Nhu cầu vàng tăng vọt; Cuộc chiến lạm phát; Iran bị 'réo tên ở Hamas; Bệnh viện Gaza tê liệt; 'Sóng ngầm' bán đảo Triều Tiên

Nhu cầu vàng tăng vọt khắp nơi trên thế giới bất chấp giá cao

(Ảnh minh họa).

Nhu cầu vàng ở châu Á mạnh mẽ trước mùa lễ hội mặc dù giá tăng cao. Trong khi phần lớn nhu cầu là đồ trang sức, song cũng ngày càng có nhiều nhà đầu tư tham gia vào hoạt động mua bán vàng.

Sự ‘thèm khát’ vàng huyền thoại ở châu Á vẫn tồn tại khi mùa lễ hội và mùa cưới đang đến gần, bất chấp giá tăng vọt do cuộc chiến tranh Israel-Gaza.

Từ lâu, vàng được coi là tài sản lưu trữ có giá trị. Giá kim loại này đã tăng lên mức cao nhất trong vòng 5 tháng vào ngày 27/10, trên 2.000 USD/ounce - gần sát mức cao nhất mọi thời đại, sau khi nổ ra cuộc xung đột ở Trung Đông. Kể từ đó, giá đã giảm dần, hiện ở mức khoảng 1.940 USD, khi nhu cầu mua làm tài sản ‘trú ẩn an toàn’ đã giảm bớt. Tuy nhiên, thị trường vàng vẫn chưa qua cơn ‘nóng sốt’.

“Do giá giảm một chút, nhu cầu mua lại tăng lên, mặc dù không ai chắc chắn khi nào giá sẽ tăng trở lại vì chiến tranh”, Bachhraj Bamalwa, chủ sở hữu doanh nghiệp Nemiahand Bamalwa and Sons, một nhà bán lẻ vàng và kim cương lớn có trụ sở tại Kolkata, cho biết.

Theo ông Bamalwa: “Nhiều người tổ chức đám cưới từ tháng 11 đến tháng 1. Đối với họ, việc mua vàng là bắt buộc”, và thêm rằng vàng được trao cho cô dâu như một hình thức tiết kiệm trọn đời, đồng thời được coi là biểu tượng của sự may mắn.

Lễ hội Diwali của Ấn Độ, sẽ diễn ra vào cuối tuần này, cũng đang thúc đẩy việc mua sắm vì đó được coi là điềm lành. Tuy nhiên, giá cao khiến nhiều người tiêu dùng chọn mua vàng có trọng lượng nhỏ hơn.

Các nhà kinh doanh đồ trang sức lớn đã tích trữ đồ trang sức trước lễ hội và đang chờ xem liệu cuộc chiến tranh Israel-Gaza ở Trung Đông có leo thang hay không.

“Nếu tình hình ổn định thì giá có thể giảm khoảng 100 USD/ounce trong vài tuần tới. Nhưng từ tháng 1 đến tháng 2, chúng tôi cho rằng giá có thể tăng lên tới 2.200 USD/ounce”, Ganesh Agarwal, giám đốc của Shiv Sahai and Sons, một trong những đại lý vàng miếng lớn nhất Ấn Độ, cho biết.

Giá vàng có khả năng tăng cao hơn nữa khi các quốc gia phương Tây dự kiến sẽ bơm thêm tiền mặt và giảm lãi suất ngân hàng vào năm tới sau chu kỳ thắt chặt kéo dài nhằm ngăn chặn việc nền kinh tế hạ cánh khó khăn trong bối cảnh triển vọng toàn cầu ngày càng tồi tệ do các cuộc xung đột Nga-Ukraine và Israel-Gaza.

Một cửa hàng đồ trang sức ở Srinagar, Ấn Độ. Các nhà sản xuất đồ trang sức ở Kashmir thường làm việc trong các cửa hàng nhỏ, tạo ra đồ trang sức theo yêu cầu.

Ấn Độ và Trung Quốc là 2 nước tiêu thụ vàng lớn nhất thế giới, chiếm tổng cộng hơn một nửa thị trường toàn cầu.

Tâm lý mua hàng ở Ấn Độ vẫn còn nguyên trong mùa lễ hội và đám cưới, giai đoạn mà phần lớn lượng vàng được tiêu thụ trong năm.

P.R. Somasundaram, Giám đốc điều hành khu vực nam Á của Hội đồng Vàng Thế giới, cho biết: “Có thể nhu cầu sẽ không tăng vọt vì giá dù giảm nhưng vẫn đang rát cao, nhưng chắc chắn sẽ có sự gia tăng”. “Nếu giá giảm thì người ta sẽ mua cho mùa cưới. Nhu cầu vẫn có khả năng sẽ rất mạnh.”

Hầu hết nhu cầu vàng của Ấn Độ là dành cho đồ trang sức chứ không chỉ dành cho đầu tư. Tuy nhiên, ngày càng có nhiều nhà đầu tư phân bổ một phần danh mục đầu tư của họ vào vàng.

