Cộng đồng người Việt Nam tại CHLB Đức

(Đại sứ TS Nguyễn Minh Vũ tiếp Tổng thống Đức Frank-Walter Steinmeier)

Cộng đồng người Việt Nam tại Đức bắt đầu hình thành và phát triển từ những năm 1950, trải qua gần bảy thập kỷ, cho đến nay đã trở thành một cộng đồng đông đảo, ngày càng hội nhập sâu rộng và luôn đồng hành cùng sự phát triển của quan hệ hữu nghị Việt Nam – Đức.

I. Quá trình hình thành, phát triển

Học sinh, sinh viên, thực tập sinh

Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cộng hòa Dân chủ (CHDC) Đức thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 03/02/1955. Cùng trong năm này, hai nước đã thỏa thuận đưa 350 học sinh Việt Nam là con em cán bộ kháng chiến, quân đội và trí thức, với tuổi đời trung bình từ 9-15, sang học tập ở thành phố Moritzburg, bang Sachsen thuộc CHDC Đức. Đây có thể coi là nhóm người Việt Nam đầu tiên tại Đức. Năm 1957, trong chuyến thăm chính thức đầu tiên CHDC trên cương vị Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến thăm các em học sinh Việt Nam đang học tập tại đây. Sau khi hoàn thành thời gian học tập trở về nước, nhiều người trong số này đã quay lại Đức để học đại học, học nghề, giữ những trọng trách trong các cơ quan chính phủ và trên những lĩnh vực khoa học, kinh tế quan trọng của Việt Nam.

Từ thập niên 1960, Việt Nam đã đưa hàng trăm ngàn lượt sinh viên, thực tập sinh sang học tập tại Liên Xô, Trung Quốc và các nước Đông Âu, trong đó có CHDC Đức. Đến năm 1965, CHDC đã trở thành một trong những nước xã hội chủ nghĩa hàng đầu ủng hộ và giúp đỡ Việt Nam trên nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó có việc đào tạo lực lượng cán bộ, công nhân để chuẩn bị cho công cuộc kiến thiết lại đất nước sau này. Tổng cộng, đến năm 1988 đã có khoảng 42.000 lượt sinh viên Việt Nam từng học tập tại CHDC Đức, ngoài ra có khoảng gần 12.000 thực tập sinh, học viên học nghề đã được đào tạo tại CHDC Đức trong thời gian từ năm 1966 đến năm 1972.[1] Một nguồn khác ước tính số sinh viên Việt Nam từng học tập tại CHDC Đức trong giai đoạn này vào khoảng 50.000 người.[2] Phần lớn trong số này sau khi hoàn thành thời gian học tập, đào tạo đã trở lại Việt Nam.

Hiệp định Hợp tác lao động

Ngày 11/4/1980, “Hiệp định Chính phủ hai nước về việc người lao động Việt nam làm việc có thời hạn và bồi dưỡng kỹ thuật, nghiệp vụ tại các xí nghiệp của CHDC Đức“ được ký kết, khởi đầu thời kỳ người Việt sang CHDC Đức lao động trong thập niên 1980. Giai đoạn đầu từ 1980 đến 1984, số được cử đi đa phần bao gồm các công nhân lành nghề, kỹ sư, cựu quân nhân. Giai đoạn 2 từ 1987-1988 là thời kỳ đỉnh cao của hợp tác lao động, với số lao động Việt Nam được đưa sang Đức đạt 20.446 người năm 1987 và 30.552 người năm 1988.[3] Tổng cộng, trong giai đoạn 1980-1989 đã có gần 69.000 lao động Việt Nam sang hợp tác lao động tại gần 1000 xí nghiệp và cơ sở sản xuất của CHDC Đức.[4]

Khoảng 75% số lao động hợp tác đã được đào tạo nghề theo hình thức vừa học vừa làm cũng như hoàn thành thời gian học tiếng Đức bắt buộc trong giai đoạn đầu thực hiện Hiệp định, trong khi 85% số lao động trong giai đoạn hai làm việc trong các ngành hầu như không yêu cầu đào tạo hay trình độ tiếng Đức.[5] Lao động Hiệp định việc chủ yếu trong các ngành nghề may mặc, xây dựng và công nghiệp luyện kim. Đây là thời kỳ hợp tác lao động phát triển mạnh mẽ nhất, không những đáp ứng nhu cầu nhân lực của vùng miền Đông nước Đức mà thông qua đó, lao động Hiệp định đã góp phần xây dựng Tổ quốc cũng như giúp đỡ gia đình trong hoàn cảnh đất nước còn vô vàn khó khăn.

