- Thời sự
.jpg)
Nhà chức trách Indonesia cho hay một vụ sạt lở đất nghiêm trọng đã xảy ra ở đảo Java của nước này hôm 24/1, khiến ít nhất 8 người thiệt mạng và hơn 80 người mất tích.
Trả lời phỏng vấn kênh Channel News Asia, nhà chức trách Indonesia cho biết nguyên nhân sơ bộ gây ra vụ lở đất hiện được xác định là do mưa lớn và thảm họa này đã chôn vùi 2 ngôi làng trong địa phận huyện Tây Bandung ở tỉnh Tây Java.
Tại cuộc họp báo ngày 24/1, phát ngôn viên Cơ quan thảm họa quốc gia Indonesia Abdul Muhari xác nhận vụ sạt lở đất đã khiến ít nhất 8 người thiệt mạng. “Tính đến trưa 24/1, chúng tôi nhận được báo cáo về việc hàng chục dân thường đã an toàn, trong khi công tác tìm kiếm 82 người khác đang diễn ra”.
Thị trưởng West Bandung, ông Jeje Ritchie Ismail, cho biết quân đội, cảnh sát cùng hàng trăm tình nguyện viên đã được huy động tham gia tìm kiếm các nạn nhân. Tuy nhiên, công tác cứu hộ đang gặp nhiều khó khăn do địa hình khu vực bị sạt lở rất hiểm trở và kết cấu mặt đất không ổn định.
Theo Channel News Asia, Indonesia thường phải hứng chịu nhiều trận lũ lụt và lở đất trong mùa mưa, thường kéo dài từ tháng 10 đến tháng 3 hàng năm. Thống kê từ chính quyền Indonesia cho thấy, đợt lũ lụt xảy ra trong khoảng cuối tháng 11, đầu tháng 12/2025 đã khiến ít nhất 600 dân thường nước này thiệt mạng.
WEF 2026 khép lại sau một tuần tranh luận, Tổng thống Mỹ Donald Trump chi phối nghị trình từ địa chính trị, thương mại đến năng lượng và quốc phòng.
Địa chính trị
Davos 2026 cho thấy châu Âu đã rút ra bài học về sự cần thiết phải thể hiện lập trường cứng rắn hơn, trước Tổng thống Mỹ Donald Trump. Tuyên bố của ông Trump liên quan đến Greenland bị xem là vượt qua “lằn ranh đỏ” về chủ quyền lãnh thổ. Sự phản đối quyết liệt từ châu Âu được đánh giá là một trong những yếu tố khiến Tổng thống Mỹ phải chùn bước.
Tuy nhiên, hệ quả sâu xa hơn là niềm tin của châu Âu vào quan hệ xuyên Đại Tây Dương với Washington đã bị lung lay đáng kể. Các nhà lãnh đạo khu vực thừa nhận cần cải thiện khả năng phản ứng nhanh và tự chủ hơn trước những cuộc khủng hoảng trong tương lai.
“Có những nỗ lực thúc đẩy tiến độ ra quyết định của châu Âu. Có lẽ chúng tôi vẫn còn quá chậm”, một quan chức Liên minh châu Âu cho biết.
Nhiều lãnh đạo và giám đốc điều hành châu Âu nói họ thấy cách tiếp cận của chính quyền Trump là thô ráp và gây phản cảm, dù thừa nhận một số vấn đề mà Tổng thống Mỹ nêu ra là xác đáng.
Sau khi ông Trump công bố thỏa thuận về Greenland, Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky đã tới Davos để đàm phán. Dù các quan chức Mỹ, Ukraine và Nga nói về những “tiến triển”, triển vọng đạt được một thỏa thuận hòa bình vẫn mong manh, đặc biệt khi ông Zelensky nhấn mạnh các vấn đề lãnh thổ vẫn chưa được giải quyết.
Ảnh hưởng của chính quyền Trump lên nghị trình Davos còn thể hiện qua sự xuất hiện của đặc phái viên Tổng thống Nga Vladimir Putin, ông Kirill Dmitriev, trong các cuộc trao đổi với quan chức Mỹ. Đây là chuyến thăm đầu tiên của một quan chức Nga tới Davos kể từ khi Moskva mở chiến dịch quân sự tại Ukraine năm 2022.
Kinh tế vĩ mô
Những đe dọa áp thuế của Mỹ ngay trước thềm hội nghị nhằm vào các đồng minh châu Âu đã làm căng thẳng thương mại leo thang, củng cố lo ngại của một số nhà lãnh đạo doanh nghiệp (CEO) rằng châu Âu không còn có thể trông cậy vào Mỹ.
“Khi nói chuyện với CEO hôm nay, ta nhận ra họ cần gì? Sự ổn định, tính dự đoán và thượng tôn pháp luật. Tôi cho rằng những yếu tố đó đang bị thiếu hụt”, Bộ trưởng Tài chính Canada François-Philippe Champagne nói trong một phiên thảo luận về thuế quan.
