Người có ô tô, xe máy chú ý; Xác định đất ở và đất nông nghiệp; Bị thu hồi 1.000m2 đất không được bồi thường; Phạt dùng thẻ CCCD; Những trường hợp bị tạm hoãn xuất cảnh

Tất cả người dân có ô tô, xe máy chú ý thông báo mới nhất của công an

Công an vừa có hướng dẫn về việc xử lý trường hợp mất hoặc mờ biển số xe để không vi phạm pháp luật.

Tình trạng rơi rụng, thất lạc hoặc mờ biển số xe là sự cố không hiếm gặp đối với người tham gia giao thông, đặc biệt là vào mùa mưa bão hay khi di chuyển qua các đoạn đường ngập lụt. Để giúp người dân nắm vững quy định pháp luật và thuận tiện trong quá trình xin cấp đổi, cấp lại, Phòng Cảnh sát giao thông (PC08) Công an TP. Hải Phòng đã ban hành cẩm nang hướng dẫn chi tiết các bước xử lý chuẩn xác, nhanh gọn.

Theo quy định hiện hành, người điều khiển phương tiện giao thông gắn biển số không rõ chữ, số, bị mờ, che lấp hoặc hoàn toàn không có biển số sẽ bị xử phạt hành chính. Đáng chú ý, nhiều chủ phương tiện vì nóng vội hoặc tiện lợi đã tự ý in ấn, làm biển số tạm bằng bìa hoặc kim loại tự chế để lưu thông.

Lực lượng chức năng khẳng định hành vi sử dụng biển số không do cơ quan có thẩm quyền cấp là vi phạm pháp luật nghiêm trọng và tuyệt đối bị nghiêm cấm. Khi gặp phải sự cố này, người dân cần chủ động xử lý theo quy trình 3 bước sau:

Bước 1: Ứng phó tại chỗ ngay khi phát hiện rơi, mất biển số

Nếu đánh rơi biển số khi đi qua những cung đường ngập nước, người dân nên cẩn trọng quay lại rà soát, tìm kiếm ngay tại khu vực đó nếu đảm bảo an toàn giao thông, hoặc chủ động đăng thông tin hỗ trợ tìm kiếm lên các hội nhóm mạng xã hội.

Trường hợp nghi ngờ biển số bị mất cắp hoặc rơi mất hoàn toàn không tìm lại được, chủ xe cần đến ngay Công an xã/phường nơi xảy ra sự việc để làm thủ tục trình báo. Việc khai báo này không chỉ giúp hoàn tất hồ sơ pháp lý mà còn ngăn ngừa rủi ro kẻ gian lợi dụng biển số xe bị mất gắn vào các phương tiện thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.

Bước 2: Kê khai thủ tục cấp đổi trực tuyến tại nhà

Nhằm cắt giảm tối đa thời gian chờ đợi và xếp hàng, người dân có thể hoàn tất việc nộp hồ sơ xin cấp lại biển số xe thông qua môi trường mạng. Bằng cách truy cập vào Cổng Dịch vụ công Quốc gia hoặc Cổng Dịch vụ công Bộ Công an, người dùng tìm chọn dịch vụ "Đăng ký, cấp lại giấy chứng nhận đăng ký, biển số xe". Tại đây, chủ xe thực hiện kê khai đầy đủ số khung, số máy, lý do xin cấp lại (mất, hư hỏng hoặc mờ biển), đính kèm ảnh chụp giấy chứng nhận đăng ký xe. Sau khi gửi yêu cầu, hệ thống sẽ tiếp nhận và cấp mã hồ sơ kèm ngày hẹn giải quyết trực tiếp.

Bước 3: Nhận biển số xe mới tại cơ quan Công an

Đến lịch hẹn, chủ phương tiện đưa xe cùng các giấy tờ liên quan đến Phòng Cảnh sát giao thông hoặc Công an cấp xã/phường tùy theo phân cấp quản lý phương tiện. Hồ sơ chuẩn bị gồm có: Thẻ Căn cước công dân của chủ xe, Giấy chứng nhận đăng ký xe và biển số cũ nộp lại (nếu thuộc trường hợp mờ, gãy hỏng). Theo quy định, thời gian xem xét giải quyết và cấp lại biển số mới chỉ diễn ra trong vòng vài ngày làm việc.

