Chuyển đất nông nghiệp sang đất ở; Hàng xóm được cấp sổ đỏ chồng lên đất nhà mình; Xác nhận thông tin cư trú; Lưu ý sổ bảo hiểm xã hội; Truy xuất nguồn gốc nguyên liệu

Chuyển đất nông nghiệp sang đất ở và quy định về đường giao thông

Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa giải đáp thắc mắc của người dân về điều kiện chuyển mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp sang đất ở.

Trên Cổng thông tin Chính phủ, một công dân tại Huế thắc mắc:

"Gia đình ông H.P.N (Huế) có 264,8 m2 đất tại xã. Qua tìm hiểu, ông được biết, căn cứ cho phép chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp trong khu dân cư, đất nông nghiệp trong cùng thửa đất có đất ở sang đất ở hoặc chuyển mục đích sử dụng các loại đất phi nông nghiệp không phải là đất ở sang đất ở đối với hộ gia đình, cá nhân là quy hoạch sử dụng đất cấp huyện hoặc quy hoạch chung hoặc quy hoạch phân khu theo quy định của pháp luật về quy hoạch đô thị đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.

Điều 122 Luật Đất đai quy định về điều kiện chuyển mục đích sử dụng đất cũng không thể hiện việc tiếp giáp đường giao thông. Ông N muốn chuyển toàn bộ diện tích thửa đất trên sang đất ở, không thực hiện thủ tục tách thửa.

Ông hỏi, việc cơ quan chức năng căn cứ vào hiện trạng thửa đất không tiếp giáp đường giao thông mà không căn cứ vào quy hoạch của thửa đất để không cho chuyển mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp sang đất ở là đúng hay sai (thửa đất phù hợp quy hoạch đất ở)?".

Bộ Nông nghiệp và Môi trường trả lời vấn đề này như sau:

Tại điểm b khoản 2 Điều 220 Luật Đất đai quy định:

"b) Trường hợp chuyển mục đích sử dụng một phần thửa đất thì thực hiện tách thửa, diện tích tối thiểu của thửa đất sau khi tách phải bằng hoặc lớn hơn diện tích tối thiểu của loại đất sau khi chuyển mục đích sử dụng. Đối với thửa đất có đất ở và đất khác thì không bắt buộc thực hiện tách thửa khi chuyển mục đích sử dụng một phần thửa đất, trừ trường hợp người sử dụng đất có nhu cầu tách thửa".

Tại khoản 3 Điều 11 Nghị quyết số 254/2025/QH15 ngày 11.12.2025 của Quốc hội quy định một số cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai như sau:

"3. Việc tách thửa đất, hợp thửa đất quy định tại điểm d khoản 1 Điều 220 của Luật Đất đai phải bảo đảm có lối đi kết nối với đường giao thông công cộng hoặc được người sử dụng đất liền kề đồng ý cho đi qua để kết nối với đường giao thông công cộng. Trường hợp người sử dụng đất dành một phần diện tích của thửa đất ở hoặc thửa đất có đất ở và đất khác trong cùng thửa đất để làm lối đi, khi thực hiện việc tách thửa đất hoặc hợp thửa đất thì không bắt buộc thực hiện chuyển mục đích sử dụng đất đối với phần diện tích đất để làm lối đi đó.

Trường hợp chuyển mục đích sử dụng một phần thửa đất thì không bắt buộc thực hiện tách thửa. Việc hợp các thửa đất không bắt buộc cùng mục đích sử dụng đất, cùng hình thức trả tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, cùng thời hạn sử dụng đất".

Tại Điều 122 Luật Đất đai chỉ quy định về điều kiện cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với việc chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa, đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất sang mục đích khác, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở thương mại, trong đó không có điều kiện về việc có cạnh tiếp giáp với đường giao thông.

Xem tiếp tại đường Link =>https://share.google/Yd1gHusO24ko8EhtZ

Cách xử lý tình trạng hàng xóm được cấp sổ đỏ chồng lấn lên phần đất nhà mình

Bạn đọc Nguyễn Anh hỏi: "Không may gặp phải tình huống hàng xóm được cấp sổ đỏ chồng lấn lên phần đất nhà mình, nên xử lý thế nào?".

Trả lời câu hỏi trên, luật sư Quách Thành Lực - Giám đốc Công ty Luật TNHH Pháp Trị, Đoàn Luật sư TP Hà Nội - cho biết, trên thực tế có nhiều thửa đất đã được các gia đình sử dụng ổn định qua nhiều thế hệ, ranh giới được xác lập rõ ràng và được các bên tôn trọng.

