mạnh, cường quốc quân sự thứ 2 thế giới.
Theo Asia Times, mỗi cuộc chiến đều sẽ trở thành nơi thử nghiệm công nghệ, chiến thuật và chiến lược. Cuộc xung đột tại Ukraine không phải là ngoại lệ khi nó báo hiệu hàng loạt những xu hướng mới trong tác chiến hiện đại.
Tuy nhiên, giới quan sát nhận định, cuộc xung đột tại Ukraine cũng khiến NATO rút ra những bài học và mang tới tín hiệu cho thấy liên minh quân sự này chưa có sự chuẩn bị cho cuộc chiến tương lai với một đối thủ mạnh ngang tầm.
Nỗ lực của NATO
NATO đã cam kết cung cấp các gói viện trợ quân sự trị giá hàng trăm tỷ USD tới Ukraine và dự kiến còn tăng thêm trong thời gian tới. Điều này đã giúp Ukraine đạt được những thành tựu trên chiến trường từ mùa thu năm ngoái tới nay.
Ngày 19/9, Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Mỹ, tướng Mark Milley, cho biết: "Cho đến nay, Ukraine đã giành lại hơn 54% lãnh thổ Ukraine do Nga kiểm soát và họ tiếp tục giữ thế chủ động chiến lược".
Có thể nói, nhờ sự hỗ trợ của NATO, Ukraine đã duy trì được đà phòng thủ trước Nga trong giai đoạn đầu của cuộc chiến và giờ đây họ đã mở chiến dịch phản công quy mô lớn, dù đà tiến của Kiev vẫn còn tương đối hạn chế. Nếu thiếu sự ủng hộ của NATO, Ukraine có thể khó duy trì được cục diện chiến sự tới lúc này.
Một điểm sáng khác trong nỗ lực của NATO là họ cung cấp cho Ukraine thông tin tình báo quan trọng để Kiev tấn công mục tiêu Nga. NATO sử dụng máy bay không người lái và phi cơ trinh sát hoạt động trên không phận quốc tế của Biển Đen, thu thập hình ảnh, tin tức về vũ khí, cơ sở hạ tầng của Nga.
Ví dụ có thể kể tới là vụ Ukraine tấn công Hạm đội Biển Đen của Nga ở Crimea bằng các tên lửa hành trình tầm xa Storm Shadow và Scalp vào trưa ngày 22/9.
Sputnik dẫn lời ông Larry Johnson, cựu sĩ quan tình báo CIA (Mỹ), nhận định rằng Không quân Ukraine không thể thực hiện vụ tập kích nếu không có các dữ liệu trinh sát và nhắm mục tiêu từ các đối tác phương Tây.
"Rõ ràng có sự hỗ trợ của NATO về dữ liệu tình báo và nhắm mục tiêu", ông Johnson nói.
Theo dữ liệu FlightRadar24, một máy bay trinh sát P-8A Poseidon của Mỹ bị phát hiện hoạt động gần Crimea trước và trong thời điểm diễn ra vụ tấn công.
Ngoài ra, các hệ thống vệ tinh quân sự và thương mại của phương Tây cũng đóng vai trò quan trọng không kém, giúp Ukraine nắm được đường di chuyển quân đội và khí tài Nga, góp phần hóa giải các chiến lược của Moscow.
Ngoài ra, cuộc xung đột Nga - Ukraine đã khiến cục diện châu Âu bước sang một trang mới chưa từng có kể từ sau Chiến tranh Lạnh và khiến họ phải đánh giá lại các ưu tiên an ninh.
Hiện thời, trong nội bộ EU và NATO đang diễn ra các cuộc tranh luận về việc làm thế nào để củng cố cấu trúc phòng thủ ở châu Âu cũng như an ninh chung của khối và buộc họ phải có những điều chỉnh chiến lược.
Một dấu hiệu cụ thể nhất là các nước NATO tăng chi tiêu quốc phòng trong nước để gia tăng khả năng phòng thủ. Ví dụ, Ba Lan vừa quyết định mua hệ thống phòng không Patriot mới trị giá 15 tỷ USD và gói trực thăng tấn công Apache trị giá 12 tỷ USD từ nhà thầu quốc phòng Mỹ Boeing.