Hoạt động mua vàng ở các trung tâm khác của châu Á cũng rất mạnh mẽ.

Người phát ngôn của Chow Tai Fook Jewellery Group cho biết: “Gần đây, chúng tôi nhận thấy sự gia tăng trong hoạt động mua vàng ở Hồng Kông, điều này có thể một phần là do Lễ hội mùa xuân sắp tới, theo truyền thống là mùa cao điểm để mua đồ trang sức bằng vàng”.

“Khách hàng mua các sản phẩm như đồ trang sức và tiền vàng của Năm Mão để gửi lời chúc phúc và lời chúc tốt đẹp đến những người thân yêu của họ”.

Tết Nguyên đán sắp tới sẽ rơi vào ngày 10/2 năm sau, đánh dấu sự khởi đầu của kỳ nghỉ lễ hội mùa xuân, ngày lễ lớn nhất ở Trung Quốc.

Người phát ngôn của Chow Tai Fook cho biết việc nới lỏng các hạn chế liên quan đến Covid-19 và số lượng đám cưới tăng lên đã giải phóng nhu cầu đồ trang sức cô dâu – đã bị dồn nén trong suốt mùa dịch.

Doanh số bán hàng tại Hồng Kông cũng đang gia tăng mạnh mẽ nhờ các khách hàng từ Trung Quốc đại lục và Đài Loan (Trung Quốc).

Ông Padraig Seif, người sáng lập công ty Precious Metals Asia, có trụ sở tại Hồng Kông, cho biết: “Doanh số bán hàng của chúng tôi trong tháng 10 đã cao hơn gấp đôi tháng 9 và gần gấp đôi tháng 8”.

Nhiều giao dịch mua là của các thương nhân muốn tận dụng mức giá ở Hồng Kông rẻ hơn so với ở đại lục, nơi đang thiếu vàng.

Ông Seif cho biết chênh lệch giá vàng ở Thượng Hải – khoản chi phí tăng thêm được trả để đảm bảo giao hàng nhanh chóng và trang trải chi phí chung – là khoảng 10.000 nhân dân tệ (1.370 USD) so với khoảng 90 USD đến 130 USD ở Hồng Kông.

“Những khách hàng lâu năm của chúng tôi đã trở lại từ đầu năm nay và thúc đẩy doanh số bán hàng lên mức trước đại dịch”, ông Seif cho biết.

Trong khi thị trường vàng châu Á diễn ra sôi động, nhu cầu vàng vật chất ở châu Âu đã sụt giảm mạnh sau 4 năm tăng trưởng mạnh, trong bối cảnh lãi suất tiết kiệm tăng và lạm phát ở mức vừa phải.

Cuộc chiến tranh Israel – Hamas đã thúc đẩy nhu cầu mạnh lên ở cả Trung Đông và Thổ Nhĩ Kỳ, khiến các nhà đầu tư lo ngại có thể lây lan sang khắp khu vực. Tuy nhiên, các nhà phân tích bắt đầu đặt câu hỏi liệu các đợt tăng giá vàng do cuộc chiến tranh này có bền vững hay không? Và giả sử chiến tranh không leo thang thì các nhà đầu tư có bán chốt lời hay không? Nếu điều đó xảy ra, có thể giá sẽ giảm mạnh.

Dự đoán, trong vài tháng tới, giá vàng có thể không còn chịu tác động quá nhiều bởi chiến tranh như hiện nay, mà dự kiến mỗi sự thay đổi về giá sẽ bắt nguồn từ những biến động của đồng đô la Mỹ và dòng vốn đầu tư.

Hai thái cực trong cuộc chiến chống lạm phát tại các quốc gia giàu có

Tờ The Economist của Anh đã chỉ ra lý do tại sao các nước giàu có như Mỹ, Australia, Anh và Canada lại bị tụt phía sau trong cuộc chiến chống lạm phát.

Liệu cơn ác mộng lạm phát có sớm kết thúc? Khắp Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) - câu lạc bộ quy tụ phần lớn các quốc gia giàu có, lạm phát giá tiêu dùng đã giảm từ mức đỉnh 10,7% của tháng 10/2022 xuống còn 6,2%. Tăng trưởng tiền lương cũng đang chậm lại. Giới đầu tư hy vọng rằng, chẳng bao lâu nữa, các nước này sẽ có nhiều tiến bộ hơn, cho phép ngân hàng trung ương cắt giảm lãi suất.

Dù vậy, bước tiến đó có thể chỉ đủ để họ vượt lên chính mình. Năm ngoái, The Economist đã tính toán về tình trạng “lạm phát cố hữu”. Nó cho thấy “căn bệnh” này, có triệu chứng xuất hiện đầu tiên ở Mỹ, đang bắt đầu lây lan sang toàn bộ thế giới phát triển. Các nhà phân tích đã tập trung vào năm thước đo: lạm phát lõi, chi phí lao động, độ phân tán lạm phát, lạm phát dự kiến cùng với hành vi tìm kiếm trên Google. Sau đó, họ xếp hạng 10 quốc gia OECD (gồm Australia, Anh, Đức, Canada, Mỹ, Pháp, Italy, Tây Ban Nha, Hàn Quốc, Nhật Bản) theo từng chỉ số và kết hợp các thứ hạng này để tạo thành điểm “lạm phát cố hữu”.