Tuy nhiên, vẫn có những trường hợp một hoặc cả hai hộ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ), đến khi kiểm tra, đối chiếu hoặc đo đạc lại theo bản đồ địa chính mới phát hiện phần đất của nhà này lại nằm trong sổ đỏ của nhà kia, hoặc ranh giới bị chồng lấn vài chục centimet.

Theo luật sư, khi gặp tình huống này, người dân cần hết sức bình tĩnh. Chẳng hạn, trên thực tế thửa đất chỉ có 5m mặt tiền nhưng trong sổ đỏ lại thể hiện 6m. Nếu chỉ căn cứ vào giấy chứng nhận để yêu cầu lấy thêm phần đất của hàng xóm thì chưa hẳn đã đúng.

Điều đầu tiên cần làm là kiểm tra xem việc cấp sổ đỏ có đúng quy định hay không, có phù hợp với hồ sơ, bản đồ địa chính và hệ tọa độ kỹ thuật hay không. Giá trị pháp lý của sổ đỏ chỉ được bảo đảm khi phù hợp với toàn bộ hồ sơ địa chính và trình tự pháp luật.

Trong nhiều trường hợp, ranh giới sử dụng đất đã được các gia đình xác lập, tôn trọng qua nhiều đời mới là yếu tố cần được ưu tiên xem xét trước, nhằm tránh phát sinh tranh chấp, ảnh hưởng đến tình làng nghĩa xóm.

Lý giải nguyên nhân xảy ra sai lệch, luật sư Quách Thành Lực cho hay, sổ đỏ do cơ quan có thẩm quyền cấp, nhưng vẫn được lập trên cơ sở bản đồ địa chính và kết quả đo đạc do con người thực hiện. Vì vậy, dù là bản đồ chính quy vẫn có khả năng xảy ra sai số.

"Từ kinh nghiệm tiếp xúc với nhiều hồ sơ đất đai, tôi nhận thấy những sổ đỏ được cấp khoảng trước năm 2020, hầu như khi thực hiện các thủ tục sau này đều phải điều chỉnh. Có trường hợp sai vài centimet, cũng có trường hợp sai đến vài mét" - luật sư nói.

Theo ông, nguyên nhân xuất phát từ việc nhiều địa phương trước đây sử dụng bản đồ VLAP và hệ thống đo đạc chưa đạt độ chính xác như hiện nay. Và trên thực tế, không phải mọi thửa đất đều được cắm mốc đầy đủ, ký giáp ranh từng hộ trước khi lập bản đồ. Vì vậy, việc xuất hiện sai số là điều khó tránh khỏi.

Luật sư cho rằng, với những trường hợp sai lệch nhỏ như vài centimet hoặc thiếu hụt ở đầu, cuối thửa đất, người dân nên cân nhắc điều chỉnh giấy chứng nhận để phù hợp với ranh giới sử dụng thực tế đã được xác lập ổn định từ nhiều năm, thay vì chỉ tuyệt đối dựa vào thông tin trên sổ đỏ.

Đối với các giấy chứng nhận được cấp từ năm 2020 đến nay, luật sư nhận định chất lượng đo đạc đã được cải thiện đáng kể nhờ ứng dụng thiết bị hiện đại và công nghệ xử lý số liệu tiên tiến.

Theo luật sư, hiện nay, hệ thống đo vẽ đã được trang bị nhiều giải pháp kỹ thuật như bù nghiêng, hiệu chỉnh sai số và đồng bộ hệ tọa độ, giúp hạn chế đáng kể các sai sót trong quá trình cấp giấy chứng nhận.

Còn ở giai đoạn trước năm 2020, nhiều cán bộ địa chính nhận thức được khả năng tồn tại sai lệch nhưng vẫn phải thực hiện việc cấp sổ đỏ để bảo đảm tiến độ. Những sai sót sẽ được chỉnh lý khi người dân thực hiện các thủ tục như chuyển nhượng, sang tên hoặc đính chính giấy chứng nhận.

Xem tiếp tại đường Link =>https://share.google/eHa9N8e91oMgcazo4

Quy định xác nhận thông tin về cư trú

Xác nhận thông tin về cư trú được quy định tại Thông tư 116/2026/TT-BCA quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Cư trú.