Đức đang mua hệ thống phòng không Arrow của Israel với giá 3,5 tỷ USD. Ba Lan sẽ chi 4% GDP cho lĩnh vực quốc phòng, vượt xa các quốc gia NATO khác ngoài Mỹ. Trên thực tế, chỉ có 8 trong số 30 quốc gia đáp ứng mục tiêu chi tiêu 2% GDP của NATO.
Đức, sau nhiều năm từ chối tăng chi tiêu quân sự bất chấp áp lực lớn từ Mỹ, đã cam kết chi 2% GDP cho ngân sách quốc phòng như mục tiêu của NATO.
NATO đồng thời hình thành "Khái niệm chiến lược an ninh mới", kết nạp thêm Phần Lan - quốc gia nhiều năm theo đuổi lập trường trung lập, cũng như đang trên đà nhận Thụy Điển làm thành viên mới của Liên minh.
Phương Tây cũng đã thống nhất áp đặt nhiều biện pháp trừng phạt chưa từng có tiền lệ nhằm vào Moscow, biến Nga thành quốc gia bị trừng phạt nhiều nhất thế giới.
Một trong những nỗ lực mạnh mẽ nhất của khối phương Tây là nỗ lực "cai" năng lượng Nga bất chấp áp lực về suy thoái kinh tế và lạm phát phi mã. Tất cả các động thái ở cả trên tiền tuyến và sau hậu trường đã gây không ít khó khăn lên Nga.
Giới chức Nga nhiều lần cáo buộc phương Tây đang tham gia vào cuộc chiến ủy nhiệm chống lại Moscow ở Ukraine.
Phương Tây "thức tỉnh"?
Theo chuyên gia Stephen Bryen tại Trung tâm Chính sách An ninh và Viện Yorktown (Mỹ), cuộc chiến Nga - Ukraine cũng cho thấy, NATO dường như chưa có sự chuẩn bị cho một cuộc chiến lớn, nhất là trước một đối thủ mạnh như Moscow.
Một ví dụ cụ thể nhất chính là năng lực sản xuất quốc phòng. Khối phương Tây đã dồn hàng loạt vũ khí, khí tài trong kho tới Ukraine trong hơn 19 tháng qua và nhiều quốc gia đã đối mặt với tình trạng cạn kiệt đạn dược.
Tuy nhiên, năng lực sản xuất bù đắp của phương Tây còn là một dấu hỏi lớn. Các ngành công nghiệp của họ không ở trong giai đoạn thời chiến trong hàng chục năm và việc tăng tốc sản xuất vũ khí cho Ukraine hay để bảo vệ an ninh quốc gia của các nước này cũng như của khối là một dấu hỏi lớn.
New York Times dẫn nguồn thạo tin cho biết, hoạt động sản xuất tên lửa và đạn dược của Nga đang gia tăng mạnh mẽ ngay cả khi đối mặt với các lệnh trừng phạt của phương Tây.
Các nguồn tin cho hay, sản xuất quân sự của Nga thậm chí còn vượt xa mức trước khi chiến sự với Ukraine bùng phát. Chi phí sản xuất ở Nga cũng thấp hơn nhiều so với phương Tây.
Giới chức phương Tây dường như lo ngại về việc Nga gia tăng sản xuất đạn pháo sẽ khiến nỗ lực phản công của Ukraine trở nên thách thức hơn nữa. Ukraine hiện phụ thuộc phần lớn vào đạn dược do phương Tây viện trợ khi kho vũ khí từ thời Liên Xô đang cạn dần.
Một quan chức quốc phòng cấp cao của Estonia - một thành viên NATO - nói với New York Times rằng, Nga dường như đang sản xuất nhiều đạn dược hơn Mỹ và châu Âu. Sản lượng hiện tại của Nga ước tính có thể gấp 7 lần so với phương Tây.
Nga đang huy động các nguồn lực để đáp ứng đơn hàng từ tiền tuyến. Trong khi đó, liên minh NATO đang đối mặt với bài toán tăng tốc sản xuất và điều này khó để thực hiện trong một thời gian ngắn mà yêu cầu những động thái có tính chất tổng lực.