Xem tiếp tại đường Link =>https://share.google/TIVmbhBA8vjqOJHDx

Bộ nêu căn cứ xác định đất ở và đất nông nghiệp chung một thửa

Bộ Nông nghiệp và Môi trường nêu căn cứ xác định diện tích đất ở và đất nông nghiệp trong cùng một thửa đất khi công nhận quyền sử dụng đất, đồng thời lưu ý phải xem xét hồ sơ pháp lý, nguồn gốc và quá trình sử dụng đất.

Theo phản ánh của một công dân tại Gia Lai, gia đình có thửa đất diện tích 500m2 được cấp từ năm 1990, với mục đích sử dụng ghi là đất khu dân cư, thời hạn sử dụng lâu dài.

Đến năm 2018, gia đình được cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ). Theo giấy chứng nhận này, thửa đất được xác định gồm 350m2 đất ở và 150m2 đất trồng cây lâu năm.

Về nguồn gốc sử dụng đất, 350m2 đất ở được ghi nhận theo hình thức công nhận quyền sử dụng đất như giao đất có thu tiền sử dụng đất; 150m2 đất trồng cây lâu năm được xác định theo hình thức giao đất không thu tiền sử dụng đất.

Từ những thông tin trên, công dân đặt câu hỏi: Thửa đất này có được xác định là đất nông nghiệp gắn liền với đất ở khi công nhận quyền sử dụng đất hay không?

Trả lời nội dung phản ánh, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết thông tin được cung cấp chưa đủ để xác định chính xác trường hợp cụ thể.

Cụ thể, cơ quan này cho biết cần làm rõ hai vấn đề:

Thứ nhất, giấy tờ được cấp năm 1990 là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay văn bản của cơ quan có thẩm quyền về việc giao đất, cấp đất cho gia đình với mục đích sử dụng là đất khu dân cư, thời hạn sử dụng lâu dài.

Thứ hai, việc cấp giấy chứng nhận năm 2018 là cấp lần đầu căn cứ vào giấy tờ năm 1990 hay là cấp lại giấy chứng nhận do hồ sơ hoặc giấy chứng nhận trước đó có sai sót.

Do chưa làm rõ những nội dung này, Bộ chưa đủ cơ sở để trả lời cụ thể về việc xác định loại đất đối với thửa đất của công dân.

Tuy nhiên, Bộ nêu nguyên tắc chung về việc xác định diện tích đất ở và các loại đất khác trong cùng một thửa đất khi công nhận quyền sử dụng đất.

Theo đó, một thửa đất có thể được xác định gồm đất ở và đất khác, bao gồm đất nông nghiệp hoặc đất phi nông nghiệp không phải đất ở, khi các diện tích này nằm trong cùng ranh giới thửa đất trên thực địa hoặc theo hồ sơ địa chính, nếu có.

Việc xác định diện tích từng loại đất phải căn cứ vào giấy tờ về quyền sử dụng đất, các giấy tờ liên quan đến quá trình quản lý và sử dụng đất, hồ sơ địa chính, nguồn gốc và quá trình sử dụng đất, cùng các quy định pháp luật áp dụng cho trường hợp cụ thể.

Các quy định liên quan được Bộ viện dẫn tại các Điều 137, 138, 139, 140 và 141 Luật Đất đai năm 2024.

Trên cơ sở hồ sơ và quy định pháp luật, cơ quan có thẩm quyền sẽ xác định diện tích đất ở theo giấy tờ hoặc hiện trạng sử dụng đất, đồng thời xem xét hạn mức đất ở tại địa phương.

Xem tiếp tại đường Link =>https://share.google/Jd2YhkwcDGDO2l3OT

Bị thu hồi hơn 1.000m2 đất sử dụng 30 năm, vì sao không được bồi thường về đất?

Hộ dân ở Bắc Ninh cho rằng đã sử dụng hơn 1.000m2 đất phục vụ sản xuất nông nghiệp suốt 30 năm. Tuy nhiên, khi bị thu hồi để thực hiện dự án khu dân cư, diện tích này được xác định là đất công ích, không thuộc diện được bồi thường về đất.

