Mua đất giấy viết tay phải trả lại; Chính sách mới có hiệu lực; Mất 800 triệu vì hợp đồng đặt cọc mua sẵn; Quy định lưu trữ dữ liệu; Đất lấn, chiếm Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận

Mua đất bằng giấy viết tay, ba hộ đã xây nhà ở hơn 20 năm vẫn phải trả lại

Ba người mua đất bằng giấy viết tay, xây nhà và sinh sống ổn định hơn 20 năm nhưng cuối cùng vẫn bị buộc trả lại đất cho người đứng tên sổ đỏ.

Người đứng tên sổ đỏ khởi kiện đòi lại đất

Theo trình bày của bà N. (ngụ TPHCM), năm 2012, bà nhận chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất rộng 120m2 tại TP Vũng Tàu, nay thuộc TPHCM, từ hai người khác. Thửa đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2009.

Sau khi nhận chuyển nhượng, bà N. cho biết đã xây tường bao để bảo vệ ranh giới thửa đất. Tuy nhiên, trong tháng 4 và tháng 5/2021, bà phát hiện ông H., ông Q. và bà T. xây dựng, sử dụng nhà trên phần đất mà bà cho rằng thuộc quyền sử dụng của mình.

Bà N. khởi kiện, yêu cầu ba người tháo dỡ tài sản và trả lại đất. Bà đồng ý thanh toán giá trị tài sản trên đất theo kết quả định giá để nhận lại mặt bằng.

Ở chiều ngược lại, bà T. cho biết gia đình đã quản lý, sử dụng nhà đất ổn định hơn 20 năm, có đăng ký hộ khẩu, sinh sống và buôn bán tại đây. Bà cho rằng chồng cũ đã mua đất bằng giấy viết tay vào năm 2001, sau đó xây dựng nhà ở. Sau khi ly hôn năm 2018, phần nhà đất này được để lại cho mẹ con bà quản lý, sử dụng.

Trong khi đó, ông H. và ông Q. đều khai nhận đã mua đất bằng giấy viết tay từ một người tên D. vào năm 2011, với giá 1,2 tỷ đồng cho diện tích khoảng 40m2 mỗi phần. Hai ông cho rằng đã sử dụng đất ổn định và không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N.

Bà T. và ông Q. đều yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho hai người chuyển nhượng đất cho bà N.

Tuy nhiên, chính quyền địa phương cho biết hồ sơ cấp giấy chứng nhận không thể hiện thông tin về việc ông H., ông Q. và bà T. sử dụng đất.

Xét xử sơ thẩm, TAND khu vực 11 - TPHCM chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà N., không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà T. và ông Q. Tòa buộc các bị đơn cùng những người đang sinh sống trên đất di dời, trả lại đất cho bà N.

Đổi lại, bà N. phải thanh toán giá trị tài sản trên đất cho bà T. 122 triệu đồng, ông Q. 95 triệu đồng và ông H. 69 triệu đồng. Sau khi thanh toán, bà N. được quyền sử dụng các tài sản trên những phần đất tương ứng theo phán quyết của tòa.

Không đồng ý với phán quyết trên, ông H., bà T. và ông Q. kháng cáo.

Không chứng minh được căn cứ pháp lý để giữ đất

Tại phiên phúc thẩm, TAND TPHCM nhận định thửa đất tranh chấp có nguồn gốc sử dụng từ trước năm 1990, sau đó được chuyển nhượng, đăng ký và cấp giấy chứng nhận qua nhiều giai đoạn. Năm 2009, UBND TP Vũng Tàu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất này. Đến năm 2012, bà N. nhận chuyển nhượng toàn bộ diện tích.

Trong khi đó, ông H., bà T. và ông Q. đang sử dụng các phần đất tương ứng trong thửa đất. Các căn nhà trên đất được xác định xây dựng trước năm 2002, nhưng không xác định được thời điểm cụ thể. Theo hồ sơ, việc xây dựng không có giấy phép của cơ quan có thẩm quyền và các căn nhà cũng không được cấp số nhà.

Tòa phúc thẩm nhận định các bị đơn không cung cấp được tài liệu chứng minh việc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất hợp pháp. Ba người cũng không đáp ứng điều kiện để được công nhận quyền sở hữu, sử dụng nhà đất theo Điều 236 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 138 Luật Đất đai năm 2024.

Xem tiếp tại đường Link =>https://share.google/44YeOMW2HNoty4jK6

Chính sách mới có hiệu lực hôm nay, 01/11/2026

Từ ngày 01/11/2026, nhiều quy định mới về giáo dục bắt buộc, bảo vệ thông tin tín dụng, chuẩn nghèo đa chiều, dự án xanh, miễn giảm nghĩa vụ thi hành án và thủ tục kinh doanh trong lĩnh vực hàng hải chính thức có hiệu lực.

1. Áp dụng quy định mới về giáo dục bắt buộc ở cấp tiểu học và THCS

Từ ngày 01/11/2026, Nghị định 353/2026/NĐ-CP thay thế Nghị định 20/2014/NĐ-CP về phổ cập giáo dục, xóa mù chữ.