Nhìn chung, dữ liệu cho thấy lạm phát sẽ tiếp tục gia tăng, có lẽ còn cao hơn so với năm 2022. Tình hình là tồi tệ nhất tại các quốc gia nói tiếng Anh, trong đó có Australia và Anh. Tuy nhiên vẫn có những điểm sáng trong cuộc chiến chống lạm phát. Italy và Tây Ban Nha đang đi đúng hướng. Còn ở châu Á, cụ thể là Nhật Bản và Hàn Quốc, trận chiến dường như sắp kết thúc. Vậy những nước đang đấu tranh có thể rút ra bài học gì từ những quốc gia sắp chiến thắng lạm phát?

Ở Australia, quốc gia có thành tích tệ nhất, thị trường lao động đang bùng cháy. Trong năm qua, chi phí lao động - được đo bằng số tiền người sử dụng lao động trả cho người lao động để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm - đã tăng mạnh 7,1%, nhanh hơn bất kỳ quốc gia nào khác trong khảo sát. Cũng không có quốc gia nào có độ phân tán lạm phát cao hơn Canada. Tỷ trọng giá tiêu dùng của nền kinh tế này đang tăng hơn 2% so với cùng kỳ năm ngoái.

Các quốc gia nói tiếng Anh khác cũng gặp phải nhiều vấn đề. Dữ liệu từ các nhà nghiên cứu tại Ngân hàng Dự trữ Liên bang Cleveland, công ty dữ liệu Morning Consult, và chuyên gia Raphael Schoenle tại Đại học Brandeis đã cung cấp thước đo xuyên quốc gia về những gì công chúng kỳ vọng sẽ xảy ra với giá cả. Người Canada nghĩ rằng giá tiêu dùng sẽ tăng 5,7% trong năm tới, mức cao nhất trong nhóm các nước được khảo sát. Người Canada cũng thường xuyên tra cứu các thuật ngữ liên quan đến lạm phát trên Google. Về phần mình, người Anh đang phải chịu mức lạm phát cơ bản (không bao gồm giá thực phẩm và năng lượng) là 6,1% hàng năm, tức cao nhất trong nhóm 10 nước. Các chỉ số của nước Mỹ không quá tệ, song cũng không tốt đẹp.

Mức độ lạm phát kéo dài này có thể phản ánh thực trạng của biện pháp kích thích tài chính ở các quốc gia nói tiếng Anh trong năm 2020-21, mặc dù lớn hơn khoảng 40% so với các nước giàu khác. Nó đã tập trung hơn vào việc hỗ trợ các hộ gia đình, chẳng hạn như cấp chi phiếu chi tiêu, hơn là các biện pháp để duy trì hoạt động kinh doanh. Điều này có thể đã thúc đẩy nhu cầu mua sắm hơn nữa. Thật vậy, một phân tích mới của hai chuyên gia Robert Barro tại Đại học Harvard và Francesco Bianchi tại Đại học Johns Hopkins đã chỉ ra được bằng chứng về mối liên hệ giữa việc mở rộng tài chính trong đại dịch COVID-19 và lạm phát sau đó.

Chính sách tiền tệ là một yếu tố khác. Khi dịch bệnh bùng phát, các ngân hàng trung ương ở Mỹ, Australia, Anh và Canada đã giảm lãi suất trung bình 1 điểm phần trăm - mức cắt giảm lớn gấp đôi so với các nước khác trong thế giới giàu có. Động thái kích thích bổ sung đó có thể đã đẩy lạm phát lên cao.

Trong khoảng một năm qua, các quốc gia nói tiếng Anh cũng đã tiếp nhận rất nhiều người di cư. Yếu tố này trong ngắn hạn có thể gây ra lạm phát vì những người mới đến sẽ gây cạnh tranh về nhu cầu nhà ở và đẩy giá thuê nhà lên cao. Ước tính của ngân hàng Goldman Sachs cho thấy tỷ lệ nhập cư hàng năm hiện tại của Australia là 500.000 người đang làm tăng lạm phát lên khoảng nửa điểm phần trăm.

Vậy tại sao các nước OECD khác lại làm tốt hơn? Làn sóng lạm phát cao ở châu Á được dự báo sẽ sớm kết thúc. Người Nhật dự kiến giá cả sẽ chỉ tăng 1,5% trong năm tới. Người Hàn Quốc thậm chí còn không bận tâm tìm kiếm thông tin về lạm phát. Và lịch sử gần đây có thể đóng một vai trò trong việc giải thích tình trạng trên.