Động thái của ông Trump tiếp thêm lập luận cho những người kêu gọi các quốc gia và doanh nghiệp đa dạng hóa thương mại, nhằm giảm phụ thuộc vào nước Mỹ.
Các công ty dịch vụ tài chính kỳ vọng hoạt động và tăng trưởng sẽ sôi động hơn trong năm nay, song phải đối mặt rủi ro từ chính sách Mỹ, địa chính trị, trí tuệ nhân tạo (AI) và công nghệ tài chính. CEO JPMorgan Jamie Dimon cảnh báo đề xuất áp trần lãi suất thẻ tín dụng có thể dẫn tới “thảm họa kinh tế”, trong khi nhiều ngân hàng nói họ đang tìm cách tác động chính sách về khả năng chi trả.
Giới tiền mã hóa quảng bá stablecoin và tiềm năng của blockchain trong việc làm thay đổi tài chính; một số ngân hàng thử nghiệm công nghệ mới, số khác vẫn thận trọng. Bên cạnh đó, triển vọng kinh tế vĩ mô, câu hỏi về tính độc lập của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và nỗi lo bong bóng AI cùng các tài sản khác tiếp tục đè nặng tâm lý nhà đầu tư.
Trí tuệ nhân tạo (AI)
Ngành công nghệ hiện diện đông đảo tại Davos, với những lần xuất hiện của CEO Tesla Elon Musk và CEO Nvidia Jensen Huang. Startup AI Anthropic mở không gian làm việc ngay trục chính Davos để thúc đẩy doanh số doanh nghiệp. Khác với sự hoài nghi cuối năm 2025, nhiều lãnh đạo cho biết họ đã gác lại lo ngại thị trường định giá AI quá cao.
Họ thừa nhận nhiều việc làm sẽ biến mất, nhưng các vị trí mới cũng sẽ hình thành. Theo hai lãnh đạo doanh nghiệp nói với Reuters , AI thường bị dùng làm “cái cớ” cho sa thải hơn là nguyên nhân trực tiếp. Ngược lại, các nghiệp đoàn lo ngại AI sẽ hủy hoại việc làm và gia tăng bất bình đẳng, kêu gọi quản lý và đào tạo.
Năng lượng
Ngành dầu khí lớn quay lại Davos mạnh mẽ sau một năm nhiệm kỳ của ông Trump, trong bối cảnh Tổng thống Mỹ ra lệnh tạm dừng các dự án điện gió và thúc giục doanh nghiệp Mỹ khoan thêm dầu trong và ngoài nước. Bộ trưởng Năng lượng Mỹ Chris Wright nói sản lượng dầu toàn cầu cần tăng hơn gấp đôi để đáp ứng nhu cầu năng lượng tăng, thách thức quan điểm phổ biến rằng nhu cầu có thể đạt đỉnh trong hai thập kỷ tới.
Ông Wright cũng cho rằng châu Âu và bang California của Mỹ đang chi tiêu quá nhiều cho năng lượng xanh. Một lãnh đạo dầu khí nhận xét, chính quyền Trump đang điều hướng câu chuyện, và ngành dầu mỏ hưởng lợi từ điều đó.
Tuy nhiên, khác quan điểm với ông Trump về năng lượng tái tạo, tỷ phú Elon Musk nói Mỹ có thể sản xuất đủ điện mặt trời để đáp ứng toàn bộ nhu cầu, kể cả mức tiêu thụ tăng vọt từ các trung tâm dữ liệu của Big Tech. Ông cho rằng rào cản thuế quan cao đang làm chi phí triển khai điện mặt trời bị đẩy lên một cách không cần thiết.
Quốc phòng
Thế giới phần nào có thể "thở phào" khi ông Trump nói không có giải pháp quân sự cho các yêu sách về Greenland. Dù vậy, một số lãnh đạo doanh nghiệp kỳ vọng chi tiêu quốc phòng của châu Âu và Mỹ sẽ tăng, kéo theo các dự án xây dựng và tuyển dụng.
Ông Trump cũng đề cập đến một loại “vũ khí âm thanh bí mật” mà ông nói đã được sử dụng trong quá trình bắt giữ Tổng thống Venezuela Nicolas Maduro. Ông cho rằng Nga và Trung Quốc sẽ phải “vẽ lại chiến lược”.
.jpg)
"Sự thống trị của Mỹ ở Tây bán cầu sẽ không bao giờ bị nghi ngờ nữa," Tổng thống Donald Trump tuyên bố sau khi Mỹ bắt giữ lãnh đạo Venezuela Nicolás Maduro vào đầu tháng 1/2026.
Và trong khi ông Trump khẳng định sức mạnh của Washington, Trung Quốc và Nga tiếp tục các nỗ lực củng cố và mở rộng phạm vi ảnh hưởng của riêng họ.
Nhiều nhà phân tích cho rằng cả ba quốc gia này đều đang tìm cách thiết lập một trật tự toàn cầu mới, với những tác động sâu rộng đối với châu Âu và các cường quốc khu vực khác.
