- Tư vấn

Một chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai ở Hưng Yên bị tòa tuyên xử việc dừng cấp sổ cho người dân vì hàng xóm không ký giáp ranh là trái pháp luật, buộc phải tiếp tục giải quyết hồ sơ.
Vấn đề "ký giáp ranh" được Tuổi Trẻ phản ánh trong những ngày qua được nhiều bạn đọc quan tâm.
Đã có những vụ việc phải ra tòa như trường hợp một chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai ở tỉnh Hưng Yên bị Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hưng Yên tuyên xử thua kiện vì dừng cấp sổ cho người dân với lý do hàng xóm không ký giáp ranh là trường hợp điển hình.
Chưa có ký giáp ranh, dừng cấp sổ hồng
Theo bản án hành chính sơ thẩm số 01/2026/HC-ST ngày 29-6-2026, năm 1998 vợ chồng ông L. mua thửa đất số 266 đã có sổ hồng tại thị xã T., tỉnh Thái Bình (nay thuộc phường T., tỉnh Hưng Yên) và cất nhà ở ổn định.
Năm 2022 Nhà nước thu hồi 17,3m² từ thửa đất này để mở rộng đường, diện tích còn lại là 126,9m². Trừ diện tích bàn giao làm đường, vợ chồng ông L. nộp hồ sơ đăng ký biến động, cấp sổ hồng cho phần còn lại nhưng chưa được giải quyết.
Hồ sơ bị trả lại là do hộ hàng xóm liền kề có tranh chấp liên quan đến ranh giới, mốc giới thửa đất.
Đến ngày 31-7-2025 vợ chồng ông L. tiếp tục nộp hồ sơ cấp sổ hồng.
Ngày 8-8-2025 chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai phối hợp với chính quyền địa phương và tổ dân phố kiểm tra thực địa.
Do hai gia đình không thống nhất về ranh giới, mốc giới, việc xác nhận ranh giới không thành và được ghi vào biên bản làm việc. Từ đó chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai chưa giải quyết cấp sổ.
Theo vợ chồng ông L., phía gia đình hàng xóm dù không đồng ý ranh nhưng không có chứng cứ chứng minh và cũng không có đơn tranh chấp ranh được cơ quan chức năng thụ lý giải quyết.
Đồng thời chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai cũng không lập bản mô tả ranh giới, mốc giới theo quy định. Vì vậy việc nơi này không đăng ký biến động, cấp sổ cho vợ chồng ông là trái quy định pháp luật, gây thiệt hại quyền lợi của vợ chồng ông.
Không cấp sổ vì thiếu ký giáp ranh là trái luật
Hội đồng xét xử nhận định, vào ngày 1-7-2025 UBND phường T. có hòa giải tranh chấp liên quan thửa đất vợ chồng ông L. từ hộ hàng xóm và có hướng dẫn kiện ra tòa. Và sau thời điểm này, UBND phường không tiếp nhận, thụ lý đơn tranh chấp có liên quan nào nữa.
Tại thời điểm tiếp nhận hồ sơ đăng ký cấp sổ ngày 31-7-2025 không có cơ quan nhà nước nào đang thụ lý giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất đối với thửa đất của vợ chồng ông L. và cũng không có quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn giao dịch hoặc quyết định tạm dừng đăng ký biến động.
Việc hộ liền kề không đồng thuận về ranh giới, mốc giới hoặc tiếp tục gửi đơn kiến nghị không phải là căn cứ pháp lý để chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai từ chối hoặc kéo dài việc giải quyết hồ sơ.
Bên cạnh đó, Hội đồng xét xử cũng cho rằng chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai không thể viện dẫn vào quyết định giải quyết khiếu nại số 330 (tháng 10-2024) của Sở Tài nguyên - Môi trường tỉnh Thái Bình để chưa giải quyết hồ sơ cấp sổ.
Lý do quyết định trên chỉ yêu cầu chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thực hiện việc trích đo, trích lục địa chính sau khi ranh giới, mốc giới được xác định cụ thể tại thực địa theo quy định pháp luật.