Trước đại dịch, các nước châu Á giàu có đã trải qua lạm phát thấp trong một thời gian dài đến mức họ đã quen với nó. Sau đợt lạm phát tăng vọt vào năm 2021-22, hành vi của các doanh nghiệp và hộ gia đình có thể đã chuyển sang hướng chống lạm phát nhanh hơn. Ngược lại, ở những nơi như Anh, nơi đã trải qua đợt lạm phát gia tăng vào năm 2008, 2011 và 2017, mọi người có thể đã phát triển tư duy lạm phát hơn.

Ở châu Âu, kỳ vọng lạm phát đã giảm rất nhiều so với mức đỉnh điểm. Bức tranh đặc biệt tươi sáng ở nhiều nơi trên lục địa. Nhờ sự kết hợp giữa đường lối chính sách và yếu tố may mắn, năm ngoái giá năng lượng không tăng mạnh ở Italy và Tây Ban Nha như các nước khác. Điều đó có thể khiến người dân không lường trước được lạm phát tiếp theo.

Pháp, với nền kinh tế phát triển hơn, xếp ở khoảng giữa các nước nói tiếng Anh và châu Á. Đức là một câu chuyện khác. Ngày xưa, người lao động Đức nổi tiếng về việc bị hạn chế tiền lương. Hiện nay, với thị trường việc làm cực kỳ thắt chặt, chi phí lao động trên mỗi đơn vị đang tăng hơn 7% mỗi năm. Độ phân tán giá cả cũng cao bất thường. Các nhà kinh tế Đức đang phải nhìn các nước Nam Âu với ánh mắt ghen tị.

Chiến tranh Israel-Hamas: Vì sao mọi người đang nhắc đến Iran?

(Ảnh minh họa).

Sau khi Hamas tiến hành cuộc tấn công chết chóc nhằm vào Israel, Lãnh tụ tối cao của của Iran đã ca ngợi điều mà ông gọi là một "trận động đất tàn phá" nhằm vào Israel, và nói thêm: "Chúng tôi hôn vào bàn tay của những người lên kế hoạch tấn công."

Nhưng Giáo chủ Ayatollah Ali Khamenei cũng nhanh chóng bác bỏ việc Iran có bất kỳ liên quan nào đến vụ tấn công, vốn khiến 1.200 người chết và hơn 240 người bị bắt giữ làm con tin. Kể từ khi đó, Israel đã tiến hành các cuộc không kích và chiến dịch trên bộ ở Gaza, khiến hơn 11.000 người chết, theo Bộ Y tế do Hamas lãnh đạo.

Trong bối cảnh Iran bác bỏ liên quan, tại sao quốc gia này lại tiếp tục thu hút sự quan tâm của cả truyền thông xã hội và chính thống, cùng với Hamas, xét về mối liên hệ với cuộc tấn công?

Có lẽ cơ sở đằng sau điều này, nói một cách thẳng thắn, đó là sự ủng hộ kiên định về điều gọi là Trục Phản kháng (Axis of Resistance).

Đây là một liên minh các nhóm chống lại sức ảnh hưởng của Israel và Mỹ ở Trung Đông. Liên minh này gồm Hamas, Hezbollah ở Lebanon, các chiến binh ở Iraq và phiến quân Houthi ở Yemen.

Iran, đang gánh các lệnh trừng phạt quốc tế liên quan đến những vi phạm về nhân quyền và tham vọng hạt nhân, hiện phải đối phó với những thách thức về kinh tế và chính trị.

Trong nỗ lực bảo vệ các lợi ích của mình, Iran đã bị cáo buộc sử dụng những đồng minh và các thế lực được 'mượn tay' để chống lại những kẻ thù trong khu vực. Hezbollah và Hamas đều đã được hưởng lợi từ việc đi đầu trong phong trào chống Israel.

Lịch sử giữa Iran và Israel như thế nào?

Mặc dù vậy, Israel và Iran không phải lúc nào cũng là kẻ thù 'không đội trời chung'. Trước khi nổ ra cuộc Cách mạng Hồi giáo năm 1979 và thời điểm thành lập Cộng hòa Hồi giáo, Iran - một quốc gia không phải Ả Rập - được xem là đồng minh chiến lược của Israel.

Nhưng điều này đã bị xoay chuyển trong bối cảnh cuộc cách mạng đã giúp Giáo chủ Ayatollah Ruhollah Khomeini lên nắm quyền, biến Iran trở thành một nhà nước theo thể chế "tôn giáo thống trị dân sự", hay còn gọi là "chính trị thần quyền" (political theocracy), với diễn ngôn chống Israel.

Lý lẽ của Palestine trở thành một phần quan trọng trong tường thuật của quốc gia này, được ủng hộ mạnh mẽ, không chỉ trong các vòng tròn Hồi giáo mà còn các cộng đồng tri thức và cánh tả.

Chỉ sáu ngày sau cuộc cách mạng, Yasser Arafat, khi đó là nhà lãnh đạo của Phong trào Giải phóng Palestine (PLO), đã trở thành một nhân vật cấp cao nước ngoài đầu tiên gặp Giáo chủ Ayatollah Khomeini và chính phủ lâm thời ở Tehran.

