- Thời sự
.jpg)
Chương trình “Trà hài hòa thế giới” Nhã Tập 2026 và giới thiệu văn hóa, du lịch “Gặp gỡ Quảng Tây (Bách Sắc)” không chỉ là nhịp cầu nối kết văn hóa mà còn góp phần thúc đẩy quảng bá, tăng lượng khách du lịch giữa Việt Nam - Trung Quốc.
Chương trình do Sở Văn hóa và Du lịch Khu tự trị dân tộc Choang (Quảng Tây, Trung Quốc) phối hợp Trung tâm Văn hóa Trung Quốc tại Hà Nội tổ chức ngày 14/5.
Trung tâm Văn hóa Trung Quốc tại Hà Nội cùng đoàn đại biểu văn hóa - du lịch Quảng Tây (Bách Sắc) mang đến Hà Nội những nét đặc sắc của văn hóa dân tộc Choang, các điểm đến lịch sử cách mạng và hương trà sinh thái chất lượng cao của Trung Quốc; đặc biệt thiết kế bốn không gian trải nghiệm gồm: “Khu giao lưu trà vận”, “Khu trải nghiệm di sản văn hóa phi vật thể”, “Khu trưng bày văn hóa - du lịch” và “Khu thưởng thức hương vị Quảng Tây”.
Chia sẻ tại sự kiện, Tham tán Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam Hình Cửu Cường cho hay, Quảng Tây có núi sông hùng vĩ, cảnh sắc tươi đẹp, phong tục dân gian phong phú và nền văn hóa đa dạng; là cửa ngõ tiền tiêu trong giao lưu hợp tác giữa Trung Quốc và Việt Nam, đồng thời cũng là cầu nối quan trọng thúc đẩy giao lưu mở cửa giữa Trung Quốc và ASEAN. Đặc biệt, đây còn là vùng đất đỏ lưu giữ dấu chân cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh...
Thống kê của Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam cho thấy, Trung Quốc là một trong những thị trường khách du lịch lớn nhất đến Việt Nam. Năm 2025, hơn 5,28 triệu lượt khách Trung Quốc đại lục đã đến Việt Nam, chiếm 25% tổng thị phần khách quốc tế. Trong 4 tháng đầu năm 2026, Việt Nam đón hơn 1,85 triệu lượt khách Trung Quốc đại lục (trên tổng 8,8 triệu lượt khách quốc tế).
Phó Chủ tịch Hiệp hội Du lịch Hà Nội Nguyễn Tiến Đạt cho biết, so với các quốc gia Đông Nam Á như: Singapore, Malaysia, Thái Lan, Việt Nam có lợi thế gần Trung Quốc nhất. Do đó, khách nhập cảnh giữa hai quốc gia ngoài đường bay và biển còn có đường bộ, vừa thuận tiện vừa ít tốn chi phí.
Phó Tổng Giám đốc Công ty Du lịch Việt Phạm Anh Vũ thông tin thêm, tại Việt Nam, khách Trung Quốc chủ yếu đến các điểm có biển và nhiều khu nghỉ cao cấp như: Đà Nẵng, Nha Trang Phú Quốc. Bên cạnh đó, các tour khám phá văn hóa, lịch sử Việt Nam tại Hà Nội, Huế cũng thu hút rất đông khách Trung Quốc.
Ở cấp độ địa phương, theo Phó Giám đốc Sở Du lịch Hà Nội Nguyễn Trần Quang, năm 2025, Thủ đô đón 601.658 lượt khách du lịch Trung Quốc, tăng 33,6% so với năm trước, chiếm khoảng 11% tổng lượng khách quốc tế đến Hà Nội. 4 tháng đầu năm 2026, lượng khách Trung Quốc đến Hà Nội đạt 272.559 lượt khách, tăng 59% so với cùng kỳ năm trước.
Những con số tích cực này cho thấy dư địa hợp tác và trao đổi khách du lịch giữa Hà Nội nói riêng và Việt Nam nói chung với các địa phương của Trung Quốc còn rất lớn; đồng thời khẳng định sự hấp dẫn của các điểm đến Việt Nam đối với du khách Trung Quốc cũng như sự phục hồi mạnh mẽ của hoạt động giao lưu du lịch giữa hai nước.