Theo Điều 13 và Điều 17 Nghị định mới, đối tượng giáo dục bắt buộc gồm trẻ từ 06-14 tuổi chưa hoàn thành chương trình tiểu học; thanh niên, thiếu niên từ 11-18 tuổi đã hoàn thành tiểu học nhưng chưa hoàn thành THCS.

Khoản 1, khoản 2 Điều 8 quy định công dân trong độ tuổi có nghĩa vụ học tập để hoàn thành giáo dục bắt buộc; gia đình, người giám hộ phải tạo điều kiện thực hiện. Người quá tuổi được tạo điều kiện học theo hình thức phù hợp. 
So với Điều 12 Nghị định 20/2014/NĐ-CP, nhóm tuổi THCS vẫn là 11-18 tuổi. Thay đổi nằm ở việc chuyển từ khung phổ cập giáo dục THCS sang tổ chức thực hiện giáo dục THCS bắt buộc, gắn với nghĩa vụ hoàn thành chương trình và trách nhiệm của gia đình, cơ sở giáo dục. 

2. Hà Nội nâng ngưỡng thu nhập xác định hộ nghèo lên 3-3,5 triệu đồng/người/tháng

Theo khoản 1 Điều 2 Quyết định 149/2026/QĐ-UBND, Hà Nội quy định ngưỡng thu nhập đo lường nghèo đa chiều giai đoạn 2027-2030 là 03 triệu đồng/người/tháng tại nông thôn; 3,5 triệu đồng/người/tháng tại đô thị.

Khoản 1, khoản 2 Điều 3 quy định hộ có thu nhập không vượt ngưỡng trên và thiếu hụt từ 3 chỉ số dịch vụ xã hội cơ bản trở lên thuộc chuẩn hộ nghèo; thiếu hụt dưới 3 chỉ số thuộc chuẩn hộ cận nghèo. Vì vậy, thu nhập thấp chưa phải căn cứ duy nhất để xác định hộ nghèo.

So với chuẩn giai đoạn 2022-2025 tại Quyết định 13/2021/QĐ-UBND: 02 triệu đồng ở nông thôn, 2,5 triệu đồng ở thành thị - ngưỡng mới tăng thêm 01 triệu đồng/người/tháng ở cả hai khu vực. Quyết định có hiệu lực từ 01/11/2026, nhưng chính sách hỗ trợ theo chuẩn mới được hưởng từ 01/01/2027, sau khi hộ gia đình được cấp có thẩm quyền công nhận. 

3. Làm rõ yêu cầu về sự đồng ý khi cung cấp thông tin tín dụng của khách hàng vay

Từ ngày 01/11/2026, Thông tư 46/2026/TT-NHNN bổ sung yêu cầu về sự đồng ý của khách hàng vay trong hoạt động thông tin tín dụng.

Theo khoản 2 Điều 6, bổ sung khoản 7 Điều 12 Thông tư 15/2023/TT-NHNN, việc cung cấp thông tin khách hàng vay cho tổ chức tự nguyện, tổ chức thông tin tín dụng nước ngoài và tổ chức khác thuộc các nhóm được quy định phải có sự đồng ý của khách hàng, đồng thời tuân thủ hợp đồng với CIC.

Sự đồng ý phải rõ ràng, cụ thể, có thể in, sao chép bằng văn bản, kể cả dưới dạng điện tử hoặc định dạng kiểm chứng được. Điều 9 cũng đặt yêu cầu này đối với tổ chức tự nguyện khi cung cấp thông tin cho CIC

Trước đây, khoản 1 Điều 17 Thông tư 15/2023/TT-NHNN đã yêu cầu tổ chức tự nguyện bảo đảm sự đồng ý của khách hàng. Điểm mới là quy định cụ thể hơn cách thể hiện, khả năng kiểm chứng sự đồng ý và yêu cầu tuân thủ pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân. 

4. Có hướng dẫn xác định dự án xanh, dự án tuần hoàn để xem xét hỗ trợ lãi suất

Quyết định 46/2026/QĐ-TTg có hiệu lực từ ngày 01/11/2026, hướng dẫn xác định dự án xanh, dự án đáp ứng tiêu chí tuần hoàn và áp dụng khung tiêu chuẩn môi trường, xã hội, quản trị - ESG.

Theo khoản 1 Điều 4, việc xác định dự án được thực hiện thông qua tổ chức đánh giá độc lập đáp ứng yêu cầu. Khoản 5 Điều 5 quy định dự án được xác định phù hợp và có báo cáo áp dụng khung ESG là căn cứ xem xét hỗ trợ lãi suất. 

Trước đó, khoản 1 Điều 7 Nghị quyết 198/2025/QH15 đã quy định hỗ trợ lãi suất 2%/năm cho doanh nghiệp tư nhân, hộ và cá nhân kinh doanh vay vốn thực hiện dự án xanh, tuần hoàn và áp dụng ESG. Quyết định mới cụ thể hóa tiêu chí, hồ sơ và cơ chế đánh giá phục vụ thực hiện chính sách này. 

Doanh nghiệp cần lưu ý, có dự án được xác định là xanh hoặc tuần hoàn chưa đồng nghĩa tự động được nhận hỗ trợ lãi suất; việc hỗ trợ còn phải đáp ứng quy định liên quan. 

