Luật mạng Internet NetzDG Đức  

NetzDG (Netzwerkdurchsetzungsgesetz là tên gọi tắt của Gesetz zur Verbesserung der Rechtsdurchsetzung in sozialen Netzwerken (Luật cải tiến thực thi pháp luật đối với các mạng xã hội). Gồm 6 điều với các điểm chính:

Điều 1 Phạm vi điều chỉnh

(1) Luật này áp dụng cho các nhà cung cấp dịch vụ trên môi trường viễn thông, với mục đích thu lợi nhuận mà lập ra các diễn đàn trên Internet, để người dùng trao đổi với nhau các nội dung bất kỳ, hoặc để mọi người đều có thể tiếp cận (mạng xã hội). Các diễn đàn phục vụ mục đích báo chí có biên tập, do phía cung cấp dịch vụ tự chịu trách nhiệm, không bị coi là mạng xã hội theo ý nghĩa của Luật này. Cũng như vậy, các diễn đàn dành cho trao đổi cá nhân hay để phổ biến nội dung riêng biệt không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật này.

(2) Nhà cung cấp dịch vụ của mạng xã hội được miễn trách nhiệm quy định tại Điều 2 và Điều 3, nếu mạng xã hội ấy có ít hơn hai triệu người dùng trong nước đăng ký.

(3) Nội dung vi phạm pháp luật là những nội dung phù hợp với Khoản 1 và thỏa mãn điều kiện cấu thành tội phạm được xác định tại các Điều 86, 86a, 89a, 91, 100a, 111, 126, 129, 129a, 129b, 130, 131, 140, 166, 184b kết hợp với 184d, 185, 186, 187, 201a, 241 hoặc Điều 269 của Bộ luật hình sự, mà không thể biện hộ.

Điều 2 Trách nhiệm báo cáo

(1) Các nhà cung cấp dịch vụ mạng xã hội có trách nhiệm lập báo cáo nửa năm một lần, nếu trong năm có hơn 100 lần khiếu nại về nội dung vi phạm pháp luật, và phải công bố báo cáo ấy trên Bundesanzeiger (Trang thông báo Liên bang) và trang nhà của mình, muộn nhất là một tháng sau khi hết hạn nửa năm.

(2) Quy định chín khía cạnh tối thiểu mà báo cáo phải đề cập.

Điều 3 Cách xử lý khiếu nại về nội dung vi phạm pháp luật

(1) Nhà cung cấp dịch vụ phải đưa ra quy trình có hiệu quả và minh bạch để xử lý khiếu nại về nội dung vi phạm pháp luật. Nhà cung cấp dịch vụ phải cung cấp cho người dùng một quy trình dễ nhận biết, dễ tiếp cận trực tiếp và luôn có thể dùng được để gửi khiếu nại về nội dung vi phạm pháp luật.

(2) Quy trình cần đảm bảo đối với nhà cung cấp dịch vụ mạng xã hội.

Tiếp nhận ngay khiếu nại và kiểm tra xem nội dung bị khiếu nại có vi phạm pháp luật hay không, và có cần xóa hay ngăn chặn tiếp cận nội dung ấy hay không;

xóa hay ngăn chặn tiếp cận những nội dung rõ ràng vi phạm pháp luật trong vòng 24 giờ, kể từ khi nhận được khiếu nại, trừ trường hợp nhà cung cấp dịch vụ mạng có thỏa thuận khác về thời hạn với cơ quan theo dõi tội phạm;

xóa hay ngăn chặn tiếp cận mọi nội dung vi phạm pháp luật trong vòng 7 ngày, kể từ khi nhận được khiếu nại. Có thể vượt thời hạn 7 ngày nếu

a) việc xác định tính vi phạm pháp luật của nội dung phụ thuộc vào khả năng dối trá của lời tố cáo hoặc hoàn cảnh thực tế; trong trường hợp này, nhà cung cấp dịch vụ có thể để người dùng mạng trình bày quan điểm về việc khiếu nại trước khi đưa ra quyết định,

b) nhà cung cấp dịch vụ mạng trao quyền quyết định về tính vi phạm pháp luật cho một Einrichtung der Regulierten Selbstregulierung trong vòng 7 ngày kể từ khi nhận được khiếu nại, và tuân theo quyết định của nó;

lưu trữ nội dung bị xóa trong vòng 10 tuần để làm bằng chứng;

thông báo ngay cho người khiếu nại và người dùng mạng về quyết định và giải thích cơ sở để đưa ra quyết định.

(3) Quy trình phải yêu cầu chép lại quá trình khiếu nại và giải quyết khiếu nại.