Xác nhận thông tin về cư trú được quy định như sau: 

1. Công dân có thể yêu cầu cơ quan đăng ký cư trú trong cả nước không phụ thuộc vào nơi cư trú của mình cấp xác nhận qua Cổng dịch vụ công quốc gia, Ứng dụng định danh quốc gia (VNeID) hoặc trực tiếp tại trụ sở cơ quan đăng ký cư trú.

2. Xác nhận thông tin về cư trú có thể cấp cho cá nhân hoặc cho hộ gia đình.

a) Trường hợp cấp cho hộ gia đình phải do chủ hộ đề xuất, trường hợp thành viên hộ gia đình đề xuất thì phải có ủy quyền hoặc đồng ý của chủ hộ trừ trường hợp chủ hộ chết, mất tích, không đủ năng lực hành vi dân sự hoặc đang chấp hành án phạt tù thì phải có ý kiến của các thành viên khác đủ năng lực hành vi dân sự trong hộ gia đình;

b) Trường hợp cá nhân đề nghị không cần chủ hộ đồng ý, trong đó công dân được cung cấp đầy đủ thông tin có liên quan đến hộ gia đình trong giai đoạn công dân là thành viên của hộ gia đình đó.

3. Nội dung xác nhận thông tin về cư trú bao gồm thông tin về nơi cư trú hiện tại, các nơi cư trú trước đây, thời gian sinh sống tại nơi đã đăng ký cư trú, hình thức đăng ký cư trú và các thông tin về cư trú khác đang có trong Cơ sở dữ liệu về cư trú, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, tàng thư căn cước, cư trú. Xác nhận thông tin về cư trú có giá trị sử dụng 01 năm kể từ ngày cấp. Trường hợp thông tin về cư trú của công dân có sự thay đổi, điều chỉnh và được cập nhật trong Cơ sở dữ liệu về cư trú thì xác nhận thông tin về cư trú hết giá trị sử dụng kể từ thời điểm thay đổi, điều chỉnh.

Xem tiếp tại đường Link =>https://share.google/q0j8ZTdhJ3SPoiI4W

Lưu ý về sổ bảo hiểm xã hội trên VNeID và VssID

Người lao động có thể tra cứu quá trình tham gia bảo hiểm xã hội trên VssID và VNeID, nhưng vẫn cần đăng ký để nhận sổ BHXH điện tử chính thức theo hướng dẫn dưới đây.

VssID hiện cho phép người tham gia kiểm tra mã số bảo hiểm xã hội (BHXH), thời gian đóng BHXH, bảo hiểm thất nghiệp, thông tin thẻ BHYT và một số chế độ đã hưởng. VNeID cũng từng bước tích hợp dữ liệu bảo hiểm, giúp người dân thuận tiện tra cứu bằng tài khoản định danh điện tử.

Do đó, nhiều người cho rằng thông tin hiển thị trên 2 ứng dụng này chính là sổ BHXH điện tử. Trên thực tế, dữ liệu tra cứu và sổ BHXH điện tử là 2 khái niệm khác nhau.

Theo quy định, sổ BHXH điện tử do cơ quan BHXH tạo lập từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về bảo hiểm, gắn với mã số BHXH duy nhất của người tham gia.

Sau khi được tạo lập, sổ có thể được lưu trong kho dữ liệu điện tử, hiển thị trên VssID, tích hợp với tài khoản VNeID mức độ 2 và gửi tới email của người lao động.

Trong khi đó, thông tin hiện có trên VssID và VNeID chủ yếu phục vụ nhu cầu tra cứu. Người lao động có thể kiểm tra thời gian, mức đóng, đơn vị tham gia, quá trình hưởng chế độ hoặc phát hiện dữ liệu bị thiếu, sai.

Nếu chỉ cần theo dõi doanh nghiệp đã đóng BHXH hay chưa hoặc đối chiếu quá trình tham gia, người lao động có thể xem trực tiếp trên VssID và VNeID. Tuy nhiên, việc nhìn thấy những dữ liệu này không đồng nghĩa sổ BHXH điện tử đã tự động được cấp.

Sổ BHXH điện tử chỉ được sử dụng sau khi cơ quan BHXH tạo lập theo quy định. Bản điện tử có giá trị pháp lý tương đương sổ giấy, được dùng khi thực hiện các thủ tục về BHXH, bảo hiểm thất nghiệp hoặc khi cần xuất trình hồ sơ chính thức.

Để nhận sổ BHXH điện tử chính thức, người tham gia cần đăng ký tại mục tương ứng trong Tờ khai đăng ký, điều chỉnh thông tin tham gia BHXH, BHYT, mẫu TK1-TS.