Theo Hội đồng xét xử, điểm c khoản 3 Điều 13 Thông tư số 26/2024/TT-BTNMT đã quy định trình tự xử lý trường hợp người sử dụng đất liền kề không ký xác nhận ranh giới, mốc giới, không có quy định việc không ký xác nhận ranh thì cơ quan đăng ký đất đai được dừng việc giải quyết hồ sơ mà phải giải quyết theo trình tự.
Tuy nhiên, sau buổi kiểm tra thực địa ngày 8-8-2025, chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai không lập bản mô tả ranh giới, mốc giới, không chuyển UBND cấp xã để niêm yết công khai và không tiếp tục thực hiện các bước theo quy định...
Xem tiếp tại đường Link =>
https://share.google/JQglJFz2OucvIlSpm
Dịch vụ karaoke là loại hình giải trí phổ biến, nhưng những hành vi dưới đây sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính.
Công an TP Hải Phòng mới đây cho biết, dịch vụ karaoke là loại hình giải trí phổ biến, nhưng hành vi cố tình kinh doanh quá giờ quy định của một số chủ cơ sở vì lợi nhuận đang gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh, trật tự (ANTT) xã hội.
Theo điểm b khoản 5 Điều 21 Nghị định 87/2026/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa và quảng cáo (có hiệu lực từ ngày 15/05/2026), hành vi kinh doanh dịch vụ karaoke trong khoảng thời gian không được kinh doanh mỗi ngày sẽ bị áp dụng các chế tài sau:
Mức phạt tiền: Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với cá nhân vi phạm (đối với tổ chức có cùng hành vi vi phạm, mức phạt sẽ gấp đôi theo quy định chung).
Khung giờ không được phép kinh doanh:
Theo quy định tại Điều 7 Nghị định 54/2019/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 148/2024/NĐ-CP), các cơ sở kinh doanh dịch vụ karaoke không được hoạt động từ 00:00 (12 giờ đêm) đến 08:00 sáng hằng ngày. Như vậy, các cơ sở chỉ được phép hoạt động trong khung giờ từ 08:00 sáng đến 24:00 (12 giờ đêm).
Trách nhiệm của người dân khi đi hát karaoke
Nhiều người đi hát karaoke thường mang tâm lý chủ quan, xem việc quán mở cửa muộn hay vi phạm giờ giấc là "chuyện riêng của chủ quán" và nếu bị kiểm tra thì chỉ cơ sở kinh doanh phải chịu phạt. Tuy nhiên, dưới góc độ pháp lý và an toàn cá nhân, khách sử dụng dịch vụ karaoke cũng gánh vác trách nhiệm xã hội rõ ràng, đồng thời đối diện với những rủi ro trực tiếp:
Không tiếp tay cho vi phạm, chủ động rời quán trước giờ giới nghiêm: Việc khách nán lại hát quá 24h đêm, yêu cầu chủ quán "phục vụ thêm một vài tiếng" vô tình tạo ra cầu thúc đẩy cung, tiếp tay cho cơ sở vi phạm pháp luật. Khách hàng văn minh cần có ý thức tôn trọng khung giờ hoạt động hợp pháp, chủ động kết thúc cuộc vui trước nửa đêm để bảo đảm quyền được nghỉ ngơi, yên tĩnh của cộng đồng xung quanh.
Tự đặt mình vào tình thế nguy hiểm tính mạng khi có hỏa hoạn: Để đối phó với sự kiểm tra của lực lượng chức năng sau 0h, hầu hết các quán karaoke vi phạm thường chọn cách tắt biển hiệu, kéo sập cửa cuốn, khóa trái cửa ra vào từ bên trong và chỉ để khách hát ở các phòng kín. Nếu chẳng may xảy ra chập cháy, nổ khí gas trong điều kiện bị khóa chặt bên trong, khách hát sẽ hoàn toàn mất lối thoát hiểm, lực lượng cứu hỏa bên ngoài cũng gặp vô vàn trở ngại để tiếp cận, dẫn đến nguy cơ thương vong thảm khốc.