Trong bài viết này, BBC đánh giá cách Mỹ, Trung Quốc và Nga đang sử dụng các đòn bẩy quân sự, kinh tế và chính trị để gây ảnh hưởng không chỉ đến các nước láng giềng mà còn cả đến những nước xa hơn.
Một thế giới 'được điều hành bởi quyền lực'
Dưới thời chính quyền Trump, Mỹ đang trong quá trình định hình lại và tái định hướng chính sách đối ngoại cũng như chiến lược an ninh quốc gia, với trọng tâm là Tây bán cầu.
Điều đó thể hiện một sự thay đổi rõ rệt so với các đời tổng thống Mỹ gần đây đến từ cả hai đảng Cộng hòa và Dân chủ, những người có cách nhìn toàn cầu hơn về quyền lực và vai trò của Mỹ.
Các quan chức chính trong quyền Trump cho biết đây là việc thực hiện chính sách đối ngoại "Nước Mỹ trên hết", nhấn mạnh vào các vấn đề – như nhập cư, tội phạm và buôn bán ma túy – những vấn đề ảnh hưởng trực tiếp hơn đến cuộc sống của người dân Mỹ.
Những phát biểu gần đây của cố vấn hàng đầu của ông Trump, Stephen Miller, mô tả một thế giới "được điều hành bằng sức mạnh, bằng vũ lực, bằng quyền lực" có thể gợi liên tưởng đến chính sách đối ngoại thực dụng, ít lý tưởng của cố vấn Henry Kissinger và Tổng thống Richard Nixon trong những năm 1960 và 1970.
Nhưng sự so sánh phù hợp hơn có lẽ là những nỗ lực xây dựng đế chế của Mỹ dưới thời các Tổng thống William McKinley và Theodore Roosevelt vào đầu thế kỷ 20.
Mở rộng "Học thuyết Monroe" năm 1823, với tuyên bố rằng Tây bán cầu nên được tự do khỏi sự can thiệp của châu Âu, Tổng thống Theodore Roosevelt khẳng định Mỹ phải đóng vai trò tích cực trong việc duy trì trật tự và an ninh trên toàn bộ châu Mỹ.
Trong thời gian đó, Mỹ đã cung cấp hỗ trợ tài chính cho các quốc gia như Venezuela và Cộng hòa Dominica, và triển khai binh lính Mỹ đến Haiti và Nicaragua.
Kể từ khi bắt đầu nhiệm kỳ thứ hai, ông Donald Trump thường xuyên bày tỏ sự quan tâm mạnh mẽ đến các vùng lãnh thổ và vấn đề trong khu vực địa lý lân cận của Hoa Kỳ.
Chiến dịch quân sự nhằm bắt giữ Tổng thống Venezuela Nicolás Maduro là ví dụ rõ ràng nhất, nhưng diễn ra sau hàng loạt hành động khác của Mỹ.
Trong số đó có các cuộc không kích nhằm vào những con tàu bị nghi buôn bán ma túy ở vùng Caribe, các biện pháp thuế quan để gây sức ép lên các quốc gia Mỹ Latinh, ủng hộ các ứng cử viên và đảng phái cụ thể trong các cuộc bầu cử quốc gia, cũng như lời kêu gọi sáp nhập kênh đào Panama, Greenland và toàn bộ Canada.
"Hoa Kỳ phải giữ vị thế hàng đầu ở Tây bán cầu như một điều kiện cho an ninh và thịnh vượng của chúng tôi - một điều kiện cho phép chúng tôi tự tin khẳng định mình ở những nơi và thời điểm cần thiết trong khu vực," Chiến lược An ninh Quốc gia mới được Nhà Trắng công bố gần đây nêu rõ.
Tuy nhiên, một phần của chiến lược quốc tế mới này là việc bác bỏ các nỗ lực của các cường quốc bên ngoài nhằm gây ảnh hưởng lên các nước láng giềng trong khu vực của Mỹ - trong đó đáng chú ý nhất là Trung Quốc. Đây có thể là điểm mà trọng tâm mới của Mỹ vào một phạm vi ảnh hưởng mang tính bán cầu sẽ trực tiếp va chạm với các mối quan tâm chính trị toàn cầu.
Ngoài ra, ông Trump đã thể hiện sự quan tâm đến việc làm trung gian cho các thỏa thuận hòa bình trên toàn cầu và bày tỏ sự quan tâm đặc biệt mạnh mẽ đến việc tăng cường quan hệ kinh tế và an ninh với các quốc gia Ả Rập như Ả Rập Xê Út, Qatar và Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất.
Ông Trump và các cố vấn thân cận, trogn đó có ông Miller, đã bày tỏ quan điểm Mỹ là bên bảo vệ nền văn minh phương Tây chống lại các thế lực muốn làm xói mòn văn hóa và truyền thống của nền văn minh này.
Tất cả những điều đó cho thấy rằng, dù nền tảng chiến lược của chính sách đối ngoại Mỹ có thể gắn với cách tiếp cận "Nước Mỹ trên hết" mới, thì các quan điểm và mối quan tâm cá nhân của ông Trump vẫn sẽ tiếp tục định hình chương trình nghị sự quốc tế của Mỹ.