5. Làm rõ việc miễn, giảm lãi chậm thi hành án đối với khoản thu ngân sách

Theo khoản 3 Điều 10 Thông tư liên tịch 11/2026/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC, khi số tiền phải thi hành theo bản án, quyết định được miễn hoặc giảm thì phần lãi chậm thi hành án trên số tiền đó đương nhiên được miễn, giảm.

Quy định cũng xử lý trường hợp số tiền phải thi hành đã có quyết định miễn, giảm trước ngày 01/7/2026: phần lãi tương ứng đương nhiên được miễn, giảm; Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định đình chỉ thi hành đối với phần lãi này. 

Trước đây, Điều 2 Thông tư liên tịch 12/2015/TTLT-BTP-BTC-TANDTC-VKSNDTC liệt kê lãi chậm thi hành án đối với khoản được miễn, giảm trong nhóm khoản thuộc diện xét miễn, giảm. Quy định mới làm rõ cơ chế xử lý đương nhiên đối với phần lãi tương ứng. 

Chính sách áp dụng trong phạm vi khoản thu nộp ngân sách nhà nước theo quy định, không được hiểu là mọi khoản nợ dân sự hoặc lãi chậm trả giữa cá nhân, doanh nghiệp đều được miễn. 

6. Quỹ tín dụng nhân dân phải gửi quy định nội bộ trong 10 ngày

Thông tư 40/2026/TT-NHNN có hiệu lực từ ngày 01/11/2026, quy định lại các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân.

Theo khoản 7 Điều 5, trong 10 ngày kể từ khi ban hành, sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế quy định nội bộ, quỹ phải gửi văn bản đến Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Khu vực, kèm báo cáo nội dung thay đổi nếu có. 

So với khoản 6 Điều 4 Thông tư 32/2015/TT-NHNN, được sửa đổi bởi Thông tư 13/2024/TT-NHNN, thời hạn trước đây là 10 ngày làm việc. Quy định mới chuyển sang 10 ngày, nên quỹ cần điều chỉnh lịch gửi hồ sơ. 

7. Từ 01/11/2026, văn bản điện tử ký số thay thế văn bản giấy qua Trục liên thông quốc gia

Theo Quyết định 43/2026/QĐ-TTg, có hiệu lực từ ngày 01/11/2026, văn bản điện tử được ký số đúng quy định có giá trị pháp lý như bản gốc văn bản giấy, được luân chuyển qua Trục liên thông văn bản quốc gia để thay thế việc gửi, nhận văn bản giấy, trừ trường hợp pháp luật chuyên ngành quy định khác.

Trục liên thông tự động kiểm tra, cảnh báo văn bản chưa ký số hoặc có chữ ký số không hợp lệ. Mọi giao dịch phải được xác thực, lưu vết; cơ quan gửi, nhận có trách nhiệm lưu trữ và bảo đảm giá trị pháp lý của văn bản trong suốt quá trình lưu trữ.

Quy chế ưu tiên gửi, nhận văn bản điện tử toàn trình, tức văn bản được tạo lập, ký số, phát hành, gửi và nhận hoàn toàn trên môi trường điện tử, không sử dụng song song bản giấy và không phải bản quét từ giấy. Đồng thời, thực hiện lộ trình hạn chế tối đa sử dụng văn bản được số hóa từ bản giấy.

Xem tiếp tại đường Link =>https://share.google/uYy8b5R9vUo2JO7ea

Hợp đồng đặt cọc mua sẵn khiến người bán đất mất 800 triệu đồng

Dùng mẫu hợp đồng đặt cọc mua ở tiệm photocopy, không ghi nhận những thỏa thuận phát sinh, người phụ nữ ở Đắk Lắk phải trả lại 800 triệu đồng, trong khi 500 cây cà phê bị nhổ bỏ không được bồi thường.

Một hợp đồng đặt cọc mua tại tiệm photocopy, những thỏa thuận quan trọng chỉ nói bằng miệng và việc bàn giao tài sản không có biên bản đã khiến người phụ nữ ở Đắk Lắk rơi vào thế bất lợi khi tranh chấp mua bán đất. Cuối cùng, chủ đất phải hoàn trả 800 triệu đồng cho người mua, còn yêu cầu bồi thường 500 cây cà phê bị nhổ bỏ không được tòa chấp nhận.

Câu chuyện được luật sư Trần Viết Hà (Đoàn Luật sư tỉnh Đắk Lắk) chia sẻ sau buổi tư vấn cho một khách hàng, đồng thời cảnh báo những rủi ro khi người dân sử dụng hợp đồng đặt cọc mua ngoài cửa hàng photocopy có nội dung sơ sài trong giao dịch bất động sản.

Năm 2022, chị A. (Đắk Lắk) có 5ha đất trồng cà phê đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Người phụ nữ muốn chuyển nhượng 2ha trong tổng diện tích này. Do phần đất dự định bán chưa được tách thửa, chị A. phải thực hiện thủ tục tách thửa và xin cấp giấy chứng nhận riêng trước khi hoàn tất giao dịch.