Người dân cho rằng đất sử dụng ổn định, chính quyền xác định đất công ích

Theo trình bày của ông N. (ngụ TP Bắc Ninh), năm 2013, để thực hiện dự án khu dân cư tại địa phương, UBND huyện Y., tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc phường C., TP Bắc Ninh) đã ban hành quyết định thu hồi đất và phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng. 

Gia đình ông bị thu hồi 1.130,4m2 đất, gồm 220,4m2 đất trồng cây lâu năm và 910m2 đất nuôi trồng thủy sản. Ban đầu, phương án bồi thường, hỗ trợ được phê duyệt với tổng số tiền 76,8 triệu đồng. 

Sau đó, UBND huyện Y. điều chỉnh phương án, xác định tổng số tiền bồi thường, hỗ trợ là 64,5 triệu đồng, gồm các khoản liên quan đến chi phí đầu tư vào đất còn lại, tài sản, cây trồng và thủy sản trên đất.

Ông N. cho rằng gia đình đã sử dụng ổn định toàn bộ diện tích đất bị thu hồi từ khoảng năm 1996-1997 để sản xuất nông nghiệp. Vì vậy, ông không đồng tình với việc chính quyền xác định diện tích này có nguồn gốc đất công ích và không bồi thường về đất.

Ông N. khởi kiện, yêu cầu hủy một phần các quyết định thu hồi đất, phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ của UBND huyện Y.; các quyết định giải quyết khiếu nại của Chủ tịch UBND huyện Y., Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Ninh và một phần quyết định điều chỉnh phương án bồi thường.

Ngược lại, UBND huyện Y. cho rằng phần lớn diện tích đất có nguồn gốc là đất công ích do thôn quản lý, giao khoán cho gia đình ông N. sử dụng từ trước năm 2000. Hồ sơ giao khoán không còn đầy đủ, chủ yếu còn lưu nghị quyết của thôn về việc tiếp tục giao khoán. Chính quyền đã xác minh, đối chiếu bản đồ địa chính và tổ chức họp người dân để làm rõ nguồn gốc, quá trình sử dụng đất.

Địa phương cũng cho biết gia đình ông N. chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần diện tích tranh chấp, ngoài giấy chứng nhận cấp năm 1997 cho các thửa đất khác. Theo UBND huyện Y., việc không bồi thường về đất đối với diện tích có nguồn gốc công ích là phù hợp quy định pháp luật.

Vì sao tòa không chấp nhận yêu cầu bồi thường về đất?

Xét xử sơ thẩm, tòa án bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông N. Không đồng ý với phán quyết, ông kháng cáo.

Tại phiên phúc thẩm, TAND TP Bắc Ninh nhận định việc thu hồi đất và phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ được thực hiện trên cơ sở quy định pháp luật đất đai, hồ sơ quản lý đất đai, kết quả xác minh nguồn gốc, quá trình sử dụng đất và tài sản trên đất.

Đối với những thiếu sót ban đầu trong việc xác định loại đất, UBND huyện Y. đã ban hành quyết định điều chỉnh loại đất và số tiền bồi thường, hỗ trợ. Theo HĐXX, việc điều chỉnh không làm thay đổi bản chất của quyết định thu hồi đất và chế độ bồi thường, hỗ trợ đã xác định. Do đó, không có căn cứ kết luận các quyết định hành chính bị khởi kiện là trái pháp luật.

Tòa phúc thẩm cho rằng, căn cứ hồ sơ địa chính và các tài liệu quản lý đất đai, diện tích đất ông N. yêu cầu bồi thường về quyền sử dụng đất có nguồn gốc là đất công ích do UBND xã quản lý.

Điểm d khoản 1 Điều 76 Luật Đất đai năm 2013 quy định đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn thuộc trường hợp không được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi. Tuy nhiên, người sử dụng đất có thể được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại theo quy định.

Từ căn cứ này, tòa xác định việc bồi thường, hỗ trợ đối với tài sản, cây trồng và các khoản đầu tư còn lại trên đất có cơ sở pháp luật.

Xem tiếp tại đường Link =>https://share.google/8mDzBCUMU4ZnCFYYM

Sang năm 2027, những ai sử dụng thẻ Căn cước/CCCD vào việc này sẽ bị phạt tiền lên đến 10 triệu đồng

Điều 11 Nghị định 282 quy định chi tiết mức các mức phạt cho hành vi vi phạm quy định về cấp, quản lý, sử dụng thẻ căn cước, căn cước công dân (CCCD), căn cước điện tử hoặc giấy chứng nhận căn cước.

Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

- Không xuất trình thẻ CCCD, thẻ căn cước, căn cước điện tử, giấy chứng nhận căn cước khi có yêu cầu kiểm tra của cơ quan, người có thẩm quyền;

- Không thực hiện đúng quy định của pháp luật về cấp, cấp đổi, cấp lại thẻ căn cước, giấy chứng nhận căn cước, căn cước điện tử, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này;

- Không nộp thẻ CCCD, thẻ căn cước hoặc giấy chứng nhận căn cước cho cơ quan thi hành lệnh tạm giữ, tạm giam, cơ quan thi hành án phạt tù, cơ quan thi hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định của pháp luật; không nộp thẻ căn cước công dân, thẻ căn cước, giấy chứng nhận căn cước cho cơ quan quản lý căn cước trong trường hợp cấp đổi thẻ căn cước, giấy chứng nhận căn cước hoặc hủy, xác lập lại số định danh cá nhân.

Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng

- Chiếm đoạt, sử dụng trái phép thẻ CCCD, thẻ căn cước, căn cước điện tử, giấy chứng nhận căn cước, giấy xác nhận số định danh cá nhân đã hủy với số định danh cá nhân đã xác lập lại của người khác;

- Tẩy xoá, sửa chữa làm sai lệch nội dung của thẻ căn cước công dân, thẻ căn cước, giấy chứng nhận căn cước, giấy xác nhận số định danh cá nhân đã hủy với số định danh cá nhân đã xác lập lại;

- Hủy hoại, cố ý làm hư hỏng thẻ CCCD, thẻ căn cước, giấy chứng nhận căn cước, giấy xác nhận số định danh cá nhân đã hủy với số định danh cá nhân đã xác lập lại;

- Không nộp lại thẻ CCCD hoặc thẻ căn cước cho cơ quan có thẩm quyền khi được thôi, bị tước quốc tịch, bị hủy bỏ quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam; không nộp lại giấy chứng nhận căn cước khi người gốc Việt Nam chưa xác định được quốc tịch được nhập quốc tịch Việt Nam hoặc xác nhận có quốc tịch Việt Nam hoặc xác định có quốc tịch nước ngoài.

Phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng

- Làm giả dữ liệu, sử dụng dữ liệu giả để được cấp thẻ căn cước, căn cước điện tử, giấy chứng nhận căn cước, giấy xác nhận số định danh cá nhân đã hủy với số định danh cá nhân đã xác lập lại;

- Cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật để được cấp thẻ căn cước, căn cước điện tử, giấy chứng nhận căn cước, giấy xác nhận số định danh cá nhân đã hủy với số định danh cá nhân đã xác lập lại.

Phạt tiền từ 8.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng

- Sử dụng thẻ CCCD giả, thẻ căn cước giả, căn cước điện tử giả, giấy chứng nhận căn cước giả, giấy xác nhận số định danh cá nhân đã hủy với số định danh cá nhân đã xác lập lại giả; sử dụng thẻ căn cước công dân, thẻ căn cước đã hết giá trị sử dụng để thực hiện hành vi trái pháp luật;

- Cầm cố, nhận cầm cố thẻ CCCD, thẻ căn cước, giấy chứng nhận căn cước hoặc giấy xác nhận số định danh cá nhân đã hủy với số định danh cá nhân đã xác lập lại;

Xem tiếp tại đường Link =>https://share.google/CCk9zUxYf9Ml46oPK

Cục Thuế lưu ý, những trường hợp người nộp thuế có thể bị tạm hoãn xuất cảnh

Để tránh gián đoạn hành trình xuất cảnh của mình, Cục Thuế đề nghị người nộp thuế cần chủ động thực hiện nghĩa vụ thuế.

Lưu ý, những trường hợp có thể bị tạm hoãn xuất cảnh

Theo Cục Thuế: Người nộp thuế nên thường xuyên kiểm tra tình trạng nghĩa vụ thuế, thực hiện đầy đủ các thủ tục theo quy định và chủ động tra cứu thông tin để hạn chế nguy cơ bị gián đoạn kế hoạch xuất cảnh. Cũng theo cơ quan này, người nộp thuế cần lưu ý những trường hợp sau để tránh bị gián đoạn hành trình xuất cảnh của mình.