(4) Việc xử lý khiếu nại phải được giám sát hàng tháng bởi lãnh đạo mạng xã hội. Phải khắc phục ngay mọi khiếm khuyết tổ chức trong việc xử ký khiếu nại. Những người được phân công xử lý khiếu nại phải được lãnh đạo tạo điều kiện học tập và trợ giúp bằng tiếng Đức ít nhất nửa năm một lần…

“Einrichtung der Regulierten Selbstregulierung” (được quy định cụ thể tại Điều 3 Khoản 6) là một khái niệm hơi khó dịch, nôm na là “Cơ sở tự điều chỉnh bị kiểm soát”. Tự điều chỉnh vì nó tự đảm bảo về sự độc lập và trình độ chuyên môn của người đứng ra kiểm tra, theo quy định tại Khoản 6. Bị kiểm soát vì cơ sở này được cơ quan hành chính công nhận dưới một số điều kiện (theo quy định tại Khoản 7), và có thể bị truất quyền hay bị hạn chế hoạt động trong một số trường hợp (theo quy định tại Khoản 8).

Điều 4 quy định phạt tiền, gồm năm khoản

(1) Quy định tám loại hành vi bị coi là vi phạm quy định của luật này, đó là:

1. Vi phạm Điều 2 Khoản 1 bằng cách không làm báo cáo, hoặc làm báo cáo sai, hay không đầy đủ, hay không đúng thời hạn, hoặc không công bố báo cáo, hoặc công bố không đúng, hay không đầy đủ, hay không đúng thời hạn.

2. Vi phạm Điều 3 Khoản 1 Câu 1 bằng cách không lập quy trình xử lý khiếu nại, hoặc lập quy trình không đúng hay không đầy đủ.

3. Vi phạm Điều 3 Khoản 1 Câu 2 bằng cách không cung cấp quy trình hay cung cấp quy trình không đúng cách.

4. Vi phạm Điều 3 Khoản 4 Câu 1 bằng cách không giám sát hay giám sát không đúng việc xử lý khiếu nại.

5. Vi phạm Điều 3 Khoản 4 Câu 2 bằng cách không khắc phục hay khắc phục không kịp thời khiếm khuyết tổ chức.

6. Vi phạm Điều 3 Khoản 4 Câu 3 bằng cách không tổ chức hoặc tổ chức không kịp thời việc học tập và trợ giúp cho những người được phân công xử lý khiếu nại.

7. Vi phạm Điều 5 bằng cách không chỉ định người toàn quyền tiếp nhận khiếu nại, hay người có quyền tiếp nhận yêu cầu cung cấp thông tin của cơ quan theo dõi tội phạm.

8. Vi phạm Điều 5 bằng cách người có quyền tiếp nhận yêu cầu cung cấp thông tin không phản ứng (nicht reagiert) trước đề nghị của cơ quan theo dõi tội phạm.

(2) Quy định có thể bị phạt tiền đến năm triệu (fünf Millionen) Euro đối với sáu hành vi từ số 1 đến số 6, và có thể phạt tiền đến năm trăm nghìn (fünfhunderttausend) Euro đối với hai hành vi số 7 và số 8 (được liệt kê trong Khoản 1).

Cần lưu ý là việc không thực hiện Điều 3 Khoản 2 (xóa hay ngăn chặn tiếp cận các nội dung vi phạm pháp luật; lưu trữ nội dung bị xóa trong vòng 10 tuần để làm bằng chứng; thông báo ngay cho người khiếu nại và người dùng mạng về quyết định và giải thích cơ sở để đưa ra quyết định) KHÔNG bị liệt kê trong số tám hành vi bị coi là vi phạm quy định của luật này (theo Khoản 1), vì vậy cũng không bị áp dụng hình thức phạt tiền (theo Khoản 2).

Đặc biệt, Khoản 5 của Điều 4 quy định: “Nếu cơ quan hành chính muốn đưa ra quyết định dựa trên cơ sở các nội dung không được xóa hoặc không được ngăn chặn thuộc loại vi phạm pháp luật theo quy định tại Điều 1 Khoản 3, thì trước đó phải đề nghị tòa án phán quyết về sự vi phạm pháp luật. Thẩm quyền phán quyết thuộc về tòa án quyết định phạt tiền… Phán quyết của tòa án là không thể bác bỏ và có giá trị ràng buộc đối với cơ quan hành chính.”

Điều 5

(1) Khoản 1 quy định nhà cung cấp dịch vụ mạng xã hội phải chỉ định tại Đức một người toàn quyền tiếp nhận khiếu nại.

(2) Khoản 2 quy định nhà cung cấp dịch vụ phải chỉ định tại Đức một người có quyền tiếp nhận yêu cầu cung cấp thông tin của cơ quan theo dõi tội phạm. Người ấy có trách nhiệm trả lời yêu cầu cung cấp thông tin trong vòng 48 giờ, nếu không cung cấp thông tin theo yêu cầu thì phải giải thích lý do. (Tức là người ấy có nghĩa vụ phải phản ứng, chứ không phải đáp ứng đề nghị của của cơ quan theo dõi tội phạm.)

Điều 6 Quy định giao thời

(Theo GS TS Hoàng Xuân Phú)

Về trang trước

Chủ đề:

Bình luận và đánh giá
Gửi nhận xét đánh giá

Luật Pháp

Nhập cư

Người Việt ở Đức

Chính trị - Xã hội

Lên đầu trang