“Năm hợp tác du lịch Việt Nam - Trung Quốc 2026 - 2027” là dấu mốc quan trọng, mở ra nhiều cơ hội mới cho ngành du lịch hai nước nói chung và cho các địa phương nói riêng trong việc thúc đẩy hợp tác toàn diện, hiệu quả và bền vững hơn.
Trên cơ sở đó, Sở Du lịch Hà Nội, Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam mong muốn tiếp tục tăng cường hợp tác với các cơ quan, đơn vị và địa phương của Trung Quốc, đặc biệt là thành phố Bách Sắc, trong các hoạt động quảng bá xúc tiến du lịch, trao đổi thông tin thị trường, kết nối doanh nghiệp lữ hành, phát triển sản phẩm du lịch và tổ chức các chương trình giao lưu văn hóa, du lịch giữa hai bên.
Trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin, thị trường lao động đang có sự chuyển dịch nhanh chóng và đứng trước nhiều thách thức, cùng với sự ra đời của trí tuệ nhân tạo (AI) đòi hỏi người lao động không ngừng nâng cao và thích nghi, nếu không muốn bị đào thải. Xung quanh vấn đề này phóng viên Thời báo Ngân hàng có cuộc trao đổi với bà Quyên Nguyễn, Giám đốc Giám đốc Công ty tư vấn chuỗi cung ứng CEL Consulting.
Hiện nay, lợi thế sản xuất của Việt Nam đang bước vào một giai đoạn thử thách mới, thể hiện khá rõ qua sự chuyển dịch của thị trường lao động. Vậy, vấn đề nằm ở tốc độ thích ứng của hệ thống đào tạo và tuyển dụng?
Trong hơn một thập kỷ qua, dòng vốn đầu tư dịch chuyển, chi phí cạnh tranh và vị trí chiến lược trong chuỗi cung ứng toàn cầu đã giúp Việt Nam nổi lên như một điểm đến sản xuất quan trọng của khu vực. Nhưng trong giai đoạn tiếp theo, lợi thế đó nhiều khả năng sẽ không còn được quyết định chủ yếu bởi chi phí lao động hay vị trí địa lý. Vì vậy, năng lực chuẩn bị lực lượng lao động cho môi trường sản xuất tích hợp AI mới có thể trở thành yếu tố phân định.
Nghiên cứu của Stanford Digital Economy Lab năm 2025 cho thấy tại các ngành chịu tác động mạnh của AI, việc làm tương đối của nhóm lao động mới gia nhập thị trường ghi nhận xu hướng suy giảm 13%, trong khi nhóm lao động giàu kinh nghiệm ít bị ảnh hưởng hơn. Dữ liệu này gợi mở một thay đổi quan trọng: AI không đơn thuần thay thế lao động hiện hữu, mà đang làm thay đổi những “điểm vào nghề” vốn là bước khởi đầu của nhiều thế hệ lao động trẻ.
Trước những thay đổi này, những người trẻ, sinh viên của các trường đại học cao đẳng đã và đang chuẩn bị hành trang gì?
Theo khảo sát gần đây do CEL thực hiện với 242 sinh viên các ngành học liên quan quản trị cung ứng tại 25 trường đại học Việt Nam cũng phản ánh khá rõ xu hướng này. Cụ thể, 75% sinh viên đánh giá ngành sản xuất hiện đại là hấp dẫn, trong khi 57% đồng thời bày tỏ lo ngại cao về nguy cơ bị AI thay thế. Đây không phải nghịch lý. Nó cho thấy một thế hệ đang quan sát thị trường lao động với sự tỉnh táo hiếm thấy: nhìn rõ cả cơ hội lẫn rủi ro.
Phần lớn sinh viên tham gia khảo sát thể hiện nhận thức tương đối chính xác về những năng lực được dự báo sẽ gia tăng giá trị trong thập kỷ tới, từ phân tích dữ liệu, vận hành hệ thống số cho tới các vai trò liên quan đến phát triển bền vững và kinh tế tuần hoàn.