Tính đến năm 1989, tổng cộng có khoảng hơn 100.000 người Việt đã học tập, nghiên cứu, sống hoặc làm việc thường xuyên hay có thời hạn tại CHDC Đức, đặc biệt tập trung tại các vùng như Đông Berlin, Rostock, Erfurt, Jena, Karl-Marx-Stadt (Chemnitz), Leipzig và Dresden. Năm 1989 con số người Việt sống thường xuyên tại CHDC Đức là xấp xỉ 60.000 người, đa phần là lao động theo Hiệp định.[6]

Tại các bang miền Tây nước Đức

Những năm 1960 có khoảng vài trăm du học sinh do chính quyền Sài gòn (cũ) cử đi theo học tại các trường Đại học của CHLB Đức. Từ năm 1965, số lượng thanh niên miền Nam du học tăng mạnh, trong đó đáng chú ý một số khá lớn sang Đức để học các chuyên ngành kỹ thuật.[7] Khi chiến tranh Việt Nam kết thúc, có tổng cộng 2.055 người Việt, chủ yếu là du học sinh, sống tại Tây Đức.[8] Đa phần trong số này ở lại sinh sống và lập nghiệp, hình thành nên những cộng đồng đầu tiên của người Việt ở các bang miền Tây nước Đức, tập trung tại các vùng như Frankfurt, Hannover, Hamburg, München, Düsseldorf và Köhl… Ngoài số sinh viên còn có những người Việt đã rời đất nước trước ngày 30/4/1975, cùng khoảng vài trăm trẻ mồ côi được các gia đình người Đức tiếp nhận, chăm nuôi cho đến khi trưởng thành.

Tiếp đó, trong những năm cuối thập niên 1970 và thập niên 1980, nhiều người Việt Nam tìm cách ra nước ngoài bằng nhiều con đường khác nhau, đông nhất là bằng đường biển, sau đó được một số nước tiếp nhận, trong đó có CHLB Đức. Nhờ những chính sách ưu đãi của chính phủ CHLB Đức, người Việt Nam đến CHLB Đức trong thời gian này đã nhanh chóng hòa nhập vào xã hội Đức, học tiếng Đức, học nghề, tìm được việc làm và được tạo điều kiện để đoàn tụ gia đình. Ước tính cho đến trước khi nước Đức thống nhất, CHLB Đức đã tiếp nhận tổng cộng 38.000 người Việt Nam.[9] Nhìn chung, giai đoạn này cộng đồng người Việt ở miền Tây nước Đức đã có số lượng đông và cuộc sống ổn định, sớm hội nhập vào xã hội Đức.

Thời kỳ thống nhất nước Đức

Khi nước Đức bắt đầu bước vào thời kỳ thống nhất, lao động hợp tác người Việt tại Đức đứng trước hai lựa chọn: trở về nước hoặc ở lại cho đến khi kết thúc hợp đồng. Khoảng 34.000 trong tổng số 60.000 lao động Việt Nam lúc đó đã lựa chọn trở về nước;[10] số còn lại quyết định ở lại Đức, mặc dù phải đối mặt với tương lai bấp bênh do mất việc làm[11], không có chỗ ở, không thông hiểu ngôn ngữ, quy chế cư trú chưa rõ ràng... Bên cạnh đó, sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, nhiều sinh viên, nghiên cứu sinh, lao động hợp tác ở các nước này đã tìm cách ở lại, trong đó một số tìm đường sang các nước Tây Âu, chủ yếu là Đức, nơi có điều kiện sinh sống và việc làm thuận lợi hơn. Trong giai đoạn này, quy chế cư trú và đời sống của người Việt ở các bang miền Đông nước Đức rất bấp bênh. Trước năm 1993, đại đa số người Việt ở miền Đông chỉ nhận được giấy phép cư trú tạm thời từ 3 đến 6 tháng; số sang từ Liên Xô (cũ) và Đông Âu đa phần không có giấy tờ. Đây có thể coi là giai đoạn khó khăn nhất của cộng đồng người Việt tại miền Đông nước Đức.

Qua thời gian, với sự cần cù, chịu khó và nhanh nhaỵ, nắm bắt cơ hội, cộng đồng người Việt ở Đức đã dần dần ổn định cuộc sống, tìm được công ăn việc làm. Bên cạnh đó, những điều chỉnh trong chính sách của Chính phủ CHLB Đức về quyền cư trú của lao động hợp tác đã giúp cộng đồng người Việt từng bước ổn định giấy tờ để cư trú hợp pháp, lâu dài. Sau khi đã có quy chế cư trú ổn định, người Việt tại Đức làm thủ tục bảo lãnh người thân hoặc làm cầu nối đưa bà con họ hàng, bạn bè từ Việt Nam sang cư trú, làm ăn. Bên cạnh đó, cộng đồng tiếp tục được bổ sung bởi số người sang theo diện kết hôn, đoàn tụ gia đình, thăm thân, lao động, du học sinh ở lại..., tạo nên một cộng đồng ngày càng đông đảo về số lượng và đa dạng về thành phần. Sau năm 2000, mỗi năm có khoảng vài ngàn sinh viên Việt Nam theo học tại các trường Đại học, cao đẳng tại Đức. Từ năm 2014, mỗi năm có thêm vài trăm sinh viên Việt Nam theo học nghề tại Đức, chủ yếu trong các ngành điều dưỡng viên, nhà hàng khách sạn. Theo các thỏa thuận về đào tạo nghề được ký kết giữa hai nước, nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực tại Đức, dự kiến thời gian tới số lượng học viên học nghề Việt Nam tại Đức sẽ tiếp tục gia tăng.