Rủi ro vướng vào các tệ nạn và rắc rối pháp lý: Các phòng hát hoạt động thâu đêm thường là môi trường lý tưởng để một số đối tượng xấu lôi kéo sử dụng chất cấm (ma túy, bóng cười, thuốc lắc). Dù bản thân không sử dụng, sự có mặt trong cùng phòng hát khi bị lực lượng công an kiểm tra đột xuất vẫn buộc người tham gia phải tiếp nhận xét nghiệm nước tiểu, lưu giữ phục vụ xác minh, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến danh dự cá nhân, công việc và cuộc sống gia đình.
Ý thức tự bảo vệ trật tự an toàn giao thông: Việc rời quán hát vào rạng sáng trong trạng thái đã sử dụng rượu bia, thiếu ngủ không chỉ tiềm ẩn nguy cơ va chạm giao thông, gây gổ đánh nhau trên đường phố mà còn chắc chắn bị xử phạt kịch khung theo quy định nồng độ cồn nếu điều khiển phương tiện.
Xem tiếp tại đường Link =>
https://share.google/pYUEelKgOetCDrFpo
Trong giao dịch bất động sản, đặt cọc thường là bước đầu tiên để giữ chỗ, giữ giá hoặc ràng buộc cam kết mua bán. Tuy nhiên, đây cũng là giai đoạn dễ phát sinh tranh chấp nhất: bên mua muốn lấy lại tiền cọc, bên bán cho rằng người mua “bỏ giao dịch”, hoặc hợp đồng chuyển nhượng không thể ký do vướng sổ đỏ, thủ tục công chứng, điều kiện pháp lý của nhà đất.
Nghị quyết số 03/2026/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, ban hành ngày 18/8/2026 và có hiệu lực từ ngày 15/10/2026 với nhiều hướng dẫn quan trọng về giải quyết tranh chấp đặt cọc. Với thị trường nhà đất, Nghị quyết này có tác động trực tiếp vì phần lớn giao dịch đặt cọc hiện nay liên quan đến chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở và tài sản gắn liền với đất.
Đặt cọc có thể lập riêng hoặc ghi trong hợp đồng
Theo Điều 2 của Nghị quyết, thỏa thuận đặt cọc là giao dịch dân sự theo quy định của Bộ luật Dân sự. Thỏa thuận này có thể được thể hiện bằng hợp đồng riêng hoặc là một điều khoản trong hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm.
Quy định này phù hợp với thực tế thị trường, nơi nhiều giao dịch nhà đất không lập hợp đồng đặt cọc riêng mà chỉ ghi nhận trong giấy nhận tiền, giấy thỏa thuận mua bán hoặc điều khoản trong hợp đồng dự kiến. Tuy nhiên, dù thể hiện dưới hình thức nào, nội dung đặt cọc vẫn phải đáp ứng điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự.
Hợp đồng chính không ký được, đặt cọc chưa chắc vô hiệu
Theo Điều 3 Nghị quyết nêu rõ, thỏa thuận đặt cọc để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng mà nội dung không rõ ràng, dẫn đến hợp đồng không được giao kết hoặc không được thực hiện, thì thỏa thuận đặt cọc vẫn có thể có hiệu lực nếu đáp ứng điều kiện của Bộ luật Dân sự.
Ví dụ các bên đặt cọc để chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng không rõ về kích thước, giá chuyển nhượng, dẫn đến một bên từ chối giao kết hợp đồng và yêu cầu tòa tuyên hợp đồng đặt cọc vô hiệu. Trong trường hợp này, tòa án không mặc nhiên tuyên vô hiệu, mà phải xem xét thỏa thuận đặt cọc có đáp ứng điều kiện có hiệu lực theo Điều 117 Bộ luật Dân sự hay không.