Nói cách khác, thị trường đang xuất hiện một độ trễ chuyển đổi giữa điều người học hiểu là quan trọng và năng lực họ có cơ hội rèn luyện trong thực tế. Đây không nên được nhìn nhận như một thiếu hụt của riêng phía nhà trường, doanh nghiệp hay người học. Nó phản ánh tốc độ chuyển đổi không đồng đều giữa ba cấu phần vốn cần vận hành đồng bộ để hình thành nguồn nhân lực cạnh tranh.
Bên cạnh đó, 42,6% sinh viên tin rằng các vai trò liên quan đến phát triển bền vững và kinh tế tuần hoàn sẽ tăng trưởng mạnh nhất trong ngành. Đây là một tín hiệu đáng chú ý, bởi nó cho thấy người học đang nhận diện khá rõ sự dịch chuyển của chuỗi cung ứng toàn cầu sang các tiêu chuẩn truy xuất nguồn gốc, phát thải và minh bạch dữ liệu.
Liệu, chúng ta có cần phải lo ngại về vấn đề AI sẽ thay thế con người trong mọi lĩnh vực trong tương lai không, thưa bà?
Trong bối cảnh AI ngày càng xử lý tốt các tác vụ có tính lặp lại và quy chuẩn hóa cao, những năng lực tạo khác biệt có xu hướng dịch chuyển sang nhóm kỹ năng tư duy phản biện, phối hợp liên chức năng, thích nghi trong môi trường bất định và học hỏi liên tục.
Đây thường được gọi là kỹ năng con người. Nhưng trong nền kinh tế công nghiệp mới, chúng không còn là kỹ năng bổ trợ. Chúng ngày càng trở thành năng lực vận hành cốt lõi. Trong thời đại trí tuệ nhân tạo, lợi thế cạnh tranh thực sự là việc trở nên con người hơn.
Điều này gợi mở một chuyển dịch tư duy quan trọng cho thị trường lao động Việt Nam. Lợi thế nghề nghiệp tương lai không nằm ở việc cạnh tranh với AI ở những tác vụ mà công nghệ có thể thực hiện hiệu quả hơn, mà ở việc phát triển sâu hơn những năng lực mang tính con người - từ sự tò mò, sáng tạo và khả năng phán đoán cho tới năng lực dẫn dắt và thích ứng trước những biến động chưa có tiền lệ.
Ở chiều ngược lại, nhiều doanh nghiệp vẫn chưa phản ánh đầy đủ những yêu cầu năng lực này trong thiết kế tuyển dụng và phát triển nhân sự. Đây là khoảng lệch tín hiệu đáng chú ý, bởi khi kỳ vọng thực tế và tín hiệu tuyển dụng chưa gặp nhau, thị trường khó hình thành được sự chuẩn bị chính xác.
Theo bà, Việt Nam cần có sự thay đổi như nào để có thể tham gia và hội nhập vào chuỗi cung ứng toàn cầu trong thời gian tới?
Với Việt Nam, đây là vấn đề có ý nghĩa vượt ra ngoài câu chuyện giáo dục. Nếu năng lực thích ứng nguồn nhân lực trở thành biến số cạnh tranh mới của sản xuất toàn cầu, thì tốc độ thu hẹp khoảng trống kỹ năng hôm nay có thể ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực giữ vững vị thế trong chuỗi cung ứng khu vực ngày mai.
Điều này đòi hỏi ba chuyển dịch rõ ràng: mô tả công việc cần phản ánh đầy đủ hơn các năng lực thích ứng và phối hợp; thực tập cần được nhìn nhận như một kênh đầu tư chiến lược vào nguồn nhân lực tương lai; và đào tạo cần tích hợp chặt chẽ hơn giữa năng lực số với năng lực con người.
Câu hỏi đặt ra vì thế không đơn thuần là AI sẽ thay đổi việc làm như thế nào. Thị trường lao động toàn cầu đến năm 2030 dự kiến tạo thêm 170 triệu việc làm mới và đồng thời xóa bỏ 92 triệu việc làm cũ. Đây không phải một cuộc khủng hoảng việc làm, mà là một cuộc tái phân bổ năng lực ở quy mô lịch sử. Và liệu hệ sinh thái đào tạo và tuyển dụng của Việt Nam có thể thích ứng đủ nhanh để biến thay đổi đó thành lợi thế cạnh tranh hay không.
Mặc dù, những tín hiệu từ người học cho thấy họ đã bắt đầu chuẩn bị cho tương lai ấy, song phần còn lại phụ thuộc vào tốc độ dịch chuyển của cả hệ thống.
Việc Bộ VHTTDL giao Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam khẩn trương xây dựng "Đề án phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới" là một nỗ lực tái định vị vai trò của du lịch trong cấu trúc phát triển quốc gia.
Từ một ngành dịch vụ tăng trưởng nhanh, du lịch đang thể hiện vai trò là một trụ cột có khả năng dẫn dắt các hệ sinh thái kinh tế - văn hóa - sáng tạo.
Nhưng để đạt được tham vọng ấy, điều quan trọng là việc nhìn thẳng vào thực trạng và tháo gỡ những điểm nghẽn đã tồn tại nhiều năm.
Tăng trưởng ấn tượng, nhưng chưa tương xứng tiềm năng
Nhìn lại giai đoạn từ khi triển khai Nghị quyết 08-NQ/TW, du lịch Việt Nam đã ghi nhận những bước tiến rõ rệt.
Trước đại dịch, tốc độ tăng trưởng khách quốc tế đạt trung bình trên 18%/năm; tổng thu du lịch năm 2019 đạt 755 nghìn tỉ đồng, đóng góp trực tiếp 9,2% GDP.
Sau cú sốc Covid-19, năm 2025, ngành đã phục hồi nhanh, với gần 21,2 triệu lượt khách quốc tế năm 2025, vượt mức trước dịch, và tổng thu vượt mốc 1 triệu tỉ đồng.
Những con số này cho thấy năng lực bật dậy mạnh mẽ của ngành, đồng thời phản ánh sức hấp dẫn ngày càng rõ nét của điểm đến Việt Nam trên bản đồ du lịch khu vực.
Tuy nhiên, nếu đặt trong tương quan với tiềm năng tài nguyên, vị trí địa lý và chiều sâu văn hóa, bức tranh lại lộ rõ những khoảng trống đáng suy ngẫm.
Tăng trưởng nhanh, nhưng chưa bền vững. Lượng khách tăng, nhưng giá trị gia tăng chưa tương xứng. Thị trường mở rộng, nhưng chưa tạo được dấu ấn thương hiệu đủ mạnh.
Ba điểm nghẽn lớn kìm hãm sự bứt phá
Những hạn chế của du lịch Việt Nam không còn là vấn đề mới, nhưng trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng khốc liệt, chúng trở thành những “nút thắt” cần tháo gỡ dứt điểm.
Thứ nhất, thể chế và cơ chế điều phối còn thiếu tính đột phá. Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, liên quan đến nhiều lĩnh vực như giao thông, xây dựng, văn hóa, thương mại… nhưng cơ chế phối hợp liên ngành vẫn chưa thực sự hiệu quả.
Chính sách phát triển còn phân tán, thiếu tính liên kết vùng, dẫn đến tình trạng mạnh ai nấy làm, khó hình thành những chuỗi giá trị quy mô lớn.
Đây chính là điểm nghẽn có tác động sâu rộng, làm giảm hiệu quả của nhiều nguồn lực đầu tư.
Thứ hai, hạ tầng du lịch chưa theo kịp nhu cầu phát triển.
Sự gia tăng nhanh của lượng khách đang đặt áp lực lớn lên hệ thống hạ tầng, từ hàng không, giao thông kết nối đến hạ tầng dịch vụ tại điểm đến. Không ít địa phương rơi vào tình trạng quá tải theo mùa, trong khi những khu vực tiềm năng lại thiếu kết nối.