Thế hệ thứ hai

Thế hệ thứ hai của người Việt tại Đức bao gồm hai bộ phận chủ yếu: con cái được bố mẹ đón sang sau khi nước Đức thống nhất theo chính sách đoàn tụ gia đình, và số được sinh ra tại nước Đức sau thời điểm nói trên. Nhóm thứ nhất lúc mới sang cũng gặp một số khó khăn nhất định về ngôn ngữ và tập quán văn hóa xã hội, tuy nhiên, đa phần đều khắc phục tương đối nhanh và hội nhập tốt, nhiều em đã vươn lên, đạt được những thành tích đáng tự hào cho cộng đồng. Những trẻ em sinh ra tại Đức sau năm 1990 được hưởng những điều kiện thuận lợi hơn so với nhóm thứ nhất, nhờ đó hội nhập gần như hoàn toàn vào xã hội Đức.

II. Cộng đồng người Việt Nam tại Đức ngày nay

1. Số lượng, phân bổ

Theo số liệu của Cơ quan Thống kê Liên bang Đức, tính đến cuối năm 2019, có khoảng 188.000 người Việt tại Đức, trong đó có 99.725 người mang quốc tịch Việt Nam, còn lại là người Đức gốc Việt. Khoảng 116.000 người được xác định là có liên quan trực tiếp đến quá trình di cư.[12] Đại đa số người Việt tại Đức có giấy tờ cư trú ổn định, lâu dài. Số lượng người gia nhập quốc tịch Đức ngày một tăng, chưa kể số trẻ em gốc Việt sinh ra tại Đức và có quốc tịch Đức. Một số người, chủ yếu thuộc thế hệ thứ nhất, mặc dù đủ điều kiện gia nhập quốc tịch Đức nhưng vẫn giữ quốc tịch Việt Nam do nhiều nguyên nhân, trong đó có mong muốn duy trì các mối liên hệ với quê hương, cũng như để thuận tiện cho việc đầu tư, kinh doanh, sở hữu tài sản tại Việt Nam.

Trong số gần 100.000 người mang quốc tịch Việt Nam sinh sống tại Đức, theo quy chế cư trú, có thể chia làm các nhóm sau: (i) có giấy phép cư trú vô thời hạn: khoảng 46%: (ii) có giấy phép cư trú có thời hạn : khoảng 40% (trong đó gần 22% với mục đích đoàn tụ gia đình, 9% với mục đích học tập, 2% với mục đích lao động, 2.7% với mục đích nhân đạo, và trên 4% được hưởng quy chế cư trú đặc biệt); (iii) số còn lại (14%) bao gồm những người đã nộp hồ sơ xin giấy phép cư trú (4.6%), những người không có giấy phép cư trú (8 %), và một số ít được miễn giấy phép cư trú.[13]

Số người Việt đã gia nhập quốc tịch Đức (không tính trẻ em sinh ra đã có quốc tịch Đức) là 43.000 người.[14] Số người mang hai quốc tịch Đức và Việt Nam là khoảng 6000 người.[15]

Theo độ tuổi: Tuổi trung bình của người Việt tại Đức là 34,4 tuổi, cao thứ ba so với các cộng đồng người nhập cư châu Á khác tại Đức. Độ tuổi trung bình của người Việt tại Đức tăng dần qua các năm, cho thấy mức độ hội nhập ngày càng cao của cộng đồng. Số người trong độ tuổi lao động (15-65 tuổi) là 143.000 người, chiếm 76%. Số trẻ em dưới 15 tuổi chiếm trên 20% và số người trên 65 tuổi chiếm tỷ lệ thấp – 3.7% . Tuổi trung bình của người Việt khi đến Đức là 23.2 tuổi.[16]

Theo giới tính: Trên 52% là nữ và 48% là nam.[17]

Theo địa bàn cư trú: Người Việt tập trung đông tại Berlin và các thành phố lớn như Leipzig, Dresden, Erfurt, Magdeburg, Bremen Hamburg, Hanover, Frankfurt am Main, và Munich. Trong tổng số 188.000 người Việt tại Đức, trên 13% sống tại Berlin, gần 16% tại bang Bavaria, gần 13% tại bang Baden – Württemberg, tương tự như vậy ở bang Northrheine-Westphalia; các bang khác có đông người Việt sinh sống là Niedersachsen 10%, Sachsen – 8.5%, Hessen – 6.38%, Rheinland-Pfaz – 5.3%[18]. Như vậy có thể thấy ngoài Berlin và vùng phụ cận, người Việt hiện tập trung đông hơn ở các bang miền Tây nước Đức so với các bang miền Đông.

2. Kinh tế - xã hội

Cộng đồng người Việt nhìn chung hội nhập tốt vào xã hội Đức. Tỷ lệ có việc làm của cộng đồng người Việt cao hơn tỷ lệ trung bình của các động đồng người nhập cư khác tại Đức. Theo Điều tra Dân số của Đức năm 2019, trong số 108.000 người trong độ tuổi lao động, 103.000 người (92.5%) có việc làm, trong đó tự kinh doanh - gần 20%, nhân viên - 32%, lao động phổ thông - 20%; học viên học nghề - 5%. Theo lĩnh vực: sản xuất, xây dựng – 16.5% kinh doanh, nhà nghỉ/khách sạn, vận tải - 55%; các lĩnh vực dịch vụ khác - 27%.[19]

Theo thống kê của Đức, thu nhập trung bình của người Việt tại Đức đạt 1.505 euro/tháng, thấp hơn so với mức trung bình của người Đức và các cộng đồng châu Á khác. Thu nhập bình quân hộ gia đình hàng tháng đạt 2.453 euro, nằm trong nhóm trung bình thấp.[20] Đại đa số người Việt ở Đức có chỗ ở ổn định.[21]