1. Trường hợp người nộp thuế không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký

Nhóm này gồm cá nhân kinh doanh, chủ hộ kinh doanh , người đại diện theo pháp luật và chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã thuộc trường hợp cơ quan thuế đã thông báo người nộp thuế không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký.

Sau 90 ngày kể từ ngày thông báo người nộp thuế không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký, nếu người nộp thuế chưa thực hiện thủ tục khôi phục mã số thuế hoặc chấm dứt hiệu lực mã số thuế, cơ quan thuế thông báo về việc sẽ bị tạm hoãn xuất cảnh. 

Nếu người nộp thuế vẫn chưa thực hiện các thủ tục khôi phục hoặc chấm dứt hiệu lực mã số thuế sau 30 ngày kể từ ngày thông báo sẽ bị tạm hoãn xuất cảnh, cơ quan thuế thông báo tạm hoãn xuất cảnh.

Người nộp thuế có 120 ngày để hoàn thành các thủ tục trước khi cơ quan thuế thông báo tạm hoãn xuất cảnh.

2. Trường hợp người nộp thuế đang hoạt động, tạm ngừng kinh doanh, chờ giải thể

Đối với nhóm người nộp thuế không thuộc trạng thái 06 (tức trạng thái kể trên), điều kiện về số tiền thuế nợ và thời gian quá hạn được xác định theo từng đối tượng:

Trước 30 ngày ban hành thông báo tạm hoãn xuất cảnh, cơ quan thuế gửi thông báo đến tài khoản giao dịch thuế điện tử của người nộp thuế và công khai trên website ngành Thuế. Hết 30 ngày, nếu người nộp thuế chưa hoàn thành nghĩa vụ để số tiền thuế nợ xuống dưới ngưỡng quy định, cơ quan thuế thông báo tạm hoãn xuất cảnh.

Xem tiếp tại đường Link =>https://share.google/x8jvFPwMbwuJAl0tw

Nguồn: CafeF; Vietnamnet; Báo Mới; 24h

Xem thêm:
Về trang trước

Chủ đề:

Bình luận và đánh giá
Gửi nhận xét đánh giá

Đọc nhiều nhất

Bất động sản “lách luật”; Thông báo nhà cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ; Cấp sổ đỏ đất lấn, chiếm; Điểm mới đăng ký kết hôn và khai sinh; Đánh thuế cao “đất bỏ hoang”

Người có bất động sản chú ý; VNeID thay đổi mới; Lưu ý dùng camera, TV, máy giặt, tủ lạnh kết nối Internet; Nộp thuế đất phi nông nghiệp; Định danh tài khoản MXH trên VNeID

Cấp sổ đỏ đất không giấy tờ; Tính thuế hộ kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ; Thông báo người dùng VneID; Mã định danh thuế điện tử mới; Nghỉ hưu sớm không bị giảm 2%

Mã định danh bất động sản; Phạt chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà sai quy định; Chú ý phạt khai báo tạm trú; Người có bảo hiểm xã hội chú ý; Người có sổ đỏ chú ý

Lời khuyên sống ở chung cư; Chú ý mức phạt đăng ký cư trú; Người sử dụng WiFi chú ý; Lời khuyên cho người gửi tiết kiệm; Làm rõ thế nào là đất bỏ hoang

Cấp nhầm sổ đất cho dân; Gỡ tạm hoãn xuất cảnh vì nợ thuế; Đánh thuế 0,2% đất bỏ hoang; Lưu ý mới từ cơ quan Thuế; Tháo gỡ vướng mắc đất đai, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

Chú ý mức phạt khai báo tạm trú; Quy định cấp đổi sổ đỏ ghi đất “thổ cư”; Gỡ khó cho 4.000 trường hợp bị mạo danh; Điều kiện giảm 50% tiền sử dụng đất; Lỗ hổng thừa kế

“Quá tải” nếu sổ hồng ghi tên các đồng sở hữu; Loạt iPhone không thể thực hiện chuyển khoản; Hiến đất làm đường, nay chuyển nhượng bị đổi sổ đỏ; Bảo hiểm xã hội thông báo

Lên đầu trang