Sau khi tìm được người mua là ông B., hai bên thống nhất giá chuyển nhượng 2ha đất là 1,6 tỷ đồng. Ông B. đặt cọc 200 triệu đồng. Tuy nhiên, thay vì nhờ người có chuyên môn soạn thảo hợp đồng, hai bên mua một mẫu hợp đồng đặt cọc có sẵn tại tiệm photocopy để ký kết.

Theo thỏa thuận, thời hạn đặt cọc kéo dài từ ngày 2/2 đến 2/5/2022. Sau khi ký hợp đồng, chị A. giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông B. để người mua thực hiện thủ tục tách thửa.

Hết 3 tháng, việc tách thửa vẫn chưa có kết quả. Đến ngày 2/5/2022, chị A. hỏi ông B. có tiếp tục mua đất hay không. Lúc này, ông B. trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đồng thời đưa thêm 600 triệu đồng cho người bán. Khoản tiền này được hai bên ghi trong hợp đồng là "thanh toán thêm số tiền 600 triệu đồng".

Sau đó, ông B. giao lại giấy chứng nhận để chị A. tự thực hiện thủ tục tách thửa, xin cấp sổ riêng. Tuy nhiên, hai bên không lập thỏa thuận gia hạn hợp đồng bằng văn bản, cũng không xác định cụ thể thời điểm mới phải hoàn tất thủ tục chuyển nhượng và công chứng.

Đáng chú ý, khi nhận thêm 600 triệu đồng, chị A. còn bàn giao cho ông B. 500 cây cà phê trên phần đất dự định chuyển nhượng. Việc bàn giao này không được ghi nhận bằng văn bản, hợp đồng cũng không quy định rõ trách nhiệm quản lý, khai thác cây trồng hoặc nghĩa vụ bồi thường nếu giao dịch không thành.

Sau một thời gian khai thác, ông B. đã nhổ bỏ toàn bộ số cây cà phê do không mang lại hiệu quả kinh tế.

Khoảng một năm rưỡi sau, chị A. mới hoàn tất việc tách thửa và được cấp giấy chứng nhận riêng cho phần đất dự định bán. Tuy nhiên, trong thời gian này, giá đất đã giảm so với mức 1,6 tỷ đồng hai bên thống nhất vào năm 2022.

Khi chị A. đề nghị ra văn phòng công chứng để hoàn tất giao dịch, ông B. từ chối mua đất.

Cho rằng người mua không tiếp tục thực hiện giao dịch đồng nghĩa với việc vi phạm hợp đồng đặt cọc, chị A. nghĩ mình có quyền giữ 200 triệu đồng đã nhận. Người phụ nữ sau đó tìm được khách hàng khác là ông C. và chuyển nhượng 2ha đất cho người này.

Tuy nhiên, sau khi giao dịch hoàn tất, ông B. khởi kiện, yêu cầu chị A. hoàn trả 200 triệu đồng tiền đặt cọc và 600 triệu đồng đã thanh toán thêm.

Kinh nghiệm trước khi nhận đặt cọc

Phân tích vụ việc, luật sư Trần Viết Hà cho biết, với khoản tiền đặt cọc 200 triệu đồng, chị A. không chứng minh được ông B. vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng để phải chịu mất cọc.

Bởi theo thỏa thuận ban đầu, thời hạn đặt cọc kết thúc ngày 2/5/2022. Đến thời điểm này, phần đất chưa được tách thửa, chưa có giấy chứng nhận riêng để thực hiện giao dịch như dự kiến. Việc hai bên tiếp tục thỏa thuận kéo dài thời gian chờ hoàn tất thủ tục chỉ được trao đổi bằng miệng, không được ghi nhận trong hợp đồng.

Do đó, khi phát sinh tranh chấp, chị A. không có căn cứ rõ ràng để chứng minh thời hạn thực hiện hợp đồng đã được gia hạn và ông B. vi phạm nghĩa vụ mua đất.

Đối với 600 triệu đồng, luật sư cho biết khoản tiền này được ghi nhận trong hợp đồng là tiền thanh toán thêm, không phải tiền đặt cọc. Vì vậy, khi giao dịch không được thực hiện, chị A. phải hoàn trả khoản tiền đã nhận.

Người phụ nữ sau đó làm đơn phản tố, đề nghị ông B. bồi thường số cây đã nhổ bỏ và thiệt hại về sản lượng cà phê trong thời gian từ năm 2022 đến nay. Tuy nhiên, yêu cầu này không được tòa chấp nhận.

Theo luật sư Hà, chị A. không có biên bản bàn giao tài sản trên đất, không chứng minh được đã giao 500 cây cà phê cho ông B., cũng không xác định được ai là người nhổ bỏ số cây này. Số lượng cây bị thiệt hại cũng không có căn cứ kiểm đếm, thẩm định và định giá.

Kết quả, chị A. bị tòa buộc hoàn trả tổng cộng 800 triệu đồng cho ông B., gồm 200 triệu đồng tiền đặt cọc và 600 triệu đồng tiền thanh toán thêm. Trong khi đó, yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với vườn cà phê không được chấp nhận.

Từ vụ việc, luật sư Hà khuyến cáo người dân cần thận trọng ngay từ khâu soạn thảo hợp đồng đặt cọc khi mua bán nhà đất. Không nên tùy tiện sử dụng các mẫu hợp đồng có sẵn, bởi mỗi giao dịch có thể phát sinh những tình huống và nghĩa vụ khác nhau.