Người Việt đa phần kinh doanh buôn bán, làm thuê, hoặc làm dịch vụ (mở nhà hàng, tiệm nail, tiệm hoa, tiệm tạp hóa...). Tỷ lệ làm việc cho các cơ quan, doanh nghiệp, công sở của Đức trong thế hệ thứ hai ngày càng tăng. Nếu như trước đây, người Việt thường mở nhà hàng bán đồ châu Á nói chung, hoặc bán đồ ăn Việt Nam cùng với đồ Thái Lan, Trung Quốc, thì giờ đây ẩm thực Việt Nam đã trở nên ngày càng phổ biến ở Đức. Món ăn Việt Nam xuất hiện cả ở các nhà hàng sang trọng, các quán ăn nhỏ, tới các quầy bán đồ ăn nhanh tại trung tâm thương mại, các khu chợ, nhà ga... Ước tính có đến 60-70% số tiệm hoa tươi và tiệm nail ở Berlin là do người Việt làm chủ. Theo một thống kê chưa đầy đủ, trên toàn nước Đức có khoảng 10.000 doanh nghiệp của người Việt. Một số doanh nghiệp có quy mô khá lớn, có cơ sở kinh doanh bền vững, đóng góp đáng kể cho địa phương sở tại và đầu tư về trong nước.

Về chính trị, với thời gian hội nhập chưa lâu, thế hệ đầu chủ yếu lo làm ăn, gây dựng cuộc sống, vì vậy người Việt chưa tham gia nhiều vào chính trường Đức. Cho đến nay, người gốc Việt giữ vị trí cao nhất trên chính trường Đức là ông Philip Rösler, Phó Thủ tướng Đức (2011-2013). Một số ít người gốc Việt tham gia vào cơ quan lập pháp và chính quyền các tiểu bang. Thế hệ trẻ ngày nay bắt đầu quan tâm hơn đến chính trị, cùng với sự hội nhập sâu rộng hơn, có thể dự đoán trong tương lai sẽ xuất hiện nhiều hơn các chính trị gia gốc Việt tại Đức.

3. Giáo dục – Văn hóa

Thế hệ thứ hai, thứ ba trong cộng đồng hội nhập tốt, tỷ lệ có việc làm ổn định trong các cơ quan, công sở, doanh nghiệp của Đức ngày càng cao. Con em người Việt theo bố mẹ sang Đức những năm 1990 theo diện đoàn tụ gia đình cũng như các em sinh ra và lớn lên tại Đức, có thành tích học tập rất tốt, thường đứng tốp đầu trong các cơ sở giáo dục, được phía Đức đánh giá là thành công hơn các cộng đồng người nhập cư khác. Tỷ lệ trẻ em người Việt theo học các trường chuyên cấp 3 (Gymnasium – là trường đòi hỏi thành tích học tập cao nhất trong phân loại các trường phổ thông trung học của Đức) là trên 50%, có bang lên đến 75%, cao hơn cả tỷ lệ trung bình của người Đức. Tỷ lệ tốt nghiệp phổ thông là gần 65%, trong đó gần 1/4 thi đỗ Arbitur (để theo học đại học). Tỷ lệ người đã qua giáo dục nghề nghiệp là trên 48% số người tốt nghiệp phổ thông, trong đó trên 20% tốt nghiệp Hàn lâm, 15.5% có bằng đại học, 13.7% có bằng cử nhân, 22.4% có bằng thạc sĩ/chứng chỉ kỳ thi quốc gia.[22]

Trí thức người Việt tại Đức, bên cạnh số du học sinh, nghiên cứu sinh thời kỳ trước khi thống nhất nước Đức, sau này được bổ sung thêm bởi số sinh viên du học ở lại làm việc và con em thế hệ thứ hai, thứ ba, tạo nên một lực lượng chuyên gia, trí thức tương đối đông, có thế mạnh trong các ngành kỹ thuật, công nghệ. Một số người giữ vị trí cao trong các viện nghiên cứu, trường Đại học của Đức. Nhu cầu tập hợp, gắn kết giữa các trí thức người Việt ngày càng cao. Tháng 9/2019, Mạng lưới Đổi mới Sáng tạo Việt Nam được thành lập và tháng 1/2020 chính thức ra mắt pháp nhân, với mục tiêu thu hút rộng rãi các trí thức, doanh nhân người Việt và gốc Việt tham gia đóng góp cho sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam và quan hệ Việt – Đức.

Dạy và học tiếng Việt: Cộng đồng người Việt tại Đức quan tâm đến việc duy trì tiếng Việt cho thế hệ trẻ. Hiện nay tại một số thành phố nơi có đông người Việt sinh sống, các hội đoàn duy trì lớp học tiếng Việt cho con em, với giáo viên người Việt đảm nhiệm trên tinh thần tự nguyện. Các lớp học thường được tổ chức vào cuối tuần, ngoài học tiếng Việt, các em còn được học về văn hóa, truyền thống Việt Nam, tập múa hát, biểu diễn văn nghệ.