Chỉ vài giờ sau cuộc gặp của Arafat với nội các mới, Iran đã cắt đứt quan hệ ngoại giao với Irael.

Tuy nhiên, mọi chuyện không đi một đường thẳng như vẻ ngoài.

Mặc cho có quãng thời gian 'tìm hiểu' với phía Palestine, không mất nhiều thời gian để Iran chấp nhận sự ủng hộ quân sự từ Israel. Trong suốt những năm đầu xảy ra cuộc chiến tranh Iran-Iraq, kéo dài từ năm 1980 đến 1988, Israel đã không chính thức mở rộng các hình thức khác nhau về sự hỗ trợ quân sự dành cho Iran thông qua các thực thể trung gian.

Đây là một liên minh không thể nào có khả năng xảy ra, nhưng đối với Israel, khi cuộc chiến tranh này vẫn đang diễn ra, liên minh này giúp Iran và Iraq chiếm nhau trước.

Nhưng đây là một ngoại lệ trong một vòng xoáy bạo lực, đe dọa và cáo buộc lẫn nhau không bao giờ chấm dứt.

Trong suốt những năm 1980 và 1990, Israel và Mỹ đều cáo buộc Iran có liên quan đến một loạt những vụ nổ gây thương vong, điều Iran luôn bác bỏ. Iran nói Israel đứng đằng sau vụ ám sát một số nhà khoa học hạt nhân của Iran và cả hai quốc gia này đều lên án lẫn nhau cho các cuộc tấn công mạng.

Quan hệ giữa Iran và Hamas như thế nào?

Nhóm chiến binh Palestine và đảng chính trị Hamas được thành lập vào năm 1987 và đã kiểm soát Dải Gaza kể từ năm 2007, nơi Palestine thường tiến hành phóng rocket nhằm vào các thành phố của Israel. Mỹ, Anh và các quốc gia khác đã duy trì chính sách cô lập nhằm vào Hamas, xem đây là một tổ chức khủng bố.

Xuyên suốt những năm 1990 và 2000, Iran đã đóng vai trò quan trọng trong việc hậu thuẫn Hamas, chủ yếu do sự thù hằn chung nhằm vào cùng một kẻ thù thay vì một tư tưởng tôn giáo hoặc quan điểm chính trị chung. Hamas và chế độ Iran theo các phân nhánh Hồi giáo khác nhau - Hamas là người Hồi giáo Sunni trong khi chế độ của Iran là dựa theo dòng Hồi giáo của người Shia.

Nhưng mối quan hệ trở nên xấu đi vào năm 2012 khi Hamas từ chối việc ủng hộ đồng minh của Iran, Tổng thống Syria Bashar al-Assad, trong bối cảnh quốc gia này xảy ra nội chiến. Đáp lại, Iran đã ngừng cung cấp hỗ trợ tài chính cho Hamas và thu hẹp quy mô đối với các hoạt động quân sự của nhóm này.

Vào năm 2015, sự chia rẽ ngày càng sâu sắc khi Hamas và Saudi Arabia - một kẻ thù lâu năm của Iran - nối lại quan hệ. Iran đã ủng hộ các phiến quân Houthi người Shia trong cuộc nội chiến ở Yemen, chống lại Saudi Arabia, quốc gia đã hậu thuẫn cho lực lượng chính phủ tại đây.

Mối rạn nứt giữa Iran và Hamas, cùng việc rút nguồn tài trợ đồng nghĩa các nhóm người Palestine đã mất một nguồn tiền quan trọng - nguồn tiền mà những người ở Gaza dựa vào. Không có nguồn tiền này, những người dân thường phải gánh chịu khó khăn đáng kể.

Tuy nhiên, kể từ năm 2017, và đáng chú ý khi một số nước Ả Rập thắt chặt mối quan hệ gần hơn với Israel, giữa Iran và Hamas tan băng trong mối quan hệ ngoại giao, và nỗ lực chung được tiến hành để thiết lập lại liên minh.

Trong khi đó, Mỹ, quốc gia ủng hộ Israel, tuyên bố, mặc dù không có bằng chứng nào về mối liên hệ trực tiếp, Washington tin rằng Iran có góp phần trong cuộc tấn công ngày 7/10 thông qua việc viện trợ nhánh quân sự Hamas trong những năm qua.

Hezbollah phải làm gì trong cuộc xung đột?

Hezbollah, một nhóm chiến binh người Shia, đóng tại Lebanon ở biên giới phía bắc của Israel, đã tạo nên một lực lượng quan trọng khác, gọi là Trục Phản kháng (Axis of Resistance). Iran đóng vai trò trung tâm trong việc hình thành nên Hezbollah, và giống Hamas, bị Mỹ, Anh và các nước khác xem là tổ chức khủng bố.

Qua bốn thập kỷ, sự ủng hộ kiên định của Iran vẫn không bị thay đổi khi thủ lĩnh của Hezbollah, Hassan Nasrallah công khai tuyên bố trung thành với Lãnh tụ tối cao của Iran.