Điều này rất quan trọng với người mua nhà đất. Nếu giấy đặt cọc ghi sơ sài, thiếu thông tin về thửa đất, giá bán, thời hạn ký hợp đồng, nghĩa vụ ra sổ hoặc điều kiện chuyển nhượng, tranh chấp khi phát sinh sẽ phức tạp hơn nhiều.
Đặt cọc khi bên bán chưa đứng tên sổ đỏ: xử lý thế nào?
Điều 3 Nghị quyết cũng đề cập trường hợp tại thời điểm đặt cọc, hợp đồng chính nếu được giao kết có thể bị vô hiệu.
Ví dụ, các bên đặt cọc để chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất chưa đứng tên bên nhận cọc, đồng thời có thỏa thuận về thời hạn để bên nhận cọc được cấp giấy chứng nhận nhằm chuyển nhượng cho bên đặt cọc.
Nếu hết thời hạn mà bên nhận cọc không được cấp giấy chứng nhận và không thể chuyển nhượng, bên nhận cọc có thể yêu cầu tòa tuyên hợp đồng đặt cọc vô hiệu với lý do hợp đồng chuyển nhượng sẽ vô hiệu nếu được ký. Tuy nhiên, Nghị quyết hướng dẫn rằng hợp đồng đặt cọc vẫn có hiệu lực nếu đáp ứng đủ điều kiện theo Điều 117 Bộ luật Dân sự.
Nói cách khác, việc bên bán chưa có sổ đỏ không tự động làm thỏa thuận đặt cọc vô hiệu. Vấn đề cốt lõi là các bên đã thỏa thuận gì, điều kiện pháp lý ra sao và bên nào không thực hiện đúng cam kết.
Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:
(i) Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:
- Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;
- Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;
- Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
(ii) Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định.
Tài sản đặt cọc không chỉ là tiền
Theo Điều 5, tài sản đặt cọc có thể là tiền, kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác như cổ phiếu, trái phiếu, tài sản số. Điều kiện là tài sản đó không bị cấm hoặc hạn chế giao dịch, có thể giao cho bên nhận cọc nắm giữ và xác định được giá trị bằng một khoản tiền nhất định tại thời điểm đặt cọc.
Điều 5 cũng nêu rõ giá trị tài sản đặt cọc có thể lớn hơn, bằng hoặc nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Đây là điểm đáng chú ý trong bất động sản, bởi nhiều giao dịch có khoản cọc rất lớn, đôi khi chiếm tỷ lệ đáng kể so với giá trị căn nhà hoặc thửa đất.
Không thỏa thuận phạt cọc: Bên vi phạm vẫn phải chịu hậu quả
Điều 6 quy định cách xử lý vi phạm thỏa thuận đặt cọc. Nếu các bên không có thỏa thuận về phạt cọc, việc xử lý được xác định như sau: nếu bên nhận đặt cọc từ chối giao kết hoặc thực hiện hợp đồng, ngoài việc phải trả lại tài sản đặt cọc, bên nhận cọc còn phải trả thêm cho bên đặt cọc một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc.
Ngược lại, nếu bên đặt cọc từ chối giao kết hoặc thực hiện hợp đồng, tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc.
Đây là nguyên tắc quen thuộc trong giao dịch nhà đất nhưng nay được hướng dẫn rõ hơn, giúp tòa án có căn cứ thống nhất khi giải quyết tranh chấp.
Phạt cọc quá cao có thể bị tòa án điều chỉnh
Một điểm mới đáng chú ý tại Điều 6 là trường hợp các bên thỏa thuận mức tiền phạt cọc vượt quá giá trị của hợp đồng được bảo đảm. Khi đó, tòa án có thể xem xét, quyết định mức tiền phạt cọc không vượt quá giá trị của hợp đồng tại thời điểm xét xử sơ thẩm.
Quy định này có ý nghĩa lớn với thị trường bất động sản, nơi không ít giao dịch đặt ra mức phạt cọc rất cao để gây sức ép cho bên còn lại. Nghị quyết cho thấy thỏa thuận phạt cọc không phải lúc nào cũng được chấp nhận tuyệt đối, nhất là khi mức phạt vượt quá giá trị hợp đồng được bảo đảm.