Tại một số bang như bang Berlin, Brandenburg và Sachsen, tiếng Việt đã được đưa vào giảng dạy tại một số trường như ngoại ngữ tự chọn và các giáo viên người Việt tham gia giảng dạy được chính quyền bang trả lương theo số giờ đứng lớp. Trong năm học 2018/19 có tổng cộng 10 bang của Đức áp dụng chính sách đưa tiếng mẹ đẻ vào giảng dạy cho trẻ em nhập cư trong các trường phổ thông, trong đó có tiếng Việt dành cho trẻ em gốc Việt. Bên cạnh đó, một số trường Đại học của Đức cũng đã đưa tiếng Việt vào giảng dạy như một ngoại ngữ (Khoa Đông Nam Á thuộc Trường Đại học Tổng hợp Bonn, trường Đại học Tổng hợp Goethe Frankfurt am Mainz, trường Đại học tổng hợp Passau, Trường Đại học tổng hợp Humboldt zu Berlin…). Đặc biệt tại Berlin, dành cho lứa tuổi mầm non có trường Mẫu giáo An der alten Kasstanie sử dụng cả tiếng Đức và tiếng Việt trong giảng dạy cho trẻ em; các giáo viên người Việt được trường tuyển dụng, ký hợp đồng và trả lương.

Tôn giáo: Đa số người Việt tại Đức, dù không là Phật tử chính thức, nhưng hướng theo đạo Phật. Những ngôi chùa kiểu Việt được xây dựng ở nhiều thành phố trên khắp nước Đức là một trong những dấu ấn đáng chú ý nhất cho sự hiện diện của người Việt tại Đức. Các ngôi chùa vừa là nơi sinh hoạt tôn giáo, vừa là nơi sinh hoạt văn hóa và tổ chức các hoạt động cộng đồng. Cộng đồng người theo Thiên chúa giáo có khoảng trên 10.000 người, tập trung đông ở các bang miền Tây. Những hoạt động tôn giáo, văn hóa, lễ hội được tổ chức thường xuyên cho thấy trong quá trình hội nhập, người Việt tại Đức vẫn rất quan tâm và mong muốn duy trì truyền thống văn hóa, tôn giáo của quê hương mình.

4. Hội đoàn, sinh hoạt cộng đồng

Hội đoàn người Việt tại Đức hết sức đa dạng, số lượng đông đảo, hoạt động sôi nổi. Bên cạnh một số không lớn hội đoàn có đăng ký với chính quyền và có tư cách pháp nhân (e.V.) thì đa số hội đoàn của người Việt không đăng ký e.V.. Theo nghiên cứu của Cơ quan Hợp tác Phát triển Đức[23] (GIZ), năm 2014, có khoảng 133 hội đoàn người Việt đã đăng ký hoạt động. Trong khi đó, trên thực tế, ước tính có từ 200 đến 700 hội đoàn của người Việt tại Đức. Nghiên cứu trên cũng đánh giá người Việt có xu hướng tập hợp lại với nhau và tổ chức các hoạt động cộng đồng nhiều hơn so với các cộng đồng người nhập cư khác. Do đặc điểm phân bố rải rác khắp các tiểu bang của Đức, sự đa dạng về thành phần, lý do cư trú tại Đức nên chưa thành lập được một hội thống nhất, đại diện cho toàn thể cộng đồng người Việt tại Đức.[24] Đa số các hội đoàn có quy mô hạn chế về địa lý hay tính chất. Một số Hội, ít nhất là theo tôn chỉ mục đích, có quy mô toàn Liên bang, như Hội Doanh nghiệp Việt Nam tại CHLB Đức, Mạng lưới Đổi mới sáng tạo Việt – Đức (VGI Network), Hội Sinh viên Việt Nam tại CHLB Đức, Hội Cựu chiến binh Việt Nam tại CHLB Đức.

Phổ biến nhất trong số các hội đoàn của người Việt là các hội mang tên „Hội người Việt Nam“ hay „Hội người Việt“, với nhiều cấp độ khác nhau, từ cấp bang, thành phố, thị trấn đến cấp quận, thậm chí khu phố. Một số Hội ra đời sớm, ngay sau khi nước Đức thống nhất, như Hội Diên Hồng (Rostock); một số Hội có số lượng thành viên lớn, duy trì sinh hoạt đều đặn, hiệu quả, có quan hệ chặt chẽ với chính quyền địa phương như Hội người Việt Nam tại các thành phố Leipzig, Dresden, Erfurt, Magdeburg... Một hình thức tập hợp rất phổ biến khác là các Hội đồng hương, tập trung chủ yếu ở khu vực Berlin-Brandenburg và bang Sachsen. Các hội đồng hương lớn có thể kể đến Hội người Hà Nội, các Hội đồng hương Hải Phòng, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Ninh Bình, Nam Định, Bắc Giang, Quảng Nam-Đà Nẵng, Hội đồng hương Vĩnh Phú tại Leipzig... Thậm chí có những hội đồng hương của một xã, huyện cũng có đến vài ngàn thành viên. Ngoài ra còn có các hình thức tập hội đoàn khác như Hội Phụ nữ, Hội khuyến học, các câu lạc bộ văn hóa, nghệ thuật, thể thao, thơ ca...