Ví dụ, việc phục hồi chuỗi cung ứng, tìm kiếm nhân sự và kỹ sư có năng lực, tìm kiếm nguyên vật liệu số lượng lớn để tăng tốc sản xuất vũ khí là bài toán rất khó.
Trước khi xung đột bùng phát, một quan chức quốc phòng cấp cao của phương Tây nói với New York Times rằng Nga có thể sản xuất 100 xe tăng mỗi năm; bây giờ Moscow có thể làm ra trung bình 200 chiếc.
Các quan chức phương Tây nhận định Nga đang trên đà sản xuất 2 triệu quả đạn pháo mỗi năm, gấp đôi so với ước tính ban đầu của tình báo phương Tây trước khi chiến sự bùng phát.
Ngoài số lượng, Nga cũng đang tăng cường chất lượng vũ khí với việc thích nghi nhanh chóng với tình hình chiến trường.
Ví dụ, theo Forbes, không lâu trước đây, lực lượng vũ trang Ukraine đã có được lợi thế về năng lực UAV trước Nga. Ukraine sở hữu nhiều UAV và chúng hoạt động tương đối hiệu quả hơn Nga.
Tuy nhiên, mọi thứ đã thay đổi. "Chúng tôi bắt đầu bị tụt lại phía sau một cách nghiêm trọng", một binh sĩ điều khiển UAV của Ukraine thừa nhận với hãng tin UNIAN.
Nga đã phát triển và kết nối các UAV Orlan cho phép chúng không chỉ quan sát mà còn có khả năng gây nhiễu mục tiêu. Nga tăng cường năng lực tác chiến điện tử (EW) nhằm vô hiệu nhiều vũ khí của Ukraine và phương Tây.
Hồi những năm 2019, Mỹ từng thừa nhận rằng Nga có năng lực tác chiến điện tử đáng gờm ở Syria. Giờ đây, Nga đã liên tục tăng cường khả năng trong mảng này, khiến phương Tây rơi vào tình thế báo động.
Theo Business Insider, sau nhiều năm chưa quan tâm đúng mức tới EW, Mỹ đang gấp rút nâng cấp năng lực EW để bắt kịp xu hướng tác chiến tương lai.
Eurasian Times nhận định, trong khoảng thời gian 20 năm từ 1990 đến 2020, Mỹ đã đối phó với những đối thủ không ngang hàng về mặt kỹ thuật, vì vậy họ ưu tiên phát triển những lĩnh vực khác và tạm gác EW sang một bên.
Tuy nhiên, trong thời điểm đó, Nga và Trung Quốc đã dồn lực phát triển năng lực EW. Tại Ukraine, với EW, Nga đã góp phần lớn khiến Kiev mất khoảng 10.000 UAV mỗi tháng.
Lục quân Mỹ đang "tái đầu tư cơ bản vào việc xây dựng lại khả năng tác chiến điện tử chiến thuật của chúng tôi sau khi đã bỏ qua vũ khí này trong 20 năm qua", Douglas Bush, trợ lý Bộ trưởng Lục quân Mỹ phụ trách mua sắm, hậu cần và công nghệ, cho biết.
Theo ông Bush, lục quân đã có một số chương trình EW đang được tiến hành, "nhưng chắc chắn những gì chúng ta đang thấy ở Ukraine đang làm tăng thêm tính cấp bách để thực hiện những chương trình đó".
Ngoài ra, Nga cũng đang học cách thích nghi với vũ khí thông minh của phương Tây. Ví dụ, Nga nhiều lần tuyên bố đã đánh chặn thành công rocket từ hệ thống hỏa lực phóng loạt HIMARS - vốn gây nhiều thiệt hại cho Moscow trong giai đoạn trước đó.
Nga cũng thành công gây nhiễu bom thông minh mà Mỹ cấp cho Ukraine, ngăn vũ khí này làm thay đổi cuộc chơi trên tiền tuyến. Điều này sẽ buộc phương Tây phải thay đổi và cải tiến vũ khí nhanh hơn nữa để họ không mất đi ưu thế trong tương lai.