Trong suốt 250 năm lịch sử, chính sách đối ngoại của Mỹ đã nhiều lần chuyển dịch giữa chủ nghĩa biệt lập và can thiệp, với sự pha trộn khác nhau giữa chủ nghĩa lý tưởng và chủ nghĩa thực dụng - tất cả phụ thuộc vào sức mạnh quân sự của Mỹ và lợi ích của người dân và các nhà lãnh đạo của họ.
Mặc dù trong nhiệm kỳ thứ hai của ông Trump, bối cảnh dường như đang thay đổi đáng kể, nhưng chưa có bằng chứng nào cho thấy về lâu dài, các chu kỳ và sự chuyển dịch này trong chính sách đối ngoại của Mỹ đã chấm dứt.
Sự "phục hưng vĩ đại" của dân tộc Trung Hoa
Ảnh hưởng toàn cầu của Trung Quốc không chỉ giới hạn trong một "phạm vi" hay một khu vực nhất định. Sự hiện diện của Bắc Kinh hiện nay được cảm nhận ở mọi ngóc ngách trên toàn cầu, từ Nam Thái Bình Dương đến Nam và Trung Á, khu vực Trung Đông rộng lớn hơn, Mỹ Latinh và nhiều nơi khác.
Trong tham vọng thống trị toàn cầu, Trung Quốc đã tận dụng thế mạnh chủ chốt của mình: sản xuất. Gần một phần ba tổng số hàng hóa sản xuất trên thế giới có xuất xứ từ Trung Quốc - bao gồm các thiết bị trong túi xách của chúng ta, quần áo trong tủ của chúng ta và đồ nội thất mà chúng ta ngồi để xem TV.
Bắc Kinh cũng đã đặt mình vào vị thế dẫn đầu để nắm giữ tương lai bằng cách đảm bảo nắm giữ thị phần lớn nhất về khoáng sản đất hiếm trên thế giới. Đây là nhóm các nguyên tố cần thiết cho sản xuất công nghệ, bao gồm điện thoại thông minh, xe điện, tua bin gió và vũ khí quân sự.
Trung Quốc hiện đang xử lý khoảng 90% khoáng sản đất hiếm của thế giới, và gần đây đã sử dụng đòn bẩy này đối với Tổng thống Donald Trump, hạn chế xuất khẩu trong cuộc chiến thương mại năm ngoái với Mỹ.
Điều này phần nào lý giải vì sao Washington theo đuổi các nguồn khoáng sản tại Greenland và những nơi khác. Hai siêu cường dường như đang bước vào một cuộc cạnh tranh nhằm bảo đảm nguồn tài nguyên.
Đây là một sự chuyển mình to lớn đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa - quốc gia vào năm 2000 vẫn chỉ là một nhân tố thứ yếu trong một thế giới mà Mỹ chi phối. Bước sang năm 2026, Chủ tịch Tập Cận Bình đã nổi lên như một nhà lãnh đạo toàn cầu đầy tham vọng, thực thi quyền lực và ảnh hưởng thông qua thương mại, công nghệ và đầu tư, được hậu thuẫn bởi một lực lượng quân đội ngày càng lớn mạnh.
Sự trỗi dậy của Trung Quốc - từ một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới trở thành một cường quốc công nghiệp và công nghệ lớn mạnh đã gây được tiếng vang với nhiều nền kinh tế mới nổi.
Họ nhìn thấy ở đó một con đường hiện đại hóa không cần Tây phương hóa, nơi các quốc gia có thể theo đuổi tăng trưởng kinh tế mà không cần áp dụng các hệ thống chính trị phương Tây hay liên kết chính sách đối ngoại theo phương Tây.
Chiến lược này đã được chứng minh là hiệu quả. Năm 2001, hơn 80% nền kinh tế thực hiện thương mại hai chiều với Mỹ nhiều hơn với Trung Quốc. Nhưng hiện nay, khoảng 70% nước trên thế giới giao thương với Trung Quốc nhiều hơn so với với Mỹ.
Bắc Kinh cũng tập trung vào phát triển và đã đầu tư mạnh vào các nền kinh tế mới nổi như một phần của Sáng kiến Vành đai và Con đường. Đây là một dự án cơ sở hạ tầng toàn cầu khổng lồ nhằm kết nối châu Á, châu Âu và châu Phi thông qua các tuyến đường bộ và đường biển với các khoản đầu tư lớn của Trung Quốc vào các cảng biển, đường sắt, đường bộ và các dự án năng lượng.
Điều này đã dẫn đến việc một số quốc gia ngày càng mắc nợ Bắc Kinh.
Một trong những câu hỏi lớn nhất sau chiến dịch của ông Donald Trump ở Venezuela là liệu điều đó có gợi ý cho Trung Quốc xâm lược Đài Loan hay không. Nhưng Trung Quốc coi hòn đảo tự trị này là vấn đề nội bộ - như một tỉnh ly khai mà một ngày nào đó sẽ được thống nhất với đại lục.