Có thể nói ở Việt Nam có hình thức hội đoàn nào thì cộng đồng người Việt tại Đức cũng gần như có hình thức tương ứng. Các hội đoàn đã xây dựng không gian sinh hoạt cộng đồng quan trọng, góp phần giúp người Việt tại Đức gắn bó, giúp đỡ lẫn nhau, đặc biệt trong giai đoạn đầu ở lại lập nghiệp trên nước Đức, cũng như duy trì sự kết nối về tinh thần với quê hương Việt Nam. Thông qua các hoạt động đóng góp cho sở tại cả về vật chất cũng như đa dạng văn hóa, các hội đoàn đã giúp thắt chặt thêm sự gắn kết và thiện cảm của chính quyền và người dân Đức với cộng đồng người Việt Nam.

III. Cộng đồng người Việt Nam tại Đức hướng về đất nước và đóng góp tích cực cho quan hệ Việt – Đức

Dù sống xa quê hương nhưng cộng đồng người Việt Nam tại Đức luôn hướng về đất nước, nỗ lực đóng góp cho sự phát triển của Việt Nam bằng những hoạt động thiết thực. Bà con có nhu cầu rất lớn được về thăm quê hương, duy trì các mối quan hệ gắn bó với gia đình, bạn bè, gìn giữ tiếng Việt và văn hóa Việt Nam cho thế hệ thứ hai, thứ ba. Nhiều doanh nghiệp thành đạt trong cộng đồng đã đầu tư về trong nước, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, tạo công ăn việc làm cho người lao động. Hàng năm, các hoạt động dành cho kiều bào do các cơ quan, địa phương trong nước tổ chức được bà con người Việt tại Đức hưởng ứng rất nhiệt tình, đặc biệt là các chương trình Xuân Quê hương, đoàn kiều bào thăm Trường Sa, Trại hè thanh thiếu niên Việt Nam ở nước ngoài… Bà con cũng thường xuyên có các hoạt động cụ thể, thiết thực giúp đỡ đồng bào trong nước có hoàn cảnh khó khăn, bị ảnh hưởng bởi thiên tai lũ lụt, ủng hộ sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển đảo, tặng học bổng cho các học sinh nghèo có thành tích học tập tốt…

Vai trò của cộng đồng người Việt tại Đức trong việc thúc đẩy quan hệ hữu nghị Việt – Đức luôn được Lãnh đạo, Chính phủ hai nước đánh giá cao. Chương trình các chuyến thăm Đức của Lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước ta đều có hoạt động gặp mặt cộng đồng. Cộng đồng người Việt tại Đức cũng luôn có dại diện tham gia các Hội nghị người Việt Nam ở nước ngoài, các chương trình Lãnh đạo Đảng, Nhà nước gặp mặt kiều bào được tổ chức tại Việt Nam. Về phía Đức, Trong cuộc hội đàm với Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tại Hamburg tháng 7/2017, Thủ tướng Đức Angela Merkel đã đánh giá cao cộng đồng người Việt Nam tại Đức, một cộng đồng đầy tiềm năng, sáng tạo, có những đóng góp tích cực vào sự đa dạng văn hóa và thịnh vượng chung của Đức; nhấn mạnh tầm quan trọng của cộng đồng trong vai trò cầu nối hữu nghị giữa hai dân tộc. Trong một cuộc trả lời phỏng vấn của TTXVN năm 2016, Phó Chủ tịch Quốc hội Đức Edelgard Bulmahn cho rằng Việt Nam và Đức có nguồn tài sản rất lớn và đặc biệt, đó là việc có trên 100.000 người Việt từng học tập và làm việc ở Đức hiện đang sống ở Việt Nam. Chính lực lượng am tường về nước Đức và văn hóa Đức này đã và đang là cầu nối, góp phần quan trọng vào sự phát triển thành công mối quan hệ song phương hiện nay cũng như trong thời gian tới. Còn Tổng thống Frank-Walter Steinmeier cho rằng Việt Nam và Đức không chỉ có quan hệ rất tốt đẹp về chính trị và kinh tế, mà còn có tình hữu nghị sâu sắc và chân thành. Hơn thế, Đức và Việt Nam còn rất gần gũi bởi có một số lượng lớn người Việt đã và hiện đang sinh sống tại Đức. Chính những điều đó tạo nên một cây cầu hết sức quan trọng kết nối giữa hai nước. Để có được sự tin tưởng, đánh giá cao như vậy chính là nhờ các thế hệ người Việt ở Đức – đã luôn luôn vun đắp cho mối quan hệ giữa hai dân tộc Việt Nam - Đức ngày càng thêm bền chặt.

Đặc biệt, thời gian qua, trong bối cảnh đại dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, mặc dù gặp rất nhiều khó khăn trong công việc làm ăn cũng như trong cuộc sống, nhưng bà con người Việt tại Đức đã tích cực phát động và hưởng ứng các phong trào chung tay hỗ trợ công tác phòng, chống dịch ở cả hai nước. Bà con đã quyên góp tiền, tặng máy thở, phòng cách ly áp lực âm, trang thiết bị y tế để gửi về trong nước, cũng như tiếp tục triển khai các chương trình thiện nguyện giúp đỡ các hoàn cảnh khó khăn tại Việt Nam. Tại Đức, các phong trào chung tay cùng chính quyền và người dân Đức trong phòng chống dịch Covid-19 đã được đông đảo người Việt tại Đức hưởng ứng rất sôi nổi. Hàng trăm nghìn khẩu trang, nhiều trang thiết bị, đồ bảo hộ y tế, hàng nghìn suất ăn… đã được gửi đến các cơ quan, tổ chức, bệnh viện, trường học, nhà dưỡng lão tại nhiều địa phương của Đức. Đây là sự động viên tinh thần to lớn đối với những người đang trực tiếp tham gia phòng chống dịch, được các cấp chính quyền và người dân Đức hết sức cảm kích và trân trọng. Đồng thời, những hoạt động này cũng thể hiện một cách sinh động tinh thần đoàn kết, tri ân của cộng đồng người Việt Nam với nước Đức, quê hương thứ hai của mình, là biểu hiện tốt đẹp của quan hệ hữu nghị và truyền thống giữa nhân dân hai nước, đặc biệt trong bối cảnh kỷ niệm 45 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Đức.