Chậm thủ tục do cơ quan nhà nước: Không nhất thiết bị phạt cọc
Điều 6 cũng đưa ra ví dụ rất thực tế: các bên đặt cọc mua bán nhà ở, thỏa thuận trong thời hạn 3 tháng bên nhận cọc phải hoàn tất thủ tục để được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở.
Nếu hết thời hạn 3 tháng, bên nhận cọc chưa được cấp giấy chứng nhận do nguyên nhân từ cơ quan nhà nước có thẩm quyền, dù đã nộp hồ sơ đúng quy định, thì đây được xác định là trở ngại khách quan và bên nhận cọc không phải chịu phạt cọc.
Quy định này đặc biệt quan trọng vì nhiều giao dịch nhà đất bị chậm không phải do bên bán cố tình vi phạm, mà do thủ tục hành chính, hồ sơ cấp giấy chứng nhận hoặc quá trình xử lý của cơ quan nhà nước kéo dài.
Tiền đặt cọc có thể tính lãi, tiền phạt cọc thì không
Theo khoản 4 Điều 6, tòa án có thể chấp nhận yêu cầu tính lãi đối với khoản tiền đặt cọc theo Điều 357 Bộ luật Dân sự. Tuy nhiên, tòa án không chấp nhận yêu cầu tính lãi đối với khoản tiền phạt cọc, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc các bên có thỏa thuận khác.
Nghĩa vụ trả lãi đối với khoản tiền đặt cọc được tính từ ngày tiếp theo liền kề ngày phát sinh nghĩa vụ hoàn trả tiền đặt cọc. Đây là chi tiết người mua và người bán cần lưu ý khi thỏa thuận điều khoản hoàn trả cọc.
Tranh chấp đặt cọc nhà đất giải quyết ở đâu?
Điều 7 hướng dẫn thẩm quyền giải quyết tranh chấp hợp đồng đặt cọc trong một số trường hợp cụ thể.
Đối với vụ án tranh chấp hợp đồng đặt cọc để bảo đảm giao kết, thực hiện hợp đồng có đối tượng là bất động sản, nếu nơi cư trú, làm việc của bị đơn, nguyên đơn và nơi có bất động sản khác nhau, thẩm quyền theo lãnh thổ được xác định theo quy định tại điểm a, điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Riêng với hợp đồng đặt cọc đã được công chứng, nếu các bên chỉ yêu cầu tòa tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu do vi phạm pháp luật về công chứng, tòa án có thẩm quyền là nơi tổ chức hành nghề công chứng đặt trụ sở. Nhưng nếu vừa tranh chấp hợp đồng đặt cọc, vừa yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu, thẩm quyền sẽ được xác định theo quy định chung tại Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đòi lại tiền cọc không bị áp dụng thời hiệu khởi kiện
Điều 8 quy định tòa án áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với yêu cầu phạt cọc, yêu cầu bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ hoặc yêu cầu khác về hợp đồng đặt cọc theo Điều 429 Bộ luật Dân sự.
Tuy nhiên, tòa án không áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với yêu cầu đòi lại tài sản đặt cọc theo khoản 2 Điều 155 Bộ luật Dân sự. Đây là điểm rất quan trọng với người mua nhà đất: yêu cầu đòi lại tài sản đặt cọc được nhìn nhận như yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu, quyền tài sản, nên không bị ràng buộc bởi thời hiệu như các yêu cầu phạt cọc hoặc bồi thường.
Xem tiếp tại đường Link =>
https://share.google/xedWolaX1HwakOEBF
Chuyên gia cho rằng người cần nhận nhà ngay có thể ưu tiên chung cư thứ cấp để kiểm tra trực tiếp chất lượng công trình và môi trường sống. Ngược lại, nếu có thể chờ 2-3 năm, căn hộ sơ cấp với tiến độ thanh toán giãn theo thời gian sẽ giúp giảm áp lực tài chính.