Theo ông Bryen, NATO cũng đang đối mặt với một vấn đề khác khi tác chiến hiện đại đã có những sự thay đổi nhanh chóng trong thời gian qua. Khối liên minh rộng lớn đang thiếu khả năng đối phó với các UAV dạng bầy đàn, hay các tên lửa tầm trung và tầm xa.
Giới chuyên gia nhận định, một phần nguyên nhân là do họ chi tiêu quân sự chưa hoàn toàn đúng hướng trong nhiều năm khi tập trung vào các mối đe dọa hạt nhân chiến lược mà bỏ qua phát triển hệ thống phòng không và EW. Giờ đây, mối đe dọa UAV sẽ khiến NATO đối mặt thách thức mới để bảo vệ an ninh cho cả liên minh.
Khi vũ khí ngày càng trở nên tự động hơn, mối đe dọa từ các cuộc tấn công hỗn hợp sẽ tăng lên gấp bội. Trong tương lai, trí tuệ nhân tạo (AI) có thể sẽ bị "vũ khí hóa" và đây cũng là thách thức với NATO và phương Tây.
Ngoài ra, chiến sự Nga - Ukraine cũng bộc lộ những vấn đề của NATO với xe tăng - vũ khí chủ lực của bộ binh trong nỗ lực giành lãnh thổ. Tại Ukraine, hình ảnh những chiếc xe tăng Leopard nổi tiếng do Đức sản xuất nằm la liệt trên các bãi mìn.
Nga cũng là nước đầu tiên phá hủy xe tăng Challenger của Anh sau 30 năm mẫu thiết giáp này vào biên chế. Điều này cho thấy NATO dường như chưa có nhiều sự cải tiến vũ khí trong hàng chục năm qua.
Ví dụ, xe tăng Leopard được trang bị nhiều hệ thống vũ khí hiệu quả nhưng lại thiếu năng lực phòng thủ. Ukraine vì lo xe tăng này tiếp tục bị bắn hạ trên chiến trường nên đã gắn giáp phản ứng nổ thu được từ thiết giáp Nga lên trên. Ukraine cũng đặt các lồng thép lên xe tăng để ngăn vũ khí tấn công "đột nóc".
Giờ đây, các xe tăng Abrams phiên bản cũ mà Mỹ sản xuất cũng đang được đưa tới Ukraine. Các xe này cũng có đặc tính tương tự như Leopards là không có bảo vệ phía trước, bên sườn và bên trên và cũng trở nên dễ tổn thương trước bãi mìn và pháo binh hạng nặng.
Theo Asia Times, một phần vấn đề của NATO rằng họ tin Nga sẽ khó thích nghi với hình thức chiến đấu mới. Tuy nhiên, Nga không chỉ thích nghi mà còn đang đưa vũ khí mới ra tiền tuyến.
Ví dụ, Nga đã triển khai mìn phóng từ trên không, khiến Ukraine khó khăn trong việc dọn đường cho quân đội. Nga cũng dùng bom lượn chính xác tấn công dồn dập khiến binh sĩ Ukraine bị "ám ảnh" trên tiền tuyến.
Nga đồng thời phóng tên lửa siêu vượt âm vào các mục tiêu quân sự của Ukraine, loại vũ khí mà Mỹ vẫn đang trong quá trình thử nghiệm.
Một trong những điểm đáng lưu ý nhất là Nga đã phát triển thành công UAV tự sát Lancet với khả năng tấn công mục tiêu đang di chuyển, thậm chí phá hủy được hệ thống phòng không đối phương.
Theo giới quan sát, tới nay NATO vẫn chưa có câu trả lời cho loại UAV hiệu quả này, trong bối cảnh Nga đang mở rộng tầm tấn công của dòng vũ khí tự sát lên tới 200km (so với khoảng 40km ở mức hiện tại).
Theo Asia Times, câu hỏi đặt ra là, nếu chiến sự Nga - Ukraine còn kéo dài, liệu NATO sẽ mất bao lâu để vừa đáp ứng được nhu cầu vũ khí của Kiev, vừa bù đắp lại được đạn dược đã "đốt" trên chiến trường, đồng thời tiếp tục phát triển vũ khí mới, hiện đại để bắt kịp và vượt đối thủ?

(Ảnh minh họa).
Sau vụ ám sát thủ lĩnh người Sikh ở Canada, căng thẳng đã gia tăng giữa Ấn Độ và Canada. Trong diễn biến mới nhất, Ấn Độ đã yêu cầu Canada phải rút 41 nhà ngoại giao khỏi nước này trước ngày 10/10 tới.
Căng thẳng giữa Canada và Ấn Độ những ngày qua không những không giảm nhiệt mà tiếp tục leo thang liên quan đến vụ ám sát thủ lĩnh phong trào vũ trang Khalistan của người Sikh tại Canada, mà Ottawa cáo buộc có liên quan đến phía New Delhi.
Với các quan điểm khác biệt, hai bên dường như chưa thể có được giải pháp nào để khơi thông bế tắc, khiến một số hợp tác song phương quan trọng đang bị chệch hướng. Liệu có hướng đi nào hiệu quả cho căng thẳng ngoại giao Canada - Ấn Độ vẫn đang dai dẳng hiện nay?
Khác biệt trong nhìn nhận
Căng thẳng ngoại giao giữa Ấn Độ và Canada nổ ra cách đây hai tuần vẫn đang trên đà leo thang với quyết định mới nhất của Ấn Độ, yêu cầu Canada phải cắt giảm số lượng nhân viên ngoại giao của nước này ở New Delhi về với số lượng tương xứng. Cả hai vẫn đang giằng co với những đòn trả đũa qua lại và chưa bên nào tỏ rõ dấu hiệu nhượng bộ, hay thay đổi cách tiếp cận của mình. Cần nhìn nhận rằng đây là một vụ việc nghiêm trọng theo quan điểm và lợi ích của cả Ấn Độ và Canada, và đây chính là nguyên nhân khiến hai bên chưa xuống thang.
Trước hết, với Canada, nước này vẫn cho rằng việc các đặc vụ Ấn Độ có dính líu tới vụ sát hại Hardeep Singh Nijjar – 1 công dân Canada ngay trên đất Canada là vi phạm an ninh và chủ quyền của nước này. Nếu không có biện pháp đáp trả tương xứng, dư luận trong nước sẽ không dễ dàng bỏ qua cho chính quyền của Thủ tướng Justin Trudeau. Điều này càng gây áp lực, đẩy Canada tới chỗ ‘không có đường lùi’ trong cuộc giằng co với Ấn Độ.
Về phía Ấn Độ, dù mức độ liên quan tới cáo buộc của Canada vẫn chưa được chứng minh, nước này vẫn có cái lý riêng khi đáp trả Canada. New Delhi luôn coi Phong trào Khalistan của một bộ phận người Sikh cực đoan là vấn đề an ninh quốc gia. Phong trào này qua nhiều thập kỷ liên tục khuấy động và đòi thành lập một quốc gia độc lập cho người Sikh ở bang Punjab của Ấn Độ và tỉnh Punjab của Pakistan là điều không thể chấp nhận. Các thành viên của Khalistan hiện tại được cho là vẫn đang âm mưu khơi lại những vết thương trong lòng Ấn Độ cả từ trong và ngoài nước.
Trong khi đó, Ấn Độ đã từng nhiều lần yêu cầu Canada, cùng các nước phương Tây khác như Mỹ, Anh, Australia, New Zealand cần có các biện pháp đảm bảo an toàn cho công dân và các lợi ích của Ấn Độ tại các nước này, ngăn chặn những kẻ mà New Delhi coi là khủng bố, kích động, khơi dậy bạo lực và chủ nghĩa ly khai.
Ngoài ra, Ấn Độ cũng bất bình trước những cáo buộc trực tiếp, công khai của Thủ tướng Trudeau trước Quốc hội Canada, chỉ ít ngày sau khi trở về từ Hội nghị Thượng đỉnh G20 tại New Delhi. Bất chấp yêu cầu của phía Ấn Độ, Thủ tướng Canada vẫn chưa đưa ra các bằng chứng cụ thể. “Các liên kết tiềm năng” hay sự dính líu của các nhân viên ngoại giao Ấn Độ tới vụ việc cũng được hiểu là vụ điều tra chưa hoàn tất. Bởi thế, các cáo buộc là không có cơ sở. Và còn rất nhiều thực tế khó chịu khác mà Ấn Độ từ lâu vẫn phải chấp nhận từ phía Canada.
Đây chính là lý do mà New Delhi vẫn đang duy trì các biện pháp đáp trả cứng rắn. Ấn Độ cho rằng phương Tây một mặt duy trì hợp tác với Ấn Độ, nhưng mặt khác vẫn dung dưỡng các phần tử cực đoan có thể gây hận thù, thậm chí xâm phạm với lợi ích quốc gia của Ấn Độ. Điều đó đơn giản là không thể chấp nhận.
Căng thẳng có thể lên nấc cao mới
Cuộc đối đầu hiện tại giữa Ấn Độ và Canada vẫn đang duy trì ở các biện pháp trả đũa ở mức độ ngoại giao và lãnh sự. Về mặt kinh tế, hai nước đã hủy các cuộc đám phán về hiệp định thương mại tự do song phương (FTA).
Hiện tại, Canada còn đang muốn mở cuộc vận động ngoại giao giữa các nước thành viên trong nhóm liên minh tình báo Ngũ nhãn gồm Mỹ, Anh, Canada, Australia, và New Zealand. Ottawa đang muốn vận động các đồng minh tẩy chay hợp tác và trừng phạt New Delhi vì vụ việc này.
Nói cách khác, Canada muốn “quốc tế hóa” các biện pháp trừng phạt nhằm vào Ấn Độ. Tuy vậy, các phản ứng tới thời điểm này của Mỹ, đồng minh láng giềng cho thấy họ không sẵn sàng ủng hộ Canada đi xa hơn trong tranh cãi với Ấn Độ.
Các quan chức Mỹ đều mong muốn Ấn Độ và Canada có thể tìm ra giải pháp cho tranh cãi song phương mà không cần tới các biện pháp trừng phạt. Các đồng minh của Canada hiểu rằng đây là vấn đề nội bộ trong quan hệ giữa hai nước và việc Ấn Độ bị lôi kéo vào một cuộc tranh cãi, trả đũa với Canada chắc chắn sẽ phá vỡ cục diện liên kết tại khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Đây là nơi mà Mỹ đã đầu tư công sức, nỗ lực xây dựng quan hệ trong mấy năm qua để làm đối trọng với Trung Quốc.
Dư luận khu vực vẫn đang chờ đợi các diễn biến. Họ cho rằng, các động lực của căng thẳng trả đũa vẫn còn. Tuy nhiên, liệu hai nước có tiếp tục “thổi lửa” vào tranh cãi hay không còn tùy thuộc vào tình hình chính trị nội bộ cũng như lợi ích song phương đi kèm.
Tín hiệu từ đề xuất đám phán riêng
Tuyên bố được Bộ trưởng Ngoại giao Canada Melanie Joly đưa ra rằng Canada mong muốn các cuộc đàm phán riêng với Ấn Độ để giải quyết căng thẳng ngoại giao giữa hai nước được coi là cử chỉ nhằm hạ nhiệt tình hình hiện nay. Theo bà Joly, Canada đang liên lạc với chính phủ Ấn Độ để tìm giải pháp. Cùng với đó, Canada rất coi trọng sự an toàn của các nhân viên ngoại giao nước này và sẽ tiếp tục hợp tác riêng với Ấn Độ thông qua kênh ngoại giao.
Tuy nhiên, rất khó khẳng định đây là bước khởi đầu của một tiến trình “xuống thang” trong quan hệ song phương. Các động lực để vụ việc tiếp diễn vẫn còn đó, đặc biệt là trong nội bộ chính trường Canada.
Không ít lập luận cho rằng việc Thủ tướng Trudeau công bố cáo buộc nhằm vào Ấn Độ ngay tại Quốc hội có thể là động thái để chuyển hướng sự chú ý của dư luận khỏi cuộc điều tra về can thiệp của Trung Quốc vào các cuộc bầu cử ở Canada. Nhiều sức ép từ nội bộ đang buộc ông Trudeau phải triển khai công việc này.