Nhưng Hezbollah là một lực lượng mạnh và phức tạp hơn nhiều so với Hamas, và tham gia vào những chuyển biến chính trị trên khắp Trung Đông.

Đơn vị chiến binh của nhóm này nằm trong số những thành phần không thuộc nhà nước có khả năng tinh nhuệ nhất và được huấn luyện, trang bị tốt hơn một số các đội quân thông thường trong khu vực.

Trong cuộc chiến tranh lớn giữa tổ chức này với Israel hồi năm 2006, hỏa lực và tính kỷ luật trong quân đội đã khiến nhiều người ngỡ ngàng. Giao tranh giữa Hezbollah và Israel đã leo thang trong những tuần gần qua.

Liệu Iran sẽ can dự vào xung đột Israel-Hamas?

Trong cuộc đối thoại giữa hai bộ trưởng Anh và Iran hồi đầu tháng 11, ông James Cleverly đã hối thúc người đồng cấp Hossein Amir-Abdollahian đảm bảo Iran sử dụng sức ảnh hưởng để ngăn chặn leo thang.

Một tuần theo sau cuộc tấn công ngày 7/10, trong bối cảnh quốc tế lên án những hành động của Hamas, Hossein Hossein Amir-Abdollahian đã gặp thủ lĩnh được công nhận của Hamas, tại Qatar.

Ngoại trưởng Iran đã nhân cơ hội này đưa ra lời cảnh báo với phía Israel rằng nếu cuộc ném bom ở Gaza tiếp diễn, có thể có những hậu quả không thể tiên đoán trước được trong khu vực.

Lời cảnh báo này được Lãnh tụ tối cao Iran, Ayatollah Ali Khamenei hưởng ứng, người đã tuyên bố: "Lực lượng phản kháng sẽ đánh mất sự kiên nhẫn. Không ai có thể ngăn chặn họ ở mức đó."

Hệ thống bệnh viện Gaza tê liệt

Các bệnh viện trên khắp Gaza đang cạn kiệt năng lượng và vật tư y tế, buộc các y, bác sĩ làm việc trong điều kiện tồi tệ trong khi hàng ngàn người dân chen chúc tìm nơi trú ẩn.

Al Shifa và Al-Quds, hai bệnh viện lớn nhất và lớn thứ hai ở Gaza, cho biết họ đang tạm dừng hoạt động. Theo Reuters, dù có nhiều người thiệt mạng và bị thương mỗi ngày nhưng 1/2 tổng số bệnh viện trên khắp Gaza hiện không còn hoạt động và ngày càng có ít nơi có thể điều trị cho những người bị thương.

Tổng Giám đốc Tổ chức Y tế thế giới (WHO) Tedros Adhanom Ghebreyesus hôm 12-11 cho biết cơ quan này đang tìm cách khôi phục liên lạc với các chuyên gia y tế tại Bệnh viện Al Shifa.

Theo ông Ghebreyesus, tình hình hiện rất "nghiêm trọng và nguy hiểm", số bệnh nhân tử vong đang tăng nhanh, đồng thời kêu gọi ngừng bắn ngay lập tức. Trong 36 ngày qua, WHO đã ghi nhận ít nhất 137 vụ tấn công vào các cơ sở y tế ở Gaza khiến 521 người chết và 686 người bị thương.

Đại diện Quỹ Dân số, Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF) và WHO cho biết các cuộc đụng độ đang diễn ra xung quanh một số bệnh viện ở phía Bắc Gaza. T

heo các tổ chức này, một số trẻ sơ sinh đang được trợ thở đã tử vong do mất điện, thiếu ôxy và nước tại bệnh viện Al-Shifa trong khi những đứa trẻ khác gặp nguy hiểm. Các tổ chức nhân đạo cho rằng tấn công vào cơ sở y tế và dân thường là không thể chấp nhận được và vi phạm luật pháp quốc tế.

Tổng thống Indonesia Joko Widodo đã kêu gọi ngừng bắn trước cuộc gặp Tổng thống Mỹ Joe Biden tại Washington hôm 13-11. Theo hãng tin Reuters, Liên minh châu Âu (EU) lên án lực lượng Hamas sử dụng bệnh viện và dân thường làm lá chắn sống ở Gaza, đồng thời kêu gọi Israel kiềm chế tối đa để bảo vệ dân thường.

Hôm 12-11, một quan chức Palestine cho biết Hamas đã đình chỉ các cuộc đàm phán do Israel tấn công Bệnh viện Al Shifa. Trong cuộc điện đàm với Quốc vương Qatar Tamim bin Hamad Al Thani hôm 12-11, Tổng thống Biden đồng ý rằng tất cả con tin bị Hamas bắt giữ phải được trả tự do ngay bây giờ.

Trong khi đó, quân đội Israel tuyên bố tiếp tục tấn công vào trại tị nạn Shati nằm ở ngoại ô TP Gaza, sau khi "phát hiện cơ sở hạ tầng và vũ khí của Hamas bên trong các tòa nhà dân sự, bao gồm Trường ĐH al-Quds và trong một nhà thờ Hồi giáo" - theo kênh Al Jazeera.