Tại sự kiện toàn cảnh thị trường bất động sản quý 3/2026 của Batdongsan.com.vn, ông Đồng Quang Cảnh, Quản lý Kinh doanh cấp cao Batdongsan.com.vn cho rằng thời điểm nhận nhà và khả năng tài chính là hai yếu tố quan trọng khi lựa chọn giữa chung cư sơ cấp và thứ cấp.
Với người cần chỗ ở ngay, căn hộ thứ cấp có lợi thế vì có thể trực tiếp kiểm tra chất lượng xây dựng, tình trạng căn hộ, vận hành, cộng đồng cư dân và môi trường sống thực tế.
Ngược lại, với kế hoạch nhận nhà sau 2-3 năm, sản phẩm sơ cấp có thể phù hợp hơn nhờ tiến độ thanh toán giãn theo thời gian, giúp giảm áp lực tài chính và bảo đảm dòng tiền cho sinh hoạt hằng ngày.
Về tài chính, người mua căn hộ thứ cấp thường phải thanh toán phần lớn giá trị ngay từ đầu hoặc vay khoản tiền lớn nếu sử dụng đòn bẩy. Bù lại, mặt bằng giá của phân khúc này hiện có lợi thế khi đang giảm gấp rưỡi so với chung cư sơ cấp. Trong khi đó, các dự án mở bán mới thường áp dụng chính sách thanh toán ưu đãi và hỗ trợ lãi suất vay.
Để lựa chọn chính xác, người mua nên đặt hai dự án đang cân nhắc lên bàn cân và tính tổng chi phí của mỗi phương án. Ngoài giá mua, cần tính cả tiền lãi vay phải trả và khoản tiết kiệm thực tế từ chiết khấu, hỗ trợ lãi suất hoặc các chính sách thanh toán, để có thể đánh giá đúng phương án nào phù hợp hơn.
Pháp lý và chi phí phát sinh cũng là những yếu tố không thể bỏ qua. Với căn hộ sơ cấp, người mua cần kiểm tra uy tín chủ đầu tư, tiến độ triển khai và tính đầy đủ của hồ sơ pháp lý. Đối với căn hộ thứ cấp, người mua cần rà soát tình trạng sổ, hiện trạng căn hộ, chi phí cải tạo và chất lượng nội thất bàn giao để hạn chế rủi ro phát sinh.
Cuối cùng, ông Cảnh lưu ý rằng hiện chung cư đang có những mức giảm giá nhất định, nhưng chưa đồng nghĩa với việc căn hộ đã rẻ. Với nhu cầu an cư, nên ưu tiên những căn hộ có vị trí thuận tiện, đáp ứng tốt sinh hoạt và việc đi lại hằng ngày, thay vì chỉ nhìn vào mức giảm giá.
Chung cư dẫn dắt nhu cầu tại Hà Nội
Báo cáo về thị trường Hà Nội, chuyên gia Batdongsan.com.vn cho biết thị trường đang có sự phân hóa rõ rệt giữa các loại hình. Chung cư tiếp tục dẫn dắt nhu cầu, trong khi nhà riêng và biệt thự chịu ảnh hưởng nhiều hơn từ mặt bằng giá, thông tin quy hoạch và chính sách tài chính.
Trong cơ cấu tìm kiếm, chung cư ngày càng chiếm ưu thế khi tỷ trọng mức độ quan tâm tăng lên 52%, trong khi đất nền giảm còn 13% và nhà riêng 18%. Dù sức hút tăng lên, mặt bằng giá vẫn điều chỉnh. So với quý 2/2026, giá rao bán chung cư giảm 5%, đất nền giảm 10%, biệt thự giảm 3%, còn nhà riêng nhìn chung đi ngang.
Đáng chú ý, giá rao bán căn hộ thứ cấp tại Hà Nội giảm mạnh hơn sơ cấp. Tính từ đầu năm đến tháng 9/2026, chỉ số giá rao bán thứ cấp giảm 15%, trong khi mức giảm ở phân khúc sơ cấp là 9%. Tuy nhiên, chung cư thứ cấp vẫn chiếm 54% lượng giao dịch ước tính trong quý 3/2026, cao hơn mức 46% của phân khúc sơ cấp.