Đại sứ quán Việt Nam tại CHLB Đức


[1] Elsner, Eva-Maria và Lothar Elsner (1992). Ausländer und Ausländerpolitik in der DDR. Hefte zur DDR-Geschichte. Band 2, Berlin: Helle Panke e.V. (trích từ Nghiên cứu của GIZ (2014). The Vietnamese Diaspora in Germany, tr.8)

[2] Waldherr, Georg (2004): ‘Die Preußen Asiens’, article in business journal Brandeins: http://www.brandeins.de/archiv/2004/leitbilder/die-preussen-asiens/, last accessed 6 May 2015. (trích từ Nghiên cứu của GIZ (2014), đã dẫn, tr.8).

[3] Spennemann, Nozomi (1997): Aufbauhelfer für eine bessere Zukunft. Die Vietnamesischen Vertragsarbeiter in der ehemaligen DDR, in: Tamara Henschel et al. (eds.): Zweimal Angekommen Und Doch Nicht Zu Hause. Vietnamesische Vertragsarbeiter in Den Neuen Bundesländern, Reistrommel e.V., Berlin, pp. 8–20 (German only) (GIZ (2014), đã dẫn, tr.9)

[4] GIZ (2014), đã dẫn, tr.9

[5] Weiss, Karin and Dietrich Thränhardt (2005): Selbsthilfe. Wie Migranten Netzwerke knüpfen und soziales Kapital schaffen, Freiburg (German only). (GIZ (2014), đã dẫn, tr.9)

[6] TS. Nguyễn Sỹ Phương. Cộng đồng người Việt Nam tại Đức.

[8] Beuchling, Olaf (2003): ‘Vom Bootsflüchtling zum Bundesbürger. Migration, Integration und schulischer Erfolg in einer vietnamesischen Exilgemeinschaft’, Münster, New York (GIZ (2014), đã dẫn, tr.8)

[9] Wolf, Bernd (2007): ‘The Vietnamese Diaspora in Germany. Structure and Potentials for Cooperation with a Focus on Berlin and Hesse’, Frankfurt, GTZ. (GIZ (2014), đã dẫn, tr.9)

[10] Trong 34.000 người đã về nước, một số sau này đã quay trở lại Đức bằng nhiều cách khác nhau.

[11] Wolf, Bernd (2007): ‘The Vietnamese Diaspora in Germany. Structure and Potentials for Cooperation with a Focus on Berlin and Hesse’, Frankfurt, GTZ. (GIZ (2014), đã dẫn, tr.10).

[12] Cơ quan Thống kê Liên bang Đức. Dân số có nguồn gốc di cư – Điều tra dân số năm 2019.

[13] Cơ quan Thống kê Liên bang Đức. Dân số nước ngoài tại Đức – Điều tra dân số năm 2019, tr.136

[14] Cơ quan Thống kê Liên bang Đức. Dân số có nguồn gốc di cư – Điều tra dân số năm 2019, tr.175

[15] Đã dẫn, tr.173

[16] Đã dẫn, tr.72-79

[17] Đã dẫn, tr.86

[18] Đã dẫn, tr.137-139

[19] Đã dẫn, tr. 410

[20] Đã dẫn, tr. 414

[21] Đã dẫn, tr. 257

[22] Đã dẫn, tr.185-188, tr. 211-218

[23] GIZ (2014). The Vietnamese Diaspora in Germany, tr.18

[24] Liên hiệp người Việt tại Đức được thành lập năm 2014, do hoạt động không hiệu quả, đã giải thể năm 2018.

Về trang trước

Chủ đề:

Bình luận và đánh giá
Gửi nhận xét đánh giá

Luật Pháp

Chuyên đề thuế: Những vấn đề thuế vụ thường kiểm tra đối với doanh nghiệp thuê người nhà – PHẦN II

23/10/2026

(Đại sứ TS Nguyễn Minh Vũ tiếp Tổng thống Đức Frank-Walter Steinmeier)   Cộng đồng người Việt Nam tại Đức bắt đầu hình thành và phát triển từ những năm 1950, trải qua gần bảy thập kỷ, cho đến

Người Việt ở Đức cần biết: Đức phân hạng thang bậc thu nhập giàu nghèo

20/10/2026

(Đại sứ TS Nguyễn Minh Vũ tiếp Tổng thống Đức Frank-Walter Steinmeier)   Cộng đồng người Việt Nam tại Đức bắt đầu hình thành và phát triển từ những năm 1950, trải qua gần bảy thập kỷ, cho đến

