- Tư vấn
.jpg)
Bộ Tài chính vừa trả lời bạn đọc liên quan đến việc xác định các khoản tiền đã nộp khi làm sổ đỏ với trường hợp đất giao trái thẩm quyền.
Theo phản ánh trên Cổng thông tin Bộ Tài chính, tại khoản 5 Điều 12 Nghị định số 103/2024/NĐ-CP quy định các loại giấy tờ chứng minh việc đã nộp tiền cho cơ quan, tổ chức để được sử dụng đất khi tính tiền sử dụng đất.
Trong đó bao gồm biên lai, phiếu thu, hóa đơn thu tiền của cơ quan, tổ chức đã giao đất không đúng thẩm quyền.
Bạn đọc đề nghị làm rõ khái niệm "tổ chức" tại khoản 5 Điều 12 Nghị định số 103/2024/NĐ-CP được hiểu như thế nào?
Đồng thời hỏi trường hợp thôn, làng hoặc các tổ chức cộng đồng dân cư trước đây thực hiện việc giao đất cho người dân và thu tiền để xây dựng cơ sở hạ tầng tại địa phương thì có được xem là "tổ chức" theo quy định này hay không?
Bên cạnh đó, bạn đọc cũng nêu trường hợp các giấy tờ chứng minh việc nộp tiền không bảo đảm đầy đủ về hình thức theo quy định, như giấy biên nhận, chứng từ có đóng dấu treo, chứng từ không có dấu hoặc các loại giấy tờ tương tự.
Theo đó, nếu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác minh thực tế đã xảy ra việc giao đất trái thẩm quyền và có việc thu tiền của người sử dụng đất thì các khoản tiền đã nộp có được xem xét đối trừ khi xác định nghĩa vụ tài chính về đất đai hay không?
Trả lời nội dung này, Bộ Tài chính cho biết, Điều 140 Luật Đất đai năm 2024 quy định việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất được giao không đúng thẩm quyền nhưng có giấy tờ chứng minh đã nộp tiền để được sử dụng đất.
Căn cứ Điều 140 Luật Đất đai năm 2024, Điều 12 Nghị định số 103/2024/NĐ-CP ngày 30.07.2024 của Chính phủ quy định về tính tiền sử dụng đất khi cấp giấy chứng nhận đối với các trường hợp đang sử dụng đất được giao không đúng thẩm quyền.
Trong đó, khoản 5 Điều 12 quy định cụ thể về giấy tờ chứng minh việc đã nộp tiền cho cơ quan, tổ chức để được sử dụng đất khi tính tiền sử dụng đất.
Bộ Tài chính cũng cho biết, Điều 44 và Điều 48 Nghị định số 103/2024/NĐ-CP ngày 30.07.2024, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 17 Điều 1 Nghị định số 291/2025/NĐ-CP ngày 06.11.2025 và khoản 21, khoản 22 Điều 13 Nghị định số 50/2026/NĐ-CP ngày 31.01.2026, đã quy định cụ thể trách nhiệm của UBND các cấp và các cơ quan chức năng của địa phương, gồm cơ quan có chức năng quản lý đất đai, văn phòng đăng ký đất đai, cơ quan thuế... trong việc xác định, thu nộp tiền sử dụng đất.
(Xem tiếp tại đường Link =>https://share.google/XGDL7Qx7yvy6rDN9g
Sinh sống ổn định trên mảnh đất đã mua gần nửa thế kỷ, xây dựng nhiều công trình và không xảy ra tranh chấp, song người phụ nữ vẫn mất đất, mất nhà vì không đăng ký quyền sử dụng đất.
Câu chuyện được Luật sư Trần Viết Hà (Đoàn Luật sư tỉnh Đắk Lắk) chia sẻ sau khi kết thúc phiên tòa phúc thẩm mới đây như một bài học pháp lý đắt giá đối với những người đang quản lý, sử dụng đất nhưng chưa thực hiện đăng ký, kê khai quyền sử dụng đất theo quy định.
Theo hồ sơ vụ việc, bà A. (Đắk Lắk) mua một mảnh đất của gia đình ông B. và chuyển đến sinh sống ổn định từ năm 1976. Tuy nhiên, trong suốt quá trình sử dụng, người phụ nữ không thực hiện các thủ tục kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất.
Khi đó, bà nghĩ rằng mảnh đất mình mua hợp pháp, gia đình đã dọn đến sinh sống ổn định nên đương nhiên là tài sản của mình, không cần thiết phải làm thủ tục sang tên hoặc điều chỉnh thông tin trên giấy tờ đất đai.
Đến năm 1996, con trai của chủ đất cũ đã kê khai, đăng ký và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với khu đất, bao gồm cả phần diện tích gia đình bà B. đang sinh sống.
"Người phụ nữ không hề hay biết chuyện con trai chủ cũ đã làm sổ đỏ. Đến năm 2007, khi vợ chồng con trai chủ đất cũ ly hôn và tiến hành rà soát lại hồ sơ, giấy tờ liên quan đến tài sản mới phát hiện phần đất bà B. đang sử dụng nằm trong diện tích đã được cấp sổ. Bà A. được mời tham dự phiên tòa ly hôn, lúc này người phụ nữ mới biết chuyện đất của mình đang nằm trong sổ đỏ của người khác", luật sư chia sẻ.