Ở phân khúc nhà riêng, mặt bằng giá nhìn chung ổn định nhưng có sự phân hóa giữa các khu vực. Cụ thể, Hoàn Kiếm ghi nhận giá rao bán giảm 8% so với quý trước, Đông Anh và Cầu Giấy cùng giảm 5%.
Đối với biệt thự, mức độ quan tâm tại Hà Nội có xu hướng dịch chuyển về các khu vực ngoài lõi trung tâm, gắn liền với sự phát triển của các trục hạ tầng trọng điểm.
Vì sao chung cư lại được săn đón hơn đất nền?
Lý giải cho việc tỷ trọng quan tâm chung cư tăng trong khi đất nền suy giảm, ông Hà Nhiệm – Giám đốc Khu vực miền Trung Batdongsan.com.vn nhận định sự chuyển dịch này mang tính tất yếu và có cơ sở duy trì lâu dài, xuất phát từ nguồn cung, chi phí đầu tư và thay đổi trong nhu cầu ở thực.
Nguyên nhân quan trọng là nguồn cung đất nền mới tại các đô thị lớn hầu như không có. Định hướng quy hoạch cùng những quy định pháp luật hạn chế phân lô bán nền khiến khả năng bổ sung nguồn cung ngày càng bị thu hẹp.
Xem tiếp tại đường Link =>
https://share.google/GHYVfXgH9LY15Cp4X
Ngày 9-10, UBND tỉnh Khánh Hòa ban hành quy định hạn mức giao đất, công nhận đất; hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp của cá nhân; diện tích đất để xây dựng công trình phục vụ trực tiếp sản xuất nông nghiệp; tiêu chí, điều kiện chuyển mục đích sử dụng đất dưới 2ha đối với đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng, đất rừng sản xuất sang mục đích khác và các giấy tờ khác về quyền sử dụng đất có trước ngày 15-10-1993 trên địa bàn tỉnh.
Theo đó, hạn mức giao đất ở cho cá nhân tại khu vực đô thị tối đa 150m² đối với đô thị loại II và 250m² đối với đô thị loại III. Tại khu vực nông thôn, hạn mức giao đất ở phân theo nhóm xã: Xã nhóm 1 tối đa 300m², xã nhóm 2 là 400m², riêng xã nhóm 3 và đặc khu Trường Sa có hạn mức tối đa 600m². Quy định này không áp dụng đối với các trường hợp giao đất thông qua đấu giá quyền sử dụng đất, đất tái định cư hoặc các dự án phát triển nhà ở theo quy hoạch.
Đối với việc công nhận đất ở cho hộ gia đình, cá nhân có giấy tờ hợp lệ trước ngày 18-12-1980, hạn mức công nhận được xác định bằng 5 lần hạn mức giao đất ở tương ứng nhưng không vượt quá diện tích thửa đất. Với các thửa đất hình thành từ ngày 18-12-1980 đến trước ngày 15-10-1993, hạn mức công nhận đất ở tại đô thị loại II là 350m², đô thị loại III là 400m²; tại nông thôn dao động từ 400m² đến 600m² tùy theo phân nhóm xã và đặc khu Trường Sa.
Tỉnh quy định hạn mức giao đất nông nghiệp do hộ gia đình, cá nhân tự khai hoang đối với đất trồng cây hằng năm, nuôi trồng thủy sản, làm muối tối đa không quá 2ha cho mỗi loại đất. Hạn mức giao đất trồng cây lâu năm là 10ha tại vùng đồng bằng và 20ha tại vùng miền núi; đất rừng sản xuất là rừng trồng tối đa 20ha. Đối với hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp của cá nhân, quyết định cho phép nhận chuyển nhượng tối đa không quá 10 lần hạn mức giao đối với đất cây hằng năm, thủy sản, làm muối; không quá 15 lần hạn mức giao đối với đất cây lâu năm, đất rừng phòng hộ và rừng sản xuất.