Nếu ông Tập Cận Bình quyết định xâm lược Đài Loan, đó sẽ không phải vì Mỹ đã tạo tiền lệ. Hầu hết các nhà phân tích tin rằng Trung Quốc sẽ tiếp tục chiến lược sử dụng sự cưỡng ép nhằm bào mòn ý chí của người dân Đài Loan, với mục đích buộc Đài Bắc phải ngồi vào bàn đàm phán.
Tầm nhìn của Chủ tịch Tập từ trước đến nay luôn là "sự phục hưng vĩ đại" của dân tộc Trung Hoa. Tại cuộc duyệt binh Ngày Chiến thắng năm 2025, khi đứng trên lễ đài nhìn xuống các đơn vị quân đội của mình, ông Tập tuyên bố sự trỗi dậy của Trung Quốc là "không thể ngăn cản".
Nhà lãnh đạo Trung Quốc muốn một thế giới kính trọng và ngưỡng mộ Bắc Kinh, và ông ta coi sự hỗn loạn toàn cầu hiện nay dưới thời Donald Trump là một thời kỳ "chuyển đổi".
Ông Tập sẽ xem đây là một cơ hội. Thông điệp của ông ta là thế giới đang ở ngã ba đường và ông ta tin rằng Trung Quốc đang ở vị trí tốt nhất để giúp dẫn dắt con đường phía trước.
Vùng 'lân cận' của Nga
Nổi tiếng - hoặc có lẽ là tai tiếng - Tổng thống Vladimir Putin từng gọi sự sụp đổ của Liên Xô là "thảm họa địa chính trị lớn nhất" của thế kỷ 20.
Nhận định này cho thấy rõ cách ông nhìn nhận những gì mà người Nga thường gọi là "vùng lân cận" - các nước cộng hòa thuộc Liên Xô cũ giành được độc lập trong thập niên 1990.
Đối với nhiều người, chính thuật ngữ này hàm ý rằng những quốc gia ở "vùng lân cận" có ít quyền tồn tại độc lập hơn so với các nước ở "vùng xa xôi".
Theo lối tư duy này - vốn là nền tảng của hệ tư tưởng Điện Kremlin - Nga có những lợi ích chính đáng ở những quốc gia này, và Moscow có quyền bảo vệ những lợi ích đó.
Phạm vi ảnh hưởng của Nga là một khái niệm khá mơ hồ, và Điện Kremlin cố tình giữ mơ hồ về ranh giới mà họ cho là thuộc phạm vi đó.
Tổng thống Putin từng nói rằng "biên giới của Nga không bao giờ kết thúc", và đối với một số người ủng hộ chính sách bành trướng của ông, phạm vi ảnh hưởng của Nga bao gồm tất cả các vùng đất từng thuộc về đế chế Nga trong lịch sử, thậm chí có thể còn hơn thế nữa.
Đây là một lý do tại sao Moscow gọi các khu vực mà họ sáp nhập của Ukraine là "các vùng lịch sử".
Trên danh nghĩa, Điện Kremlin tôn trọng chủ quyền của các nước cộng hòa thuộc Liên Xô cũ và các quốc gia khác mà họ cho rằng có "lợi ích". Tuy nhiên, trên thực tế, họ có tiền lệ sử dụng áp lực kinh tế và quân sự đối với các quốc gia từng là vệ tinh của Nga một khi họ bắt đầu có ý định rời khỏi quỹ đạo của Moscow.
Ukraine đã phải trả giá đắt để nhận ra điều này. Trong hơn một thập niên sau khi Liên Xô tan rã, chính phủ Ukraine theo đuổi các chính sách phần lớn phù hợp với mục tiêu của Điện Kremlin và cho phép Nga duy trì một căn cứ hải quân lớn tại bán đảo Crimea, trên Biển Đen.
Điện Kremlin hài lòng với mối quan hệ đó cho đến khi Ukraine bầu ra Tổng thống cải cách thân phương Tây, Viktor Yushchenko. Dưới thời ông Yushchenko, Nga đã hai lần cắt nguồn cung khí đốt vào các năm 2006 và 2009.
Khi sức ép kinh tế và sự can thiệp chính trị không còn hiệu quả, Nga đã xâm chiếm Crimea, sáp nhập bán đảo này vào năm 2014, và phát động cuộc xâm lược toàn diện Ukraine vào năm 2022.
Tương tự, Nga đã tiến hành chiến tranh với Gruzia vào năm 2008, khi nước này được vị tổng thống được biết đến với các cải cách mạnh mẽ, Mikheil Saakashvili lãnh đạo.
Cuộc chiến đã củng cố và mở rộng quyền kiểm soát của Nga đối với khoảng 20% lãnh thổ Gruzia. Kể từ đó, quân đội Nga liên tục đẩy các chốt biên giới và hàng rào dây thép gai ngày càng sâu hơn vào lãnh thổ Gruzia - một thực tiễn mà người dân địa phương gọi là "sự chiếm đóng lén lút".
Việc phương Tây không đưa ra phản ứng đủ mạnh trước cuộc xâm lược của Nga tại Gruzia năm 2008 và tại Ukraine năm 2014 chỉ càng củng cố niềm tin của ông Putin rằng "vùng lân cận" là thứ ông ta có thể chiếm lấy.
Cần lưu ý rằng, trong khi Ukraine và Gruzia chống lại sự thống trị chính trị của Moscow - dẫn đến sự can thiệp quân sự - thì một số nước cộng hòa thuộc Liên Xô cũ khác vẫn duy trì sự gắn kết với Nga. Chính phủ của năm quốc gia trong số đó - Belarus, Tajikistan, Kyrgyzstan, Kazakhstan và Armenia - hiện vẫn cho phép quân đội Nga đồn trú trên lãnh thổ của mình.
Đối với Ukraine và Gruzia, vấn đề bắt đầu khi họ bầu ra các chính phủ tuyên bố tham vọng rời khỏi phạm vi ảnh hưởng của Nga bằng cách thực hiện các cải cách dân chủ và tăng cường quan hệ với phương Tây.
Những gì xảy ra sau đó không hề mới. Lịch sử đầy rẫy những cuộc xung đột được tiến hành dưới chiêu bài bảo vệ lợi ích quốc gia và bảo vệ các nhóm thiểu số sắc tộc.
Sau Thế chiến II và Chiến tranh Lạnh, cộng đồng quốc tế đã dành nhiều nỗ lực để xây dựng một trật tự mà các quốc gia đều bình đẳng, bất kể quy mô đất nước hay số vũ khí họ sở hữu.
Tuy nhiên, sự hồi sinh của khái niệm phạm vi ảnh hưởng có thể đưa tất cả chúng ta quay trở lại một thời kỳ u tối hơn trong quá khứ.
Israel đang cân bằng giữa lời lẽ cứng rắn, ngoại giao và nguy cơ chiến tranh khu vực như thế nào?
Theo TASS, trong bối cảnh căng thẳng leo thang liên quan đến Iran, tàu sân bay Abraham Lincoln của Hải quân Mỹ và nhóm tác chiến của nó đã tiến vào Ấn Độ Dương hôm 20 tháng 1 sau khi đi qua eo biển Malacca, theo dữ liệu định vị từ Marine Traffic. Hạm đội hải quân đang hướng về phía tây, tiến vào Trung Đông.
Nhóm tác chiến bao gồm các tàu khu trục USS Spruance, USS Michael Murphy và USS Frank Petersen được trang bị tên lửa hành trình Tomahawk, làm nổi bật khả năng tấn công của nhóm.
Trên tàu USS Abraham Lincoln có ba phi đội máy bay chiến đấu đa năng F/A-18 và một phi đội máy bay phản lực thế hệ thứ năm F-35C, cho phép tàu sân bay thực hiện nhiều nhiệm vụ khác nhau – từ phô trương sức mạnh đến các cuộc tấn công chính xác.
Theo tờ Jerusalem Post, tàu sân bay và nhóm tác chiến của nó dự kiến sẽ đến khu vực trách nhiệm của CENTCOM trong vòng 5 đến 7 ngày. Điều này không báo hiệu sự bắt đầu của một chiến dịch quân sự ngay lập tức.
Tuy nhiên, việc triển khai này nhằm mục đích gia tăng áp lực chiến lược và tạo thêm không gian cho Washington đưa ra các quyết định chính trị-quân sự.
Điều quan trọng cần lưu ý là nhóm tấn công này đang hướng thẳng đến Trung Đông. Mặc dù việc đến đó không tự động đồng nghĩa với việc sử dụng vũ lực, nhưng nó làm tăng mức độ căng thẳng và củng cố vị thế của Mỹ như một bên tham gia chủ chốt bên ngoài trong việc đối phó với Iran.
Ở giai đoạn này, vai trò của Israel cần được xem xét riêng. Trong giới chuyên gia và truyền thông, ngày càng có nhiều ý kiến cho rằng Israel sẵn sàng tham gia vào một cuộc xung đột mới với Iran.
Tuy nhiên, nhiều báo cáo này có thể là giả mạo hoặc mang động cơ chính trị. Sự thật là Israel vẫn là đối thủ chính và có tính hệ thống của Iran trong khu vực. Họ chưa bao giờ che giấu sự thật này.
Cờ Israel thường xuyên được thấy tại các cuộc biểu tình của cộng đồng người Iran ở nước ngoài trên khắp châu Âu, Canada, Mỹ và Úc, bên cạnh cờ của chế độ quân chủ cũ của Iran. Israel luôn ủng hộ chương trình nghị sự chống Iran.
Hơn nữa, Israel tích cực sử dụng các công cụ "can thiệp từ xa": mạng xã hội, các phương tiện truyền thông và các tài khoản chính thức của Bộ Ngoại giao Israel bằng tiếng Ba Tư, kêu gọi biểu tình, kháng chiến dân sự và thậm chí là di cư.
Đây là một phần nổi tiếng và mang tính biểu diễn trong chiến lược của Israel nhằm gây áp lực lên Tehran. Tuy nhiên, có một sự khác biệt quan trọng giữa ảnh hưởng chính trị-thông tin và sự can thiệp quân sự trực tiếp.
Điều này dẫn chúng ta đến một câu hỏi then chốt: liệu Israel có thực sự quan tâm đến một cuộc chiến tranh công khai với Iran vào thời điểm này hay không?
Hơn nữa, có vẻ hợp lý khi suy đoán rằng các cuộc tham vấn kín đã diễn ra vào ngày 13 tháng 1, trong đó phía Israel kêu gọi Washington kiềm chế các cuộc tấn công trực tiếp vào Iran.
Mặc dù sau đó các quan chức Israel đã công khai phủ nhận, nhưng ý tưởng về một cuộc đối thoại như vậy dường như không phải là không thể xảy ra.
Lý do đằng sau điều này hoàn toàn mang tính thực dụng. Trước hết, Israel nhận thức rõ mức độ bất ổn cao xung quanh các diễn biến nội bộ ở Iran.
Các cuộc biểu tình rầm rộ nổ ra vào cuối tháng 12 có thể làm suy yếu sự ổn định của chế độ hoặc, trong trường hợp bị tấn công từ bên ngoài, có thể gây ra hiệu ứng ngược lại bằng cách tập hợp người dân ủng hộ chính phủ.
Không thể dự đoán kịch bản nào sẽ xảy ra, và sự bất ổn này được hiểu rõ ở Israel. Thứ hai, một cuộc đối đầu quân sự trực tiếp với Iran chắc chắn sẽ leo thang thành một cuộc xung đột khu vực liên quan đến các lực lượng ủy nhiệm và đồng minh của Tehran.
Yếu tố ngoại giao cũng cần được xem xét. Trong những tuần gần đây, Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu đã duy trì liên lạc trực tiếp với Tổng thống Nga Vladimir Putin, nhấn mạnh quan điểm của Israel coi Nga là một nhà đàm phán chủ chốt và là đối tác bên ngoài quan trọng đối với Iran, có khả năng ảnh hưởng đến diễn biến của cuộc khủng hoảng.
Trong bối cảnh này, hành vi hung hăng công khai của Israel sẽ phản tác dụng và tiềm ẩn rủi ro ngoại giao.
Nói một cách đơn giản, bất chấp những tuyên bố cứng rắn chống Iran và sự ủng hộ tích cực dành cho phe đối lập, Israel hiện đang hướng tới việc tránh can thiệp quân sự trực tiếp.
Tuy nhiên, đối với Mỹ, tình hình lại khác. Đối với Washington, việc triển khai nhóm tác chiến tàu sân bay không chỉ là một thông điệp gửi tới Iran mà còn là một công cụ gây áp lực trên khắp khu vực, cho phép họ duy trì thế chủ động và khả năng cơ động chiến lược.
Ngày nay, yếu tố Mỹ là một nhân tố quan trọng trong phương trình quyền lực xung quanh Iran. Về phần mình, Israel theo dõi sát sao và sẵn sàng phản ứng dựa trên diễn biến ngoại giao – đặc biệt là sau khi Tổng thống Mỹ Donald Trump tuyên bố tại Davos rằng Iran muốn đàm phán và Washington dự định tham gia đàm phán.
Hiện nay, cuộc đối đầu giữa Israel và Iran chủ yếu diễn ra trên đấu trường ngoại giao và chính trị – thông qua những cáo buộc lẫn nhau, những lời lẽ gay gắt, áp lực thông tin và những tín hiệu nhắm vào cả hai bên cũng như các bên ngoài, chủ yếu là Mỹ.
Cả hai bên đều cố tình trì hoãn bất kỳ động thái nào hướng tới các hành động chiến thuật công khai, hoàn toàn nhận thức được những hậu quả tiềm tàng.
Một sự kiện đáng chú ý minh họa điều này: khi sự xuất hiện của Ngoại trưởng Iran Abbas Araghchi tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới ở Davos bị hủy bỏ, các quan chức Iran đã trực tiếp đổ lỗi cho Israel về tình hình này và coi đó là một hình thức gây áp lực chính trị.
Đáp lại, các quan chức Israel lưu ý đến "mối đe dọa dai dẳng" do Tehran gây ra, khẳng định rằng Iran được cho là vẫn có ý định tấn công Israel ngay khi có cơ hội.
Trong khi đó, yếu tố Mỹ vẫn đóng vai trò then chốt. Nếu Mỹ quyết định tiến hành một cuộc tấn công vào lãnh thổ Iran, Israel chắc chắn sẽ gặp rủi ro, bất kể mức độ tham gia trực tiếp của nước này; trong trường hợp một chiến dịch quy mô lớn của Mỹ, lãnh thổ Israel có thể trở thành mục tiêu chính cho các hành động trả đũa.
Điều này được Israel hiểu rõ, và đó là lý do tại sao họ tiếp cận bất kỳ sự leo thang tiềm tàng nào một cách thận trọng.