Tham gia bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà A. tại phiên tòa phúc thẩm, luật sư Hà đưa ra nhiều căn cứ chứng minh quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho con trai chủ đất cũ tồn tại nhiều vấn đề.
Dẫn quy định của Luật Đất đai năm 1993, luật sư cho biết giấy chứng nhận thì cấp cho người sử dụng đất. Trong khi đó, con trai ông B. không trực tiếp quản lý, sử dụng hay sinh sống trên thửa đất.
"Một người không trực tiếp sử dụng đất, không sinh sống trên đất trong suốt thời gian dài thì có thuộc đối tượng được xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất đó hay không?", luật sư đặt vấn đề tại tòa.
Một căn cứ khác luật sư đưa ra đó là quy định về hạn mức giao đất theo Nghị định 85/1999/NĐ-CP. Theo luật sư, đối chiếu với các quy định có hiệu lực tại thời điểm cấp giấy chứng nhận, hạn mức tối đa được cấp chỉ 3ha. Tuy nhiên, hộ gia đình con trai ông B. lại được cấp giấy chứng nhận với diện tích lên tới 16ha, vượt xa hạn mức theo quy định.
Ngoài ra, luật sư cũng dẫn quy định tại khoản 2, mục 1, chương 3, thông tư 1990/2001/TT-TCĐC về thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu. Theo đó, hồ sơ phải có các tài liệu liên quan đến đo đạc và xác nhận ranh giới với các hộ liền kề. Tuy nhiên, bộ hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của con trai ông B. không có các tài liệu này.
Đáng chú ý, tại tòa, luật sư còn viện dẫn Điều 236 Bộ luật Dân sự năm 2015 về việc xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu đối với tài sản.
"Người phụ nữ ở trên đất 50 năm, nửa đời người, không ai đuổi đi, thậm chí gia đình còn xây dựng nhiều công trình trên đất mà không phát sinh tranh chấp. Dù đã đưa ra nhiều căn cứ như vậy nhưng vẫn thua án phúc thẩm", luật sư chia sẻ.
Theo luật sư, hành trình tìm kiếm công lý cho gia đình bà A. vẫn tiếp tục với niềm tin công lý có thể đến muộn nhưng không phải không có.
Luật sư khuyến cáo người dân đang quản lý, sử dụng đất nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cần nhanh chóng thực hiện thủ tục đo đạc, kê khai và đăng ký theo quy định.
(Xem tiếp tại đường Link =>https://share.google/G9Ubz7Onv62iIQEpe
Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, việc tách thửa đất phải đáp ứng các điều kiện theo quy định.
Trên Cổng thông tin Chính phủ, công dân H.T.P (Lâm Đồng) thắc mắc:
"Tôi có 6.500 m2 đất trồng cây lâu năm, tiếp giáp đường 50 m. Năm 2006, bà đã bán cho chủ sử dụng đất phía sau thửa đất của bà 2.500 m2, mặt đường tiếp giáp 2,5 m.
Nay tôi muốn tách phần đất đó ra cho người mua, vậy có được không? Với thửa đất tách ra, diện tích và tiếp giáp mặt đường có đủ điều kiện không, quy trình thực hiện căn cứ điều khoản nào?".
Bộ Nông nghiệp và Môi trường trả lời vấn đề này như sau:
Nội dung phản ánh của bà là vụ việc cụ thể thuộc thẩm quyền giải quyết của địa phương và cần căn cứ vào hồ sơ lưu trữ, các quy định cụ thể địa phương đã ban hành theo thẩm quyền để thi hành Luật Đất đai để xem xét, giải quyết; do đó, Bộ không có cơ sở để trả lời. Bộ Nông Nghiệp và Môi trường xin nêu một số nguyên tắc như sau:
Tại Điều 220 Luật Đất đai quy định việc tách thửa đất, hợp thửa đất. Theo đó, tại khoản 4 Điều 220 Luật Đất đai quy định UBND cấp tỉnh căn cứ quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này, quy định khác của pháp luật có liên quan và phong tục, tập quán tại địa phương để quy định cụ thể điều kiện, diện tích tối thiểu của việc tách thửa đất, hợp thửa đất đối với từng loại đất.
Tại khoản 3 Điều 11 Nghị quyết số 254/2025/QH15 ngày 11.12.2025 của Quốc hội quy định việc tách thửa đất, hợp thửa đất quy định tại điểm d khoản 1 Điều 220 của Luật Đất đai phải bảo đảm có lối đi kết nối với đường giao thông công cộng hoặc được người sử dụng đất liền kề đồng ý cho đi qua để kết nối với đường giao thông công cộng.
Trường hợp người sử dụng đất dành một phần diện tích của thửa đất ở hoặc thửa đất có đất ở và đất khác trong cùng thửa đất để làm lối đi, khi thực hiện việc tách thửa đất hoặc hợp thửa đất thì không bắt buộc thực hiện chuyển mục đích sử dụng đất đối với phần diện tích đất để làm lối đi đó.