Với diện tích đất nông nghiệp (trừ đất trồng lúa) được phép xây dựng công trình phục vụ trực tiếp sản xuất, diện tích công trình chiếm tối đa 5% tổng diện tích đất nhưng không vượt quá 30m² đối với quy mô sản xuất dưới 2ha và không quá 50m² đối với quy mô từ 2ha trở lên. Việc chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng sản xuất quy mô dưới 2ha sang mục đích khác, dự án bắt buộc phải có quyết định đầu tư hoặc chấp thuận chủ trương đầu tư tài liệu đánh giá sơ bộ tác động môi trường (nếu có), cùng phương án trồng rừng thay thế hoặc chứng từ hoàn thành nộp tiền trồng rừng thay thế.
Quy định nêu rõ danh mục các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất lập trước ngày 15-10-1993 làm căn cứ xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bao gồm: Các giấy tờ do chế độ cũ cấp (Bảng trích lục điền thổ, Chứng thư kiến điền, Khế ước tá điền, Giấy phép tạm chiếm đất, giấy phép xây dựng...); giấy tờ mua bán, chuyển nhượng, tặng cho nhà đất trước ngày 15-10-1993 có xác nhận của chính quyền địa phương, cùng sổ chứng nhận sở hữu do cấp huyện cấp trước đây.
Quyết định số 82 thay thế và bãi bỏ đồng thời các quyết định quy định hạn mức đất đai ban hành năm 2024, 2025 của tỉnh Khánh Hòa và tỉnh Ninh Thuận cũ. Về xử lý chuyển tiếp, các hồ sơ đăng ký đất đai đã được tiếp nhận trước ngày quyết định có hiệu lực nhưng chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sẽ tiếp tục giải quyết theo quy định cũ, trừ trường hợp người sử dụng đất có đơn đề nghị áp dụng theo quy định mới.
Xem tiếp tại đường Link =>
https://share.google/Q4bAwmTDkDTYMpJBC
Nguồn: Tuổi Trẻ; CafeF; CafeLand; Viet Stock; Báo Khánh Hoà
Dịch vụ Tư vấn chuyên nghiệp dành cho người Việt: Chọn, ký các hợp đồng bảo hiểm, gửi tiết kiệm, đầu tư, vay ngân hàng, xin tiền hỗ trợ làm nhà, mua trả dần
Người sinh các năm sau phải đổi căn cước mới; Sửa Luật Đất đai; Chính sách ưu đãi với nhà ở cho thuê; Dấu hiệu Zalo bị theo dõi; Cách tính tiền sử dụng đất
Bất động sản “lách luật”; Thông báo nhà cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ; Cấp sổ đỏ đất lấn, chiếm; Điểm mới đăng ký kết hôn và khai sinh; Đánh thuế cao “đất bỏ hoang”
Cấp sổ đỏ đất không giấy tờ; Tính thuế hộ kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ; Thông báo người dùng VneID; Mã định danh thuế điện tử mới; Nghỉ hưu sớm không bị giảm 2%
Mã định danh bất động sản; Phạt chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà sai quy định; Chú ý phạt khai báo tạm trú; Người có bảo hiểm xã hội chú ý; Người có sổ đỏ chú ý
Lời khuyên sống ở chung cư; Chú ý mức phạt đăng ký cư trú; Người sử dụng WiFi chú ý; Lời khuyên cho người gửi tiết kiệm; Làm rõ thế nào là đất bỏ hoang
“Quá tải” nếu sổ hồng ghi tên các đồng sở hữu; Loạt iPhone không thể thực hiện chuyển khoản; Hiến đất làm đường, nay chuyển nhượng bị đổi sổ đỏ; Bảo hiểm xã hội thông báo
Cấp nhầm sổ đất cho dân; Gỡ tạm hoãn xuất cảnh vì nợ thuế; Đánh thuế 0,2% đất bỏ hoang; Lưu ý mới từ cơ quan Thuế; Tháo gỡ vướng mắc đất đai, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
Bình luận và đánh giá
Gửi nhận xét đánh giá