“Sóng ngầm” trên bán đảo Triều Tiên

(Ảnh minh họa).

Mỹ và Hàn Quốc đã nhất trí điều chỉnh chiến lược răn đe chung đối với Triều Tiên, một ngày sau khi hai nước này cùng Nhật Bản đạt được đồng thuận trong việc chia sẻ dữ liệu cảnh báo tên lửa. Bình Nhưỡng cũng bắt đầu phản ứng trước loạt động thái này, dấy lên lo ngại về những đợt sóng ngầm có thể làm gia tăng căng thẳng trên bán đảo Triều Tiên.

Yonhap đưa tin, tại Hội nghị Tham vấn An ninh (SCM) lần thứ 55 diễn ra ngày 13/11, Bộ trưởng Quốc phòng Hàn Quốc Shin Won-sik và người đồng cấp Mỹ Lloyd Austin đã ký văn bản điều chỉnh về “Chiến lược răn đe phù hợp” (TDS). TDS ra đời vào năm 2010 và được sửa đổi lần đầu tiên vào năm 2013 sau khi Triều Tiên thử hạt nhân lần 3. Theo thỏa thuận, Mỹ được phép sử dụng các tài sản quân sự chiến lược, bao gồm cả lực lượng hạt nhân, để bảo vệ các đồng minh của mình. Mặc dù nội dung bản cập nhật không được công bố, nhưng những điều chỉnh này được cho là phản ánh rõ nét hơn các mối đe dọa hạt nhân và tên lửa đang gia tăng của Triều Tiên.

Tại hội nghị, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ đã nhấn mạnh "cam kết răn đe mở rộng của Mỹ đối với Hàn Quốc vẫn vững vàng”, trong đó bao gồm việc sử dụng toàn bộ khả năng quân sự của Mỹ để bảo vệ Hàn Quốc. Trong khi đó, Bộ trưởng Quốc phòng Hàn Quốc cho rằng việc Mỹ tăng cường triển khai các khí tài chiến lược tới Seoul trong năm nay đã nâng cao độ tin cậy của cam kết răn đe mở rộng mà Washington đưa ra.

Trước đó, hôm 12/11, theo Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân Hàn Quốc (JCS), Tướng Kim Seung-kyum, lãnh đạo JSC và người đồng cấp Mỹ, Tướng Charles Q. Brown Jr., đã tổ chức cuộc họp Ủy ban Quân sự thường niên tại trụ sở JCS Hàn Quốc ở Thủ đô Seoul. Tại cuộc họp, hai bên đã nhất trí về tầm quan trọng của việc phát triển mối quan hệ phòng thủ chung ngày càng bền chặt và tái khẳng định một cách mạnh mẽ cam kết đối với thế trận phòng thủ chung theo Hiệp ước phòng thủ chung Mỹ - Hàn. Hai bên cũng đã thảo luận về các vụ phóng tên lửa và chương trình hạt nhân, cũng như các vấn đề an ninh liên quan Triều Tiên. Ngoài ra, hai bên cũng công nhận tiến bộ "có ý nghĩa" trong kế hoạch chuyển giao kiểm soát hoạt động thời chiến từ Washington cho Seoul, như việc hoàn thành đánh giá song phương hằng năm về năng lực và hệ thống trong năm 2023.

Trong một diễn biến có liên quan, Bộ trưởng Quốc phòng Hàn Quốc, Nhật Bản và Mỹ tại cuộc họp cùng ngày cũng vừa nhất trí bắt đầu kế hoạch chia sẻ dữ liệu theo thời gian thực về tên lửa của Triều Tiên từ tháng 12 tới. Theo đó, các bộ trưởng đã thảo luận việc tăng cường hợp tác 3 bên trong bối cảnh "môi trường an ninh nghiêm trọng". Bên cạnh đó, các quan chức Mỹ - Nhật - Hàn cũng nhất trí đề ra kế hoạch tập trận 3 bên vào cuối năm nay để thực hiện huấn luyện chung một cách có hệ thống và hiệu quả hơn từ tháng 1/2024.

Trên thực tế, Mỹ và hai nước đồng minh Đông Bắc Á đã tích cực tăng cường hợp tác an ninh 3 bên trong thời gian gần đây. Tháng trước, 3 nước đã cùng triển khai cuộc tập trên không đầu tiên và nối lại tập trận hàng hải gần Bán đảo Triều Tiên sau 7 năm. Triều Tiên liên tục phản đối các cuộc tập trận chung Mỹ_Hàn, coi đây là động thái khiêu khích quân sự, chuẩn bị cho các cuộc tấn công nhằm vào nước này. Trong khi đó, các cuộc gặp của quan chức quốc phòng ba nước Mỹ - Nhật – Hàn cũng diễn ra trong bối cảnh Triều Tiên đang nỗ lực phóng thành công vệ tinh do thám sau hai lần gặp trục trặc. Đây cũng được cho là một phần nỗ lực của Bình Nhưỡng nhằm tăng cường năng lực quân sự, bao gồm cả việc phát triển tên lửa đạn đạo tầm xa, tàu ngầm mang tên lửa. Đáng chú ý, hôm 9/11 vừa qua, Triều Tiên đã lên tiếng cảnh báo về nguy cơ bùng phát xung đột với Hàn Quốc, liên quan đến việc tòa án Hàn Quốc bãi bỏ luật cấm các nhà hoạt động gửi truyền đơn chống Bình Nhưỡng qua biên giới.