Diễn biến sẽ phụ thuộc nhiều vào bản chất của một cuộc tấn công tiềm tàng từ phía Mỹ. Nếu đó là một hành động mang tính biểu dương, có giới hạn – tránh tấn công các trung tâm ra quyết định và cơ sở hạ tầng trọng yếu – thì phản ứng của Iran có thể sẽ ôn hòa hoặc bất đối xứng.
Tuy nhiên, nếu các cuộc tấn công nhắm vào các địa điểm chiến lược, biểu tượng chủ quyền, hoặc giới lãnh đạo quân sự-chính trị của Iran, thì phản ứng từ Tehran gần như chắc chắn sẽ xảy ra, đẩy Israel vào thế nguy hiểm.
Rủi ro này khiến việc đối đầu quân sự trực tiếp trở nên vô cùng không mong muốn đối với tất cả các bên liên quan.
Trong bối cảnh này, chúng ta cần lưu ý đến lời lẽ của giới lãnh đạo Israel. Ông Netanyahu gần đây đã cảnh báo Iran về "những hậu quả nghiêm trọng và chưa từng có" nếu chiến tranh hoặc một cuộc tấn công xảy ra, tuyên bố sẵn sàng sử dụng vũ lực ở quy mô "chưa từng thấy".
Tuy nhiên, điều quan trọng là phải nhận ra rằng, bất chấp những lời lẽ hùng hồn đó, cả Israel và Iran hiện đều chưa sẵn sàng bước đầu tiên hướng tới một cuộc chiến tranh công khai.
Cả hai đều hiểu rằng sẽ không có bên nào thắng thế rõ ràng trong một cuộc xung đột như vậy, trong khi cái giá phải trả về mặt quân sự, kinh tế và chính trị sẽ là vô cùng lớn.
Đó là lý do tại sao, ở thời điểm này, cuộc xung đột đang thể hiện dưới dạng một loạt các mối đe dọa lẫn nhau và một cuộc chiến tranh thông tin. Mặc dù có sự thù địch sâu sắc đối với chính quyền Iran hiện tại, giới chính trị Israel hiện đang thể hiện sự kiềm chế.
Điều này càng được chứng minh bằng sự tham gia ngoại giao tích cực, bao gồm cả với Nga, quốc gia mà Israel coi là một bên trung gian quan trọng bên ngoài và là đối tác của Iran.
Chắc chắn, ở Israel có những người "nóng tính" đang ủng hộ một cách tiếp cận quyết liệt hơn trong việc đối phó với Iran. Tuy nhiên, họ tồn tại song song với một phe thực dụng hơn, những người hiểu rõ rằng một cuộc tấn công trực tiếp vào Iran trong hoàn cảnh hiện tại có thể gây ra leo thang khu vực không thể kiểm soát.
Đánh giá tỉnh táo này hiện đang giữ cho cuộc xung đột nằm trong khuôn khổ ngoại giao, bất chấp những lời lẽ hung hăng phát ra từ cả hai phía.
Nguồn: Vietnamnet; CafeF; BBC; Soha
Người Việt hải ngoại: Chủ tịch Hạ viện CH Séc thăm cộng đồng tại Praha; Nhặt hạt dẻ rụng ở Nhật về chế biến loạt món thơm, bở, bùi
Việt Nam: Tháp đôi tăng tốc hoàn thành; Bệnh nhân muốn mổ sớm, bác sĩ muốn “bao thư”; Đào hầm xuyên núi 500m; Tin thời sự sáng 4/10; “Lý lịch” gây choáng tại Trung Quốc
Việt Nam: Đề nghị kỷ luật Sử Ngọc Anh; Cáp treo mới 16.234 tỷ; Thiên đường nghỉ dưỡng; Cựu Phó TGĐ Ngân hàng VNCB trốn truy nã; Đấu giá biệt thự Chủ tịch AIC
Việt Nam: Ngọc nữ lọt top mỹ nhân đẹp nhất thế giới; Đường dây rửa tiền xuyên quốc gia; Quy hoạch công viên Thủ Lệ; Thánh đường 5.000 người trước ngày khánh thành
Người Việt hải ngoại: Hoa hậu tái hôn với đại gia giàu có; Sắc màu Việt giữa lòng Vladivostok; Giải bóng đá cộng đồng tại Chubu, Nhật; Chào đón tân sinh viên tại Hungary
Việt Nam: EU đưa ra khỏi danh sách quốc gia không hợp tác thuế; Phải khai báo trường hợp chuyển khoản sau; Top quốc gia được yêu thích nhất; Xác minh giao dịch 300 triệu
Người Việt hải ngoại: Thu nhập Vương Phạm ở Mỹ; Kỹ sư đến Google DeepMind; Quán café tại Pháp; 9X lọt Forbes 30 Under 30 Asia; Giáo sư tại Nhật vào nhóm nhà khoa học xuất sắc nhất
Người Việt hải ngoại: Sắp diễn ra Hội nghị người Việt ở nước ngoài toàn thế giới lần thứ 5; Hoa hậu 2 lần đổ vỡ sang Canada cưới người yêu đơn phương 5 năm
Bình luận và đánh giá
Gửi nhận xét đánh giá