Trường hợp chuyển mục đích sử dụng một phần thửa đất thì không bắt buộc thực hiện tách thửa. Việc hợp các thửa đất không bắt buộc cùng mục đích sử dụng đất, cùng hình thức trả tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, cùng thời hạn sử dụng đất.
Trường hợp phân chia quyền sử dụng đất theo bản án, quyết định của Tòa án mà việc phân chia không bảo đảm các điều kiện, diện tích, kích thước tách thửa theo quy định tại Điều 220 của Luật Đất đai thì không thực hiện tách thửa, trừ trường hợp bản án, quyết định của tòa án có hiệu lực thi hành trước ngày 1.8.2024.
(Xem tiếp tại đường Link =>https://share.google/ISoko2INEhkTGqYwv
Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) bổ sung thêm 5 trường hợp không được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang lấy ý kiến góp ý dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi). Trong đó, cơ quan này đề xuất nâng từ 4 lên 9 nhóm trường hợp không được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất.
Trường hợp thứ nhất, đất được Nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất, trừ trường hợp đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân được bồi thường về đất.
Thứ hai, đất được Nhà nước giao cho tổ chức thuộc diện phải nộp tiền sử dụng đất nhưng được miễn khoản tiền này cũng được đề xuất không thuộc diện bồi thường khi Nhà nước thu hồi.
Thứ ba, đất được Nhà nước cho thuê trả tiền thuê đất hàng năm; đất thuê trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê nhưng được miễn tiền thuê đất, trừ trường hợp hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất phi nông nghiệp không phải là đất ở được Nhà nước bồi thường về đất.
Thứ tư, đất thuộc quỹ đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích do UBND cấp xã cho thuê cũng được đề xuất không bồi thường khi bị thu hồi.
Thứ năm, đất nhận khoán để sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản hoặc làm muối không thuộc diện được bồi thường về đất.
Thứ sáu, phần diện tích đất nông nghiệp được Nhà nước giao vượt quá hạn mức theo quy định cũng sẽ không được bồi thường.
Thứ bảy, đất do cơ quan, tổ chức của Nhà nước quản lý được tiếp tục đề xuất là một trong các trường hợp không được bồi thường khi thu hồi.
Thứ tám, đất thu hồi do vi phạm pháp luật về đất đai; do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật; do người sử dụng đất giảm hoặc không còn nhu cầu sử dụng đất và tự nguyện trả lại đất theo quy định của Luật này.
Thứ chín, dự thảo bổ sung quy định mở, giao Chính phủ quy định thêm các trường hợp khác không được bồi thường về đất nếu phát sinh trong quá trình thực thi.
Theo cơ quan soạn thảo, việc bổ sung và phân loại chi tiết các trường hợp không được bồi thường nhằm tạo cơ sở pháp lý rõ ràng hơn trong quá trình thu hồi đất, đồng thời bảo đảm việc áp dụng thống nhất trên thực tế.
(Xem tiếp tại đường Link =>https://share.google/kCMSXPudsALUCfior
Nguồn: Lao Động; Dân Trí
Cấp sổ đỏ cho đất hợp tác xã; Xác định nguồn gốc đất ở với nhà do chủ cũ xây; Thu hồi, chuyển mục đích sử dụng rừng tại dự án; Cấp thẻ căn cước vô thời hạn
Xác minh giao dịch mua bán vàng; Điều kiện chuyển đất nông nghiệp sang đất ở; Cấp chứng nhận đất mua bằng giấy viết tay; Phong tỏa tài khoản ngân hàng; 5 thay đổi lớn về sổ đỏ
Xử phạt quá hạn thông báo doanh thu, tài khoản ngân hàng; Sân bay Nội Bài thông báo mới; Cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Quy định bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
Mua, bán hàng hóa với nước ngoài phải xác thực định danh điện tử; Thủ tục cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Sửa Luật Đầu tư; Bảo hiểm xã hội thông báo
Khai thuế khi cho thuê nhà; Lưu ý thuế với cá nhân, hộ kinh doanh; Tiến độ GPMB dự án 6 tỷ USD; Giải đáp vướng mắc tiền sử dụng đất; Xây nhà lệch vị trí đất trên sổ đỏ
Mua đất sang tên phát hiện thiếu 900m2; Thông tin quan trọng với doanh nghiệp; Hoàn thiện thể chế đất đai; Đất khai hoang được cấp sổ đỏ; Hạn chế quyền sử dụng đất
Xác định ranh giới thửa đất; Cấp sổ đỏ đất quy hoạch; Chuyển mục đích sử dụng đất giá 0 đồng; Chuyển đất trồng cây lâu năm sang đất ở; Không làm thủ tục này bị xử phạt
Cấp sổ đỏ khi hàng xóm không ký giáp ranh; Trường hợp thu hồi thẻ căn cước; Trẻ dưới 6 tuổi được cấp Căn cước; Thay đổi cấp thẻ căn cước; Hủy giao dịch sau cảnh báo gian lận
Bình luận và đánh giá
Gửi nhận xét đánh giá