"Trong tình hình hiện nay, một tia lửa cũng có thể dẫn đến phát nổ, không có gì đảm bảo rằng các cuộc xung đột quân sự như ở châu Âu và Trung Đông sẽ không nổ ra trên bán đảo Triều Tiên", Hãng Thông tấn Trung ương Triều Tiên (KCNA) cho hay, dấy lên những lo ngại về việc Bán đảo Triều Tiên sẽ lại đối diện làn sóng căng thẳng mới.

Những đợt “sóng ngầm” lại càng xuất hiện nhiều hơn khi ngày 14/11, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ sẽ dự cuộc họp cấp Bộ trưởng quốc phòng lần đầu giữa Hàn Quốc và các nước thành viên Bộ Tư lệnh Liên hiệp quốc (UNC). UNC, do Mỹ đứng đầu, được thành lập vào năm 1950 và đã giám sát việc thực thi hiệp định đình chiến giúp kết thúc Chiến tranh Triều Tiên (1950-1953), hiện giám sát các hoạt động trong khu phi quân sự (DMZ). Tuy nhiên, động thái này tiếp tục vấp phải phản ứng gay gắt từ Triều Tiên, với việc kêu gọi giải tán UNC và gọi đây là “tổ chức chiến tranh bất hợp pháp”.

Triều Tiên cho biết cuộc họp của UNC sắp tới là một "kế hoạch nguy hiểm nhằm khơi mào một cuộc chiến tranh xâm lược mới" chống lại Bình Nhưỡng, trong bối cảnh căng thẳng gia tăng trầm trọng hơn khi Washington triển khai các khí tài chiến lược hạt nhân và các cuộc tập trận quân sự chung quy mô lớn với Hàn Quốc.

Giới quan sát lo ngại rằng các cuộc họp hay nỗ lực hợp tác giữa Mỹ và Hàn Quốc cũng như Nhật Bản, cùng với nỗ lực tăng cường quân sự của Triều Tiên, sẽ càng đẩy mâu thuẫn trên Bán đảo Triều Tiên lên cao trào, thay vì đạt được những đồng thuận hay cơ hội đàm phán mà các bên từng kỳ vọng.

Nguồn: Soha; Báo Tin Tức; BBC; CafeF; CAND

Xem thêm:
Về trang trước

Chủ đề:

Bình luận và đánh giá
Gửi nhận xét đánh giá

Đọc nhiều nhất

Việt Nam: Đề nghị kỷ luật Sử Ngọc Anh; Cáp treo mới 16.234 tỷ; Thiên đường nghỉ dưỡng; Cựu Phó TGĐ Ngân hàng VNCB trốn truy nã; Đấu giá biệt thự Chủ tịch AIC

Việt Nam: Ngọc nữ lọt top mỹ nhân đẹp nhất thế giới; Đường dây rửa tiền xuyên quốc gia; Quy hoạch công viên Thủ Lệ; Thánh đường 5.000 người trước ngày khánh thành

Người Việt hải ngoại: Hoa hậu tái hôn với đại gia giàu có; Sắc màu Việt giữa lòng Vladivostok; Giải bóng đá cộng đồng tại Chubu, Nhật; Chào đón tân sinh viên tại Hungary

Việt Nam: EU đưa ra khỏi danh sách quốc gia không hợp tác thuế; Phải khai báo trường hợp chuyển khoản sau; Top quốc gia được yêu thích nhất; Xác minh giao dịch 300 triệu

Người Việt hải ngoại: Thu nhập Vương Phạm ở Mỹ; Kỹ sư đến Google DeepMind; Quán café tại Pháp; 9X lọt Forbes 30 Under 30 Asia; Giáo sư tại Nhật vào nhóm nhà khoa học xuất sắc nhất

Người Việt hải ngoại: Nữ chuyên gia có 200 bằng sáng chế; Nữ Tổng Quản Lý Marriott International; phát triển trạm sạc nhanh tại Mỹ; Cựu Phó Thủ tướng Đức vào HĐQT Chứng khoán HD

Người Việt hải ngoại: Sắp diễn ra Hội nghị người Việt ở nước ngoài toàn thế giới lần thứ 5; Hoa hậu 2 lần đổ vỡ sang Canada cưới người yêu đơn phương 5 năm

Người Việt hải ngoại: Nghiên cứu sinh giành học bổng Apple; Làm TGĐ từ năm 27 tuổi; Chủ tịch Hạ viện Czech ghi nhận đóng góp của cộng đồng; 2 người bị bắt ở Indonesia

Lên đầu trang