Xem tiếp tại đường Link =>https://share.google/bmrH040dt6XZc9kl2

Nghị định 333/2026/NĐ-CP quy định việc lưu trữ dữ liệu tại Việt Nam ra sao?

Nghị định 333/2026/NĐ-CP quy định các loại dữ liệu phải lưu trữ tại Việt Nam, trách nhiệm của doanh nghiệp và thời gian lưu trữ. Vậy Nghị định 333/2026/NĐ-CP quy định việc lưu trữ dữ liệu tại Việt Nam ra sao?

1. Nghị định 333/2026/NĐ-CP quy định việc lưu trữ dữ liệu tại Việt Nam ra sao?

Theo khoản 1, khoản 2 Điều 19 và khoản 1 Điều 20 Nghị định 333/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật An ninh mạng, doanh nghiệp trong nước phải lưu trữ tại Việt Nam thông tin cá nhân và dữ liệu do người sử dụng dịch vụ tại Việt Nam tạo ra. 

Doanh nghiệp nước ngoài thực hiện nghĩa vụ này trong trường hợp được quy định tại khoản 3 Điều 19. Thời gian lưu trữ dữ liệu tính từ khi doanh nghiệp nhận được yêu cầu đến khi kết thúc yêu cầu, tối thiểu là 24 tháng.

Cụ thể, khoản 1 Điều 19 Nghị định 333/2026/NĐ-CP quy định dữ liệu phải lưu trữ tại Việt Nam gồm:

  • Thông tin cá nhân của người sử dụng dịch vụ tại Việt Nam;
  • Dữ liệu do người sử dụng dịch vụ tại Việt Nam tạo ra: Tên tài khoản sử dụng dịch vụ, thời gian sử dụng dịch vụ, thông tin thẻ tín dụng, địa chỉ thư điện tử, địa chỉ mạng IP đăng nhập, đăng xuất gần nhất, số điện thoại đăng ký được gắn với tài khoản hoặc dữ liệu.

Về phạm vi người sử dụng dịch vụ, khoản 1 và khoản 2 Điều 3 Nghị định 333/2026/NĐ-CP giải thích:

  • Người sử dụng dịch vụ là tổ chức, cá nhân tham gia sử dụng dịch vụ trên không gian mạng.
  • Người sử dụng dịch vụ tại Việt Nam là tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ không gian mạng trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2. Doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài phải lưu trữ dữ liệu trong trường hợp nào?

2.1. Đối với doanh nghiệp trong nước

Khoản 2 Điều 19 Nghị định 333/2026/NĐ-CP quy định:

“Doanh nghiệp trong nước lưu trữ dữ liệu quy định tại khoản 1 Điều này tại Việt Nam.”

Theo đó, dữ liệu thuộc trách nhiệm lưu trữ của doanh nghiệp trong nước là hai nhóm đã nêu tại mục 1, gồm thông tin cá nhân và dữ liệu do người sử dụng dịch vụ tại Việt Nam tạo ra.

2.2. Đối với doanh nghiệp nước ngoài

Theo điểm a khoản 3 Điều 19 Nghị định 333/2026/NĐ-CP, doanh nghiệp nước ngoài phải lưu trữ dữ liệu và đặt chi nhánh hoặc văn phòng đại diện chịu trách nhiệm pháp lý tại Việt Nam khi thuộc phạm vi và trường hợp sau:

Về lĩnh vực kinh doanh, doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh tại Việt Nam thuộc một trong các lĩnh vực:

  • Dịch vụ viễn thông;
  • Lưu trữ, chia sẻ dữ liệu trên không gian mạng;
  • Cung cấp dịch vụ đăng ký, duy trì tên miền cho người sử dụng dịch vụ tại Việt Nam;
  • Thương mại điện tử;
  • Thanh toán trực tuyến; trung gian thanh toán;
  • Dịch vụ kết nối vận chuyển qua không gian mạng;
  • Mạng xã hội và truyền thông xã hội;
  • Trò chơi điện tử trên mạng;
  • Ứng dụng trực tuyến;
  • Dịch vụ cung cấp, quản lý hoặc vận hành thông tin khác trên không gian mạng dưới dạng tin nhắn, cuộc gọi thoại, cuộc gọi video, thư điện tử, trò chuyện trực tuyến.

Về trường hợp phát sinh nghĩa vụ, dịch vụ của doanh nghiệp bị sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật về an ninh mạng. Lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thuộc Bộ Công an đã thông báo và yêu cầu phối hợp, ngăn chặn, điều tra, xử lý bằng văn bản sau 03 lần và tối đa 06 tháng nhưng doanh nghiệp vẫn có một trong các hành vi:

  • Không có giải pháp khắc phục;
  • Không chấp hành yêu cầu;
  • Chấp hành không đầy đủ về phạm vi, số lượng từng vấn đề trong văn bản yêu cầu;
  • Ngăn chặn, cản trở, vô hiệu hóa hoặc làm mất tác dụng của biện pháp bảo vệ an ninh mạng do lực lượng chuyên trách thực hiện.