Tờ khai có thể được nộp qua đơn vị sử dụng lao động hoặc trực tiếp tại cơ quan BHXH. Sau khi hồ sơ được xử lý, sổ điện tử được trả vào kho dữ liệu điện tử, ứng dụng VssID, email của người tham gia và tích hợp với tài khoản VNeID mức độ 2.

Trường hợp bị mất sổ giấy nhưng vẫn có nhu cầu cấp lại, người lao động cũng có thể kê khai mẫu TK1-TS để đề nghị giải quyết.

Nếu thông tin trên VssID hoặc VNeID bị thiếu, sai thời gian đóng hoặc chưa cập nhật đầy đủ đơn vị làm việc, người lao động nên liên hệ doanh nghiệp hoặc cơ quan BHXH đang quản lý để kiểm tra, điều chỉnh.

Xem tiếp tại đường Link =>https://share.google/k6RGM0NGUWDmK3MOP

Bộ Tài chính trả lời kiến nghị về truy xuất nguồn gốc nguyên liệu đầu vào từ hộ nông dân

Bộ Tài chính vừa trả lời cử tri thắc mắc về truy xuất nguồn gốc nguyên liệu đầu vào từ các hộ nông dân sản xuất nhỏ lẻ.

Cử tri tỉnh Đắk Lắk phản ánh việc truy xuất nguồn gốc nguyên liệu đầu vào từ các hộ nông dân sản xuất nhỏ lẻ cũng gặp nhiều vướng mắc do thiếu hóa đơn, chứng từ hợp pháp.

Bên cạnh đó, quy định mới về hóa đơn điện tử làm phát sinh chi phí đầu tư phần mềm, đường truyền, chữ ký số và nhân lực vận hành, gây khó khăn cho các hộ kinh doanh quy mô nhỏ, đặc biệt là người lớn tuổi.

Trả lời nội dung này, Bộ Tài chính dẫn quy định tại điểm a khoản 1 Điều 1 Luật số 149/2025/QH15 ngày 11.12.2025 sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 5 Luật Thuế giá trị gia tăng.

Theo đó, doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã mua sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường bán cho doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã khác thì không phải kê khai, tính nộp thuế giá trị gia tăng nhưng được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào.

Trên cơ sở các quy định hiện hành, Bộ Tài chính khẳng định các quy định nêu trên không quy định việc truy xuất nguồn gốc nguyên liệu đầu vào, đồng thời góp phần đơn giản hóa thủ tục hành chính, tránh lãng phí thời gian và chi phí cơ hội của doanh nghiệp, hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh.

Bộ Tài chính dẫn quy định tại điểm b khoản 1 Điều 9 Nghị định số 320/2025/NĐ-CP ngày 15.12.2025 của Chính phủ.

Theo đó, đối với trường hợp mua sản phẩm nông, lâm, thủy sản của người sản xuất, đánh bắt trực tiếp bán ra... mua hàng hóa, dịch vụ của cá nhân, hộ kinh doanh có mức doanh thu dưới ngưỡng doanh thu chịu thuế giá trị gia tăng thì phải có chứng từ chi trả tiền theo quy định của pháp luật về kế toán, hóa đơn, chứng từ cho người bán.

Đối với trường hợp giá trị mua hàng hóa, dịch vụ trong ngày của từng hộ, cá nhân từ 5 triệu đồng trở lên phải thanh toán không dùng tiền mặt và có Bảng kê thu mua hàng hóa, dịch vụ do người đại diện theo pháp luật hoặc người được ủy quyền của doanh nghiệp ký, chịu trách nhiệm.

Bộ Tài chính cũng cho biết, về chính sách thuế và các giải pháp hỗ trợ hộ kinh doanh, Luật số 09/2026/QH16 và Nghị định số 141/2026/NĐ-CP đã nâng ngưỡng doanh thu không chịu thuế giá trị gia tăng, không phải nộp thuế thu nhập cá nhân đối với hộ, cá nhân kinh doanh có doanh thu năm từ 1 tỉ đồng trở xuống; đồng thời miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp có tổng doanh thu năm từ 1 tỉ đồng trở xuống.

Đối với chi phí phần mềm hóa đơn điện tử và chữ ký số, Bộ Tài chính cho biết Nghị định số 20/2026/NĐ-CP quy định hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh được cung cấp miễn phí các nền tảng số tích hợp các giải pháp chuyển đổi số, trong đó có phần mềm kế toán tích hợp với phần mềm hóa đơn điện tử và dịