- Văn nghệ
1.
Truyện rằng xưa, làng nọ
Có người tên Trương Viên,
Một chàng trai khỏe mạnh,
Chất phác và rất hiền.
Bỗng lệnh vua ban xuống
Bắt tất cả tráng đinh
Phải đầu quân chiến đấu
Trong quân đội triều đình.
Vợ chàng là Phương Thị,
Vừa đẹp vừa đảm đang,
Rất giỏi bề gia chánh,
Nổi tiếng tốt khắp làng.
Ngày lên đường nhập ngũ,
Khăn ướt, lệ dầm dề,
Chàng dặn vợ, chạy giặc,
Nên tạm lánh về quê.
Và rồi, quả sau đó,
Giặc nổi lên ngút đồng,
Phương Thị đành phận gái
Đưa mẹ về quê chồng.
Gặp muôn vàn trở ngại,
Đường vừa khó, vừa xa.
Nàng là dâu hiểu thảo,
Nhường cơm, cõng mẹ già.
Một sáng nọ, đói khát,
Họ đi qua một nơi,
Thấy dân làng chạy đến,
Với bộ mặt vui cười.
Hai mẹ con được họ
Còn cho ăn uống no.
Có chuyện gì thế nhỉ?
Đang lúc họ tò mò,
Thì một vị bô lão
Liền giải thích thế này:
Mỗi năm làng phải tế
Cho hung thần ở đây
Một cặp mắt phụ nữ.
Trước còn của dân làng,
Sau chuyển thành lấy mắt
Của những người đi ngang,
Tức là người hôm ấy
Đến làng này đầu tiên.
Vậy năm nay hiến mắt
Sẽ là mẹ Trương Viên!
Phương Thị nghe, hoảng hốt,
Sụp lạy trước dân làng,
Xin được thay cho mẹ.
Rồi họ móc mắt nàng.
Cảm tấm lòng chí hiếu,
Một bà tiên hiện ra,
An ủi nàng rồi tặng
Một chiếc đàn tỳ bà.
Khi trao đàn, bà nói:
“Con quả là dâu hiền.
Nó sẽ giúp con sống
Cho đến ngày đoàn viên.”
Vậy là mù hai mắt,
Phương Thị dẫn mẹ già
Đi xin ăn khắp chợ,
Xin, và chơi tỳ bà.
2.
Lại nói, binh đao hết,
Chàng Trương Viên trở về,
Không thấy vợ và mẹ,
Chàng lên đường về quê.
Tới chỗ làng có lệ
Lấy mắt người cúng thần,
Chàng đau xót khi biết
Mọi chuyện về người thân.
Chàng cất công tìm kiếm,
Tìm mãi, tìm khắp nơi,
Cuối cùng đến khu chợ
Thì gặp được hai người.
Vợ chàng đang ngồi hát,
Chiếc đàn lạ trên tay.
Mẹ chàng xin bố thí
Bằng chiếc bát ăn mày.
Rồi mừng mừng, tủi tủi,
Ba người khóc, ôm nhau.
Nàng Phương Thị khóc mãi,
Đến khi từ hố sâu
Của đôi mắt bị khoét,
Ứa hai cục máu hồng.
Và rồi sự lạ đến,
Trước mặt mẹ và chồng,
Nàng ôm đầu quằn quại.
Đôi mắt mù ngày nào
Bỗng nhiên giờ lại sáng,
Sáng như hai ngôi sao.
3.
Đây là phần tóm lược
Một vở chèo rất hay,
Tích Trương Viên - Phương Thị,
Tôi mới xem gần đây.
Trong các loại hát cổ,
Tôi thích nhất là chèo,
Áo mớ ba, mớ bảy,
Đủ màu, trông thật yêu.
Là đặc sản Bắc Bộ,
Hóm hỉnh và thông minh,
Chèo đầy chất dân dã,
Có duyên, lại có tình.
Nhân tiện, xin nhắc lại,
Rằng Hoa Lư, Ninh Bình,
Là gốc của chèo cổ,
Có từ thời nhà Đinh.
Và người tạo ra nó
Là bà Phạm Thị Trân,
Một nữ sĩ tài giỏi,
Chắc cũng đẹp tuyệt trần.
Rồi chèo dần phổ biến
Từ Nghệ Tĩnh trở ra
Khắp cả vùng Bắc Bộ,
Thành một dạng dân ca.
Một thế kỷ sau đó,
Khi ta thắng quân Nguyên,
Ta tóm được một chú
Người Mông Cổ, rất hiền.
Chú đánh nhau thì kém,
Nhưng giỏi hát, giỏi đàn,
Nên đã đưa Kinh Kịch
Của Tàu vào nước Nam.
Trước chèo chỉ có nói
Và lời ngâm dân ca,
Nay nhờ chú, thêm hát,
Những câu hát mặn mà.
Nguồn: FB Thái Bá Tân

Anh hát lời ru ... em có hay
Lời ru chan chất những đong đầy
Anh mang hương nhụy gùi thương nhớ
Ướp vào suối tóc em... bay bay
Anh hát lời ru... em có hay
Hỡi em... cô gái làm anh say
E ấp môi cười như hoa nở
Đôi mắt mơ buồn như trách ai.
Ta đã quen nhau tự bao giờ
Mối tình đan kết những vần thơ
Em hay nũng nịu hay hờn dỗi
Xáo động tim anh đến thẩn thờ
Em đã cho anh những tơ vương
Sợi buồn sợi nhớ với sợi thương
Những dỗi những hờn mau nước mắt
Xáo động tim anh mộng vô thường
Anh đã yêu rồi... em biết không?
Hỡi người yêu dấu giấc mơ hồng
Em mang hương nhụy gùi thương nhớ
Để trái tim anh mãi hoài mong
Những buổi cầu kinh bên giáo đường
Mắt em ngấn lệ buồn vương vương
Chắp tay khẩn nguyện xin ơn chúa
Cho con lấy được người con thương
Hôm nay cũng như bao chiều khác
Như bao buổi chiều anh đợi trông
Cô gái trang đài ngày xưa ấy
Biền biệt trong anh giấc mơ hồng
Hôm nay anh lại hát lời ru
Gởi hồn vào mộng tưởng thiên thu
Em ơi! có biết hình em đã
Phủ kín tim anh ...chốn ngục tù
Hôm nay anh lại hát lời ru
Nguồn: FB Vũ Như

Vào những năm 1950, bệnh bại liệt là nỗi khiếp sợ kinh hoàng trên toàn cầu. Nó tấn công hàng vạn trẻ em mỗi năm, khiến các em vĩnh viễn mất đi khả năng đi lại, thậm chí tử vong. Giữa bối cảnh đen tối đó, Tiến sĩ Jonas Salk đã xuất hiện như một vị cứu tinh khi nghiên cứu thành công loại vắc-xin bại liệt đầu tiên trên thế giới.
Theo các nhà kinh tế Forbes ước tính, nếu Salk đăng ký bằng sáng chế vaccine polio, ông sẽ kiếm được khoảng 7 tỷ USD (tính theo giá trị năm 2013) trong suốt cuộc đời.
Nhưng Jonas Salk đã không làm thế!
Trong một buổi phỏng vấn truyền hình lịch sử, khi được hỏi ai là người sở hữu bằng sáng chế của vắc-xin, vị tiến sĩ đáng kính đã mỉm cười và trả lời một cách bình thản: "Nhân dân, tôi đoán vậy. Không có bằng sáng chế nào cả. Bạn có thể cấp bằng sáng chế cho Mặt Trời được không?".
Kiên định với lý tưởng của mình, ông chấp nhận để vắc-xin không có bản quyền. Nhờ vậy, công thức được chia sẻ miễn phí, giá thành sản xuất được kéo xuống mức thấp nhất. Mọi trẻ em trên thế giới – dù ở quốc gia giàu hay nghèo – đều có cơ hội được bảo vệ.
Jonas Salk sinh năm 1914 trong một gia đình nhập cư Do Thái nghèo tại New York. Cha mẹ ông không được học hành đầy đủ nhưng luôn cố gắng nuôi con ăn học. Bằng nỗ lực phi thường, ông trở thành người đầu tiên trong gia đình bước chân vào giảng đường đại học và tốt nghiệp Bác sĩ Y khoa năm 1939.
Thay vì chọn hành nghề bác sĩ tư để kiếm thật nhiều tiền, chàng trai trẻ Jonas Salk khi ấy đã đưa ra một quyết định định mệnh: Dấn thân vào phòng thí nghiệm, cống hiến cả cuộc đời cho nghiên cứu y học dịch tễ để cứu giúp được nhiều người hơn.
Sau thành tựu vĩ đại này, ông tiếp tục thành lập Viện Nghiên cứu Sinh học Salk và miệt mài cống hiến cho y học đến những ngày cuối đời 1995.
Tiền bạc có thể mua được rất nhiều thứ, nhưng không thể mua được di sản vĩ đại mà Jonas Salk để lại cho nhân loại.
Nguồn: FB Dấu Ấn Thời Đại
Đức Việt Online
Câu chuyện gia đình tôi ở Berlin 2010: Con gái 14 tuổi đòi đến Trung tâm SOS Kinder; Churchill; Có một mùa… thương
Người trên 60 tuổi nên biết – 8 bí quyết sống khỏe, ít ốm đau; Cao Bá Quát; Hà Nội phố
Ngược dòng; Em chẳng thèm mùa Thu; Bí quyết sống thọ 105 tuổi của bác sỹ Nhật Bản
Những thói quen xấu của tuổi già khiến người khác khó chịu; Truyện Tống Trân, Cúc Hoa; Tháng 10 về
Kiếp sau xin chớ muộn màng; Ba chiếc rừu; Người trên 65 tuổi nên tránh 10 thói quen âm thầm hại sức khỏe
Không chờ Godot – XI: Ánh sáng không thể bị dập tắt; Phép huyền diệu; Lời thề Hippocrares đã lỗi thời trong kỷ nguyên y học hiện đại?
Tháng Mười – Tình yêu xuyên biên giới; Bài học từ một vụ cướp nhà băng; Vì sao tuổi 70 – 75 là giai đoạn khó khăn nhất cuộc đời ?
Hãy đọc trước khi già; Danh nhân Việt Lê Thánh Tông; Tháng 10 về
Bình luận và đánh giá
Gửi nhận xét đánh giá