Khi thuộc trường hợp trên, doanh nghiệp phải lưu trữ tại Việt Nam các dữ liệu được quy định tại khoản 1 Điều 19, gồm thông tin cá nhân của người sử dụng dịch vụ tại Việt Nam và dữ liệu do người sử dụng dịch vụ tại Việt Nam tạo ra. Đồng thời, doanh nghiệp phải đặt chi nhánh hoặc văn phòng đại diện chịu trách nhiệm pháp lý tại Việt Nam.

Về trường hợp bất khả kháng, điểm b khoản 3 Điều 19 Nghị định 333/2026/NĐ-CP yêu cầu doanh nghiệp nước ngoài không thể chấp hành yêu cầu của pháp luật về an ninh mạng phải thông báo cho lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thuộc Bộ Công an trong vòng 03 ngày làm việc để kiểm tra tính xác thực của việc bất khả kháng. Trong trường hợp này, doanh nghiệp có 25 ngày làm việc để tìm phương án khắc phục.

3. Doanh nghiệp không thu thập đầy đủ các loại dữ liệu phải lưu trữ thì xử lý thế nào?

Theo khoản 4 Điều 19 Nghị định 333/2026/NĐ-CP, việc lưu trữ dữ liệu được thực hiện theo hai trường hợp:

Trường hợp doanh nghiệp chưa thu thập, khai thác, phân tích, xử lý đầy đủ các loại dữ liệu phải lưu trữ: Doanh nghiệp phối hợp với lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thuộc Bộ Công an để xác nhận và lưu trữ các loại dữ liệu hiện đang thu thập, khai thác, phân tích, xử lý. Phạm vi đối chiếu là danh mục tại khoản 1 Điều 19, gồm thông tin cá nhân và dữ liệu do người sử dụng dịch vụ tại Việt Nam tạo ra.

Trường hợp doanh nghiệp thu thập, khai thác, phân tích, xử lý bổ sung các loại dữ liệu thuộc danh mục trên: Doanh nghiệp có trách nhiệm phối hợp với lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thuộc Bộ Công an để bổ sung; đồng thời thông báo công khai cho người sử dụng và cập nhật danh sách dữ liệu phải lưu trữ tại Việt Nam.

4. Hình thức và thời gian lưu trữ dữ liệu tại Việt Nam được quy định thế nào?

4.1. Hình thức lưu trữ do doanh nghiệp quyết định

Theo khoản 5 Điều 19 Nghị định 333/2026/NĐ-CP, doanh nghiệp được tự quyết định hình thức lưu trữ dữ liệu tại Việt Nam, nhưng phải bảo đảm các yêu cầu:

  • Có khả năng truy xuất dữ liệu;
  • Cung cấp dữ liệu kịp thời khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu;
  • Bảo đảm an toàn thông tin theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia.

Đồng thời, khoản 3 Điều 15 Nghị định 333/2026/NĐ-CP yêu cầu doanh nghiệp tuân thủ pháp luật Việt Nam về an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân và các quy định liên quan trong toàn bộ quá trình thu thập, lưu trữ, xử lý, sử dụng và cung cấp thông tin, dữ liệu khi cung cấp dịch vụ trên không gian mạng.

4.2. Thời gian lưu trữ dữ liệu tối thiểu là 24 tháng

Khoản 1 Điều 20 Nghị định 333/2026/NĐ-CP quy định:

“Thời gian lưu trữ dữ liệu theo quy định tại Điều 19 Nghị định này bắt đầu từ khi doanh nghiệp nhận được yêu cầu lưu trữ dữ liệu đến khi kết thúc yêu cầu. Thời gian lưu trữ tối thiểu là 24 tháng.”

Riêng đối với nhật ký hệ thống phục vụ điều tra, xử lý hành vi vi phạm pháp luật về an ninh mạng, khoản 3 Điều 20 quy định thời gian lưu trữ tối thiểu là 12 tháng.

Về khả năng truy xuất nhật ký, điểm c khoản 6 Điều 16 Nghị định 333/2026/NĐ-CP yêu cầu:

“Thời gian lưu trữ nhật ký hệ thống phải bảo đảm có thể truy xuất dữ liệu ít nhất trong vòng 12 tháng, đáp ứng yêu cầu xác minh, điều tra, xử lý hành vi vi phạm pháp luật.”

5. Trình tự yêu cầu doanh nghiệp nước ngoài lưu trữ dữ liệu tại Việt Nam thế nào?

Khoản 6 Điều 19 Nghị định 333/2026/NĐ-CP quy định trình tự, thủ tục yêu cầu lưu trữ dữ liệu, đặt chi nhánh hoặc văn phòng đại diện của doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam:

  • Bộ trưởng Bộ Công an ra quyết định yêu cầu lưu trữ dữ liệu, đặt chi nhánh hoặc văn phòng đại diện tại Việt Nam;
  • Lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thuộc Bộ Công an thông báo, hướng dẫn, theo dõi, giám sát, đôn đốc doanh nghiệp thực hiện yêu cầu lưu trữ dữ liệu, đặt chi nhánh hoặc văn phòng đại diện tại Việt Nam; đồng thời, thông báo cho các cơ quan liên quan để thực hiện chức năng quản lý nhà nước theo thẩm quyền;
  • Trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày Bộ trưởng Bộ Công an ra quyết định, các doanh nghiệp quy định tại điểm a khoản 3 Điều này phải hoàn thành lưu trữ dữ liệu, đặt chi nhánh hoặc văn phòng đại diện tại Việt Nam.

Về thời gian duy trì chi nhánh hoặc văn phòng đại diện, khoản 2 Điều 20 Nghị định 333/2026/NĐ-CP quy định:

“Thời gian đặt chi nhánh hoặc văn phòng đại diện tại Việt Nam theo quy định tại Điều 19 Nghị định này bắt đầu từ khi doanh nghiệp nhận được yêu cầu đặt chi nhánh hoặc văn phòng đại diện tại Việt Nam đến khi doanh nghiệp không còn hoạt động tại Việt Nam hoặc dịch vụ được quy định không còn cung cấp tại Việt Nam.”

Xem tiếp tại đường Link =>https://share.google/95vWgLibLHtrKmhdF

Người sử dụng đất có nguồn gốc lấn, chiếm tại Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận có được giao đất tái định cư?

Nghị quyết 66.26/2026/NQ-CP quy định chính sách hỗ trợ, tái định cư đối với người sử dụng đất có nguồn gốc lấn, chiếm khi Nhà nước thu hồi đất thực hiện Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận. Vậy người sử dụng đất có nguồn gốc lấn, chiếm có được giao đất tái định cư không?

1. Người sử dụng đất có nguồn gốc lấn, chiếm tại Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận có được giao đất tái định cư không?

Theo khoản 2 Điều 3 Nghị quyết 66.26/2026/NQ-CP, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất có nguồn gốc lấn, chiếm vẫn được giao đất tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất thực hiện Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận nếu đáp ứng các điều kiện theo quy định.

Cụ thể, chính sách này áp dụng đối với hộ gia đình, cá nhân thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 3 Nghị quyết 66.26/2026/NQ-CP, bao gồm:

  • Sử dụng đất nông nghiệp ổn định có nguồn gốc lấn, chiếm từ ngày 01/7/2014 đến trước ngày Nghị quyết 174/2024/QH15 có hiệu lực thi hành.
  • Đất do Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý, bao gồm cả các trường hợp lấn, chiếm đất thuộc phạm vi thu hồi theo Quyết định 191/QĐ-UBND ngày 04/4/2025 của Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Thuận.
  • Không được bồi thường về đất, tài sản gắn liền với đất và thuộc các trường hợp quy định tại Bảng 2 Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị quyết. Theo đó, có 33 trường hợp sử dụng đất nông nghiệp ổn định có nguồn gốc lấn, chiếm từ ngày 01/7/2014 đến trước ngày Nghị quyết 174/2024/QH15 có hiệu lực, với tổng diện tích 11 ha.

Để được giao đất tái định cư, hộ gia đình, cá nhân còn phải đáp ứng các điều kiện tại khoản 2 Điều 3, gồm:

  • Có nhà ở gắn liền với đất bị thu hồi.
  • Phải di chuyển chỗ ở do Nhà nước thu hồi đất.
  • Không còn chỗ ở nào khác trên địa bàn cấp xã nơi có đất thu hồi.

Như vậy, việc giao đất tái định cư không áp dụng cho tất cả các trường hợp sử dụng đất có nguồn gốc lấn, chiếm mà chỉ áp dụng đối với nhóm đối tượng và điều kiện cụ thể nêu trên.

2. Người sử dụng đất có nguồn gốc lấn, chiếm phải nộp bao nhiêu tiền khi được giao đất tái định cư?

Theo khoản 2 Điều 3 Nghị quyết 66.26/2026/NQ-CP, hộ gia đình, cá nhân thuộc đối tượng được giao đất tái định cư phải thực hiện nghĩa vụ tài chính tùy theo giá trị suất tái định cư được giao.

2.1. Trường hợp được giao suất tái định cư tối thiểu

Hộ gia đình, cá nhân được giao suất tái định cư tối thiểu phải nộp 50% giá trị suất tái định cư tối thiểu.

Theo đó, người được giao đất tái định cư không phải nộp toàn bộ giá trị suất tái định cư tối thiểu mà chỉ phải nộp một nửa giá trị theo quy định.

2.2. Trường hợp được giao đất tái định cư lớn hơn suất tái định cư tối thiểu

Đối với trường hợp được giao đất tái định cư có giá trị lớn hơn suất tái định cư tối thiểu, hộ gia đình, cá nhân phải nộp:

  • 50% giá trị suất tái định cư tối thiểu.
  • 100% phần giá trị tăng thêm của suất tái định cư được giao so với giá trị suất tái định cư tối thiểu.

Như vậy, chính sách giảm nghĩa vụ tài chính chỉ áp dụng đối với phần giá trị tương ứng suất tái định cư tối thiểu. Phần giá trị vượt mức này phải được nộp đầy đủ.

Ví dụ, nếu suất tái định cư tối thiểu có giá trị 400 triệu đồng thì người được giao suất tái định cư tối thiểu phải nộp 200 triệu đồng.

Trường hợp được giao đất tái định cư có giá trị 600 triệu đồng, số tiền phải nộp được tính như sau:

  • 50% giá trị suất tái định cư tối thiểu: 200 triệu đồng.
  • 100% giá trị tăng thêm: 200 triệu đồng.

Tổng số tiền phải nộp là 400 triệu đồng.

Ví dụ trên chỉ nhằm minh họa cách tính nghĩa vụ tài chính theo khoản 2 Điều 3 Nghị quyết 66.26/2026/NQ-CP, không phải mức giá tái định cư thực tế tại địa phương.

3. Người sử dụng đất có nguồn gốc lấn, chiếm được hưởng những khoản hỗ trợ nào khác?

Bên cạnh chính sách giao đất tái định cư, khoản 1 Điều 3 Nghị quyết 66.26/2026/NQ-CP còn quy định 03 khoản hỗ trợ bằng tiền đối với hộ gia đình, cá nhân thuộc đối tượng áp dụng.

3.1. Hỗ trợ đối với đất nông nghiệp bị thu hồi

Khoản tiền hỗ trợ đối với đất thu hồi bằng 80% mức tiền bồi thường của loại đất nông nghiệp thu hồi.

Khoản hỗ trợ được tính trên diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi nhưng không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp tại địa phương.

Việc xác định tiền bồi thường làm căn cứ tính hỗ trợ được thực hiện theo quy định của pháp luật đất đai hiện hành.

3.2. Hỗ trợ đối với tài sản gắn liền với đất

Khoản tiền hỗ trợ đối với tài sản gắn liền với đất thu hồi bằng 80% mức tiền bồi thường giá trị tài sản gắn liền với đất.

Giá trị tài sản làm căn cứ tính hỗ trợ được xác định theo quy định của pháp luật đất đai hiện hành.

3.3. Hỗ trợ bảo đảm sinh kế, ổn định đời sống

Khoản hỗ trợ bảo đảm sinh kế, ổn định đời sống bằng 01 lần giá của loại đất nông nghiệp thu hồi trong Bảng giá đất tại thời điểm phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

Khoản hỗ trợ được tính đối với diện tích đất nông nghiệp thu hồi nhưng không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp tại địa phương.

Cách tính được khái quát như sau:

Tiền hỗ trợ = Giá đất nông nghiệp trong Bảng giá đất × Diện tích đất được tính hỗ trợ.

Như vậy, hộ gia đình, cá nhân thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 3 được hưởng các khoản hỗ trợ bằng tiền nêu trên. Trường hợp đáp ứng thêm điều kiện tại khoản 2 Điều 3 thì được giao đất tái định cư và thực hiện nghĩa vụ tài chính tương ứng.

4. Đã có phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trước ngày Nghị quyết có hiệu lực thì xử lý thế nào?

Theo khoản 1 Điều 6 Nghị quyết 66.26/2026/NQ-CP, các trường hợp đã có quyết định thu hồi đất, phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trước ngày Nghị quyết có hiệu lực thì được điều chỉnh, bổ sung phương án theo chính sách tại Nghị quyết này, bảo đảm thống nhất trong toàn bộ dự án.

Xem tiếp tại đường Link =>https://share.google/owylwf86JLvE2oNrU

Nguồn: Báo Mới; Luật Việt Nam; Dân Trí

Xem thêm:
Về trang trước

Chủ đề:

Bình luận và đánh giá
Gửi nhận xét đánh giá

Đọc nhiều nhất

Hưởng trợ cấp xã hội; Điều tra các giao dịch sau; Trường hợp cần đổi CCCD để tránh bị ngừng giao dịch; Người có SIM điện thoại chú ý; Số tiền USD được mang đi nước ngoài

Suýt làm dâu Việt và bài học cả đời về cách buông tay; Lại nói với con; Ngày thu vắng

Trợ cấp hưu trí xã hội; Điều tra giao dịch chuyển tiền; Các loại giấy tờ tích hợp trên VNeID; Điều chỉnh diện tích sổ đỏ; Chuyển đất ao sang đất ở

Nộp thuế đất phi nông nghiệp sang đất ở; 8 năm kiện đòi đất; Tài khoản chứng khoán, MXH phải liên kết VNeID; Làm sổ đỏ thửa thứ hai; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Thay đổi quy trình cấp thẻ BHYT; Tài khoản ngân hàng liên kết VNeID; Khách bay quốc tế từ Nội Bài chú ý; Sang tên sổ đỏ đất ở chuyển sang đất vườn; Người có đất chú ý

Chuyển đất trồng cây lâu năm sang đất ở; Dùng máy tính, laptop chú ý; Người thân mất nợ ngân hàng, ai trả; Giảm tiền sử dụng chuyển sang đất ở; Dự thảo Luật Kinh doanh bất động sản

Tranh chấp đất từ thời vua Càn Long; Khóa tài khoản doanh nghiệp chưa xong dữ liệu hải quan; Quy định mới tạm trú; 3 kênh hỗ trợ doanh nghiệp giải thể; Hạn mức công nhận đất ở

Đã hủy ủy quyền, đất vẫn bị bán; Quy định tách, hợp thửa đất; Gỡ vướng cấp sổ đỏ đất qua nhiều thế hệ; Thông báo mới từ Cơ quan Thuế

Lên đầu trang