Chuyên đề thuế: Những vấn đề thuế vụ thường kiểm tra đối với doanh nghiệp thuê người nhà – PHẦN I

19/10/2026

(Đại sứ TS Nguyễn Minh Vũ tiếp Tổng thống Đức Frank-Walter Steinmeier)   Cộng đồng người Việt Nam tại Đức bắt đầu hình thành và phát triển từ những năm 1950, trải qua gần bảy thập kỷ, cho đến

Nhập cư

Người Việt vào EU tị nạn cần biết: Những thay đổi về Luật tỵ nạn 2026 – Phần II Trung tâm nhập cư thứ cấp; Tìm việc nhanh hơn; Quốc gia xuất xứ an toàn; Người tị nạn đang ở Đức

14/03/2026

(Đại sứ TS Nguyễn Minh Vũ tiếp Tổng thống Đức Frank-Walter Steinmeier)   Cộng đồng người Việt Nam tại Đức bắt đầu hình thành và phát triển từ những năm 1950, trải qua gần bảy thập kỷ, cho đến

Gần 2/3 tổng số vụ trục xuất người vào Đức xin tỵ nạn thất bại; Không đủ sống, 1/3 công dân EU làm việc tại Đức muốn hồi hương

09/03/2026

(Đại sứ TS Nguyễn Minh Vũ tiếp Tổng thống Đức Frank-Walter Steinmeier)   Cộng đồng người Việt Nam tại Đức bắt đầu hình thành và phát triển từ những năm 1950, trải qua gần bảy thập kỷ, cho đến

Tòa xử tranh chấp họ tộc gốc Thổ Nhĩ Kỳ gây chết người ở Hamburg; Mở rộng điều tra hối lộ trong Sở Ngoại kiều ở Nordrhein-Westfalen

15/02/2026

(Đại sứ TS Nguyễn Minh Vũ tiếp Tổng thống Đức Frank-Walter Steinmeier)   Cộng đồng người Việt Nam tại Đức bắt đầu hình thành và phát triển từ những năm 1950, trải qua gần bảy thập kỷ, cho đến

Người Việt ở Đức

Phụ nữ Việt Nam tại Đức giữ gìn, lan tỏa bản sắc văn hoá dân tộc; Người Việt ở Đức cần biết: Biểu tình được đăng ký tại nhiều thành phố Đức vào thứ 7, 31.10

22/10/2026

(Đại sứ TS Nguyễn Minh Vũ tiếp Tổng thống Đức Frank-Walter Steinmeier)   Cộng đồng người Việt Nam tại Đức bắt đầu hình thành và phát triển từ những năm 1950, trải qua gần bảy thập kỷ, cho đến

Trang mạng cộng đồng người Việt Nam tại Đức kêu gọi tìm nam học sinh mất tích; Nhập quốc tịch cần biết: Kỷ lục chờ xét duyệt ở Dresden Sachsen

18/10/2026

(Đại sứ TS Nguyễn Minh Vũ tiếp Tổng thống Đức Frank-Walter Steinmeier)   Cộng đồng người Việt Nam tại Đức bắt đầu hình thành và phát triển từ những năm 1950, trải qua gần bảy thập kỷ, cho đến

Kinh doanh tại Đức cần biết: Hai loại Hóa đơn điện tử B2B và B2C với những quy định mới – Phần I

17/10/2026

(Đại sứ TS Nguyễn Minh Vũ tiếp Tổng thống Đức Frank-Walter Steinmeier)   Cộng đồng người Việt Nam tại Đức bắt đầu hình thành và phát triển từ những năm 1950, trải qua gần bảy thập kỷ, cho đến

Chính trị - Xã hội

Đức: Xây nhà máy gỗ tại Gia Lai; Triển vọng gia nhập EU của Montenegro; Posche “bốc hơi” 93% lợi nhuận; Lợi suất trái phiếu giảm; Tăng trưởng kinh doanh chậm lại

23/10/2026

(Đại sứ TS Nguyễn Minh Vũ tiếp Tổng thống Đức Frank-Walter Steinmeier)   Cộng đồng người Việt Nam tại Đức bắt đầu hình thành và phát triển từ những năm 1950, trải qua gần bảy thập kỷ, cho đến

Đức: Thủ tướng đáp trả xung đột Ukraine; Lãi suất vay mua nhà cao nhất; Vụ nổ Nord Stream; HUTECH và Leibniz University Hannover hợp tác; Tìm động lực tăng trưởng kinh tế

22/10/2026

(Đại sứ TS Nguyễn Minh Vũ tiếp Tổng thống Đức Frank-Walter Steinmeier)   Cộng đồng người Việt Nam tại Đức bắt đầu hình thành và phát triển từ những năm 1950, trải qua gần bảy thập kỷ, cho đến

Đức: Cú sốc năng lượng mới; Hợp tác AI với Nvidia, Amazon; Thu hút đầu tư 225 tỷ euro; Google bị tòa án phán quyết; Giá năng lượng tăng gây sức ép kinh tế

21/10/2026

(Đại sứ TS Nguyễn Minh Vũ tiếp Tổng thống Đức Frank-Walter Steinmeier)   Cộng đồng người Việt Nam tại Đức bắt đầu hình thành và phát triển từ những năm 1950, trải qua gần bảy thập kỷ, cho đến

Lên đầu trang