Hạ tầng không chỉ là đường sá hay sân bay, mà còn là hạ tầng số, hạ tầng trải nghiệm, những yếu tố quyết định chất lượng hành trình của du khách trong kỷ nguyên mới.
Thứ ba, nguồn nhân lực và năng lực doanh nghiệp chưa đáp ứng yêu cầu.
Du lịch Việt Nam vẫn thiếu đội ngũ lao động chất lượng cao, đặc biệt ở các vị trí quản trị, thiết kế sản phẩm và vận hành theo chuẩn quốc tế. Nhiều doanh nghiệp còn nhỏ lẻ, năng lực cạnh tranh hạn chế, khó tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Điều này lý giải vì sao nhiều sản phẩm du lịch vẫn dừng ở mức khai thác tài nguyên, chưa chuyển hóa thành trải nghiệm có chiều sâu và giá trị cao.
Những nhóm giải pháp mang tính đột phá
Điểm đáng chú ý trong Đề án lần này là cách tiếp cận mới, không nhìn du lịch như một ngành kinh tế đơn thuần, mà đặt nó vào trung tâm của một hệ sinh thái rộng lớn, kết nối văn hóa, công nghiệp sáng tạo, công nghệ, y tế, thương mại và kinh tế số.
Đây là bước chuyển quan trọng về tư duy. Khi du lịch gắn với di sản, với công nghiệp văn hóa, với nền tảng số, giá trị tạo ra không chỉ nằm ở doanh thu trực tiếp, mà còn ở sức lan tỏa của “quyền lực mềm” quốc gia.
Để đạt mục tiêu đến năm 2030 đón 45 - 50 triệu lượt khách quốc tế và đóng góp khoảng 14% GDP, Đề án đề xuất một loạt nhóm giải pháp. Nhưng điều quan trọng là cách triển khai phải đủ mạnh để tạo chuyển biến thực chất.
Để có bước phát triển thực chất, yêu cầu đầu tiên là hoàn thiện thể chế theo hướng tạo dựng một hành lang đủ rộng và linh hoạt cho thị trường vận hành.
Hệ thống chính sách cần được thiết kế đồng bộ, từ thị thực, đầu tư đến quản lý điểm đến, trong đó chính sách visa phải mang tầm chiến lược, gắn với từng thị trường trọng điểm và từng phân khúc khách, thay vì những điều chỉnh mang tính ngắn hạn.
Cùng với đó, một cơ chế điều phối liên vùng đủ mạnh là điều kiện tiên quyết để hình thành các không gian du lịch có tính kết nối, thay thế cho tình trạng phát triển rời rạc, thiếu liên kết kéo dài trong nhiều năm.
Song hành với cải cách thể chế, hạ tầng cần được đặt vào vị trí đi trước một bước.
Không chỉ là câu chuyện mở rộng năng lực hàng không hay hoàn thiện mạng lưới giao thông, mà còn là việc thiết lập các hành lang du lịch liên vùng có tính chiến lược, giúp dòng khách di chuyển thuận lợi và kéo dài hành trình.
Trong bối cảnh nguồn lực công có hạn, việc thu hút đầu tư tư nhân và hình thành các tổ hợp du lịch - nghỉ dưỡng - giải trí quy mô lớn sẽ đóng vai trò dẫn dắt, tạo ra những cực tăng trưởng mới cho toàn ngành.
Ở cấp độ sản phẩm, du lịch Việt Nam cần một cuộc tái cấu trúc mang tính chiều sâu. Tài nguyên không còn là lợi thế đủ lớn nếu chỉ dừng ở khai thác đơn thuần.
Giá trị nằm ở khả năng sáng tạo, ở cách chuyển hóa văn hóa, di sản, làng nghề và nghệ thuật truyền thống thành những trải nghiệm có câu chuyện, có cảm xúc và có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Khi sản phẩm có bản sắc rõ ràng, điểm đến mới có thể định vị được vị thế riêng.
Quá trình này không thể tách rời chuyển đổi số. Công nghệ cần được nhìn nhận như nền tảng của quản trị hiện đại, nơi dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo giúp hiểu khách hàng sâu hơn, cá thể hóa trải nghiệm và tối ưu vận hành.
Khi đó, du lịch không còn vận hành theo mô hình tăng trưởng dựa vào số lượng, mà chuyển sang dựa trên tri thức và hiệu quả.
Cùng với nội lực, hình ảnh điểm đến cần được định hình lại bằng một chiến lược xúc tiến chuyên nghiệp, có thông điệp rõ ràng và sự kiên định trong dài hạn.
Một thương hiệu du lịch quốc gia chỉ thực sự có sức lan tỏa khi hội tụ được bản sắc riêng, thay vì dàn trải và thiếu điểm nhấn như hiện nay.
Sau cùng, tất cả những chuyển động này chỉ có thể trở thành hiện thực nếu được nâng đỡ bởi nguồn nhân lực chất lượng cao.
Đầu tư cho con người không chỉ dừng ở đào tạo, mà cần gắn chặt với nhu cầu doanh nghiệp, chuẩn mực quốc tế và khả năng thu hút nhân lực giỏi từ bên ngoài. Đây là yếu tố quyết định để du lịch Việt Nam không chỉ tăng trưởng nhanh, mà còn tiến xa và bền vững.
Những chủ trương mới của Trung ương, từ chuyển đổi số, phát triển kinh tế tư nhân đến hội nhập quốc tế sâu rộng, đang mở ra một không gian phát triển chưa từng có cho du lịch Việt Nam.
Vấn đề còn lại nằm ở khả năng thực thi đến đâu, có đủ quyết liệt để thay đổi cách làm cũ hay không.
Nếu tháo gỡ được các điểm nghẽn cốt lõi, du lịch hoàn toàn có thể bước sang một giai đoạn phát triển mới, ở đó mỗi hành trình không chỉ mang lại giá trị kinh tế, mà còn góp phần định hình vị thế Việt Nam.
Nội dung trên nằm trong quy hoạch tổng thể thủ đô với tầm nhìn 100 năm, vừa được Chủ tịch UBND TP Hà Nội Vũ Đại Thắng ký quyết định phê duyệt.
Di dời trụ sở bộ, ngành ra khỏi nội đô lịch sử để dành đất làm công viên, bãi đỗ xe
Theo định hướng quy hoạch, Hà Nội sẽ tổ chức lại không gian đô thị và nông thôn theo mô hình phát triển các khu chức năng, đồng thời sắp xếp hệ thống trụ sở làm việc phù hợp với vai trò, tính chất đặc thù của thủ đô.
Thành phố ưu tiên giảm tải hạ tầng khu vực nội đô và nâng cao hiệu quả quản trị đô thị. Đối với trụ sở các cơ quan Trung ương, Hà Nội xác định khu vực Ba Đình và Hoàn Kiếm tiếp tục giữ vai trò là trung tâm chính trị - hành chính đầu não của Đảng, Quốc hội, Nhà nước và Chính phủ.
Ngoài ra, quy hoạch tầm nhìn 100 năm nêu rõ Hà Nội sẽ triển khai lộ trình di dời trụ sở của các bộ, ngành và cơ quan Trung ương ra khỏi khu vực nội đô lịch sử, tập trung về các khu quy hoạch mới tại Mễ Trì và tây Hồ Tây, nhằm giảm áp lực lên hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội khu vực trung tâm.
Quỹ đất sau di dời sẽ được ưu tiên chuyển đổi công năng để phát triển không gian công cộng, công viên cây xanh, bãi đỗ xe ngầm và hệ thống trường học phổ thông, góp phần bổ sung hạ tầng dịch vụ còn thiếu cho khu vực nội thành.
Đối với trụ sở các cơ quan hành chính của thành phố, Hà Nội sẽ thực hiện phương án sắp xếp, quy tụ hợp lý quanh khu vực hồ Hoàn Kiếm nhằm bảo đảm tính đồng bộ, tăng cường kết nối hành chính và nâng cao hiệu quả quản trị.
Theo quy hoạch, việc bố trí bảo đảm sự tập trung đồng bộ, tăng cường tính kết nối hành chính, hiệu quả quản trị và xác lập giá trị biểu tượng của cơ quan hành chính thủ đô trong không gian trung tâm.