Những người gièm pha Thủ tướng Canada cáo buộc rằng Trung Quốc đã can thiệp để ủng hộ các ứng cử viên Đảng Tự do của ông trong cuộc bầu cử năm 2021, cuộc chạy đua mà họ giành chiến thắng. Vì thế, cáo buộc về mối liên hệ của Ấn Độ trong vụ sát hại thủ lĩnh vũ trang người Sikh cho phép Thủ tướng Canada củng cố nền tảng chính trị của mình. Ông có thể tự khẳng định mình là một nhà lãnh đạo cứng rắn, người đã đẩy lùi sự can thiệp của Trung Quốc vào các vấn đề nội bộ của Canada và cũng sẵn sàng “làm căng” với Ấn Độ, một đồng minh tiềm năng.
Trong các khảo sát gần đây, Đảng Tự do hiện đang kém Đảng Bảo thủ 20 điểm về tỷ lệ ủng hộ, trong khi cuộc bầu cử Quốc hội ở Canada dự kiến diễn ra vào năm 2025. Tất cả các yếu tố này có thể giúp ông Trudeau đủ thời gian để khôi phục lại vị thế chính trị của mình. Cáo buộc Ấn Độ trong vụ việc này cũng có thể giúp Thủ tướng Canada tìm kiếm sự ủng hộ trong cộng đồng người Sikh ở Canada vốn chiếm khoảng 2% dân số. Chính phủ hiện tại ở Ottawa nhận được sự hậu thuẫn của 25 nghị sĩ Đảng Dân chủ Mới do Jagmeet Singh, một chính trị gia Sikh có thiện cảm với phong trào Khalistan đứng đầu. Đây có thể là động lực đẩy cuộc khủng hoảng này đi xa hơn.
Nguồn: Soha; VOA; Vnexpress; Dân Trí; VOV
Việt Nam: Đề nghị kỷ luật Sử Ngọc Anh; Cáp treo mới 16.234 tỷ; Thiên đường nghỉ dưỡng; Cựu Phó TGĐ Ngân hàng VNCB trốn truy nã; Đấu giá biệt thự Chủ tịch AIC
Việt Nam: Ngọc nữ lọt top mỹ nhân đẹp nhất thế giới; Đường dây rửa tiền xuyên quốc gia; Quy hoạch công viên Thủ Lệ; Thánh đường 5.000 người trước ngày khánh thành
Việt Nam: EU đưa ra khỏi danh sách quốc gia không hợp tác thuế; Phải khai báo trường hợp chuyển khoản sau; Top quốc gia được yêu thích nhất; Xác minh giao dịch 300 triệu
Người Việt hải ngoại: Thu nhập Vương Phạm ở Mỹ; Kỹ sư đến Google DeepMind; Quán café tại Pháp; 9X lọt Forbes 30 Under 30 Asia; Giáo sư tại Nhật vào nhóm nhà khoa học xuất sắc nhất
Việt Nam: Lãi suất ngân hàng 12/10; Khách sạn lọt top 3 tốt nhất Đông Nam Á; Chung cư 90 triệu đồng/m2; Chuyển trái phép 900 tỷ ra nước ngoài; Ngân hàng bán bất động sản xử lý nợ
Người Việt hải ngoại: Sắp diễn ra Hội nghị người Việt ở nước ngoài toàn thế giới lần thứ 5; Hoa hậu 2 lần đổ vỡ sang Canada cưới người yêu đơn phương 5 năm
Việt Nam: Cảnh báo sớm sai sót thuế; Cho thuê chung cư để lưu trú; Giải phóng mặt bằng các dự án lớn Hà Nội; Lừa bán phụ nữ sang Trung Quốc làm vợ; Đường dây đánh bạc, rửa tiền
Người Việt hải ngoại: Nữ chuyên gia có 200 bằng sáng chế; Nữ Tổng Quản Lý Marriott International; phát triển trạm sạc nhanh tại Mỹ; Cựu Phó Thủ tướng Đức vào HĐQT Chứng khoán HD
Bình luận và đánh giá
Gửi nhận xét đánh giá