Diện tích bình quân nhà ở năm 2035 tối thiểu đạt 45m² sàn/người
Ngoài ra, về phát triển lĩnh vực nhà ở và thị trường bất động sản, Hà Nội xác định mục tiêu phát triển bền vững, đáp ứng nhu cầu đa dạng của người dân, gắn với chiến lược tái cấu trúc đô thị và mô hình phát triển định hướng giao thông công cộng (TOD).
Giai đoạn 2026-2030, Hà Nội đặt mục tiêu đạt tối thiểu đạt 35m² sàn/người, phấn đấu đạt 40m² sàn/người.
Giai đoạn 2031-2035, nâng diện tích nhà ở bình quân toàn thành phố tối thiểu đạt 45m² sàn/người.
Về giải pháp tái thiết, tái cấu trúc đô thị, quy hoạch thể hiện sẽ thực hiện tái thiết toàn diện các khu chung cư cũ, khu tập thể xuống cấp trong phạm vi vành đai 2 theo mô hình tích hợp TOD - CBD (không gian đô thị gắn với giao thông công cộng và trung tâm kinh tế - tài chính).
Đồng thời áp dụng các cơ chế ưu đãi để khuyến khích cư dân di dời từ lõi di sản ra các khu đô thị mới được đầu tư đồng bộ tại vùng ngoại vi.
Về phát triển đô thị mới, Hà Nội sẽ tập trung phát triển các khu đô thị đa mục tiêu dọc theo các trục metro phía ngoài vành đai 3, theo mô hình nén quanh các ga metro theo mô hình TOD.
Nguồn: Đại Biểu Nhân Dân; Thời Báo Ngân Hàng; Báo Văn Hóa; Tuổi Trẻ
Việt Nam: Đề nghị kỷ luật Sử Ngọc Anh; Cáp treo mới 16.234 tỷ; Thiên đường nghỉ dưỡng; Cựu Phó TGĐ Ngân hàng VNCB trốn truy nã; Đấu giá biệt thự Chủ tịch AIC
Việt Nam: Ngọc nữ lọt top mỹ nhân đẹp nhất thế giới; Đường dây rửa tiền xuyên quốc gia; Quy hoạch công viên Thủ Lệ; Thánh đường 5.000 người trước ngày khánh thành
Việt Nam: EU đưa ra khỏi danh sách quốc gia không hợp tác thuế; Phải khai báo trường hợp chuyển khoản sau; Top quốc gia được yêu thích nhất; Xác minh giao dịch 300 triệu
Người Việt hải ngoại: Thu nhập Vương Phạm ở Mỹ; Kỹ sư đến Google DeepMind; Quán café tại Pháp; 9X lọt Forbes 30 Under 30 Asia; Giáo sư tại Nhật vào nhóm nhà khoa học xuất sắc nhất
Việt Nam: Lãi suất ngân hàng 12/10; Khách sạn lọt top 3 tốt nhất Đông Nam Á; Chung cư 90 triệu đồng/m2; Chuyển trái phép 900 tỷ ra nước ngoài; Ngân hàng bán bất động sản xử lý nợ
Người Việt hải ngoại: Sắp diễn ra Hội nghị người Việt ở nước ngoài toàn thế giới lần thứ 5; Hoa hậu 2 lần đổ vỡ sang Canada cưới người yêu đơn phương 5 năm
Việt Nam: Cảnh báo sớm sai sót thuế; Cho thuê chung cư để lưu trú; Giải phóng mặt bằng các dự án lớn Hà Nội; Lừa bán phụ nữ sang Trung Quốc làm vợ; Đường dây đánh bạc, rửa tiền
Người Việt hải ngoại: Nữ chuyên gia có 200 bằng sáng chế; Nữ Tổng Quản Lý Marriott International; phát triển trạm sạc nhanh tại Mỹ; Cựu Phó Thủ tướng Đức vào HĐQT Chứng khoán HD
Bình luận và đánh giá
Gửi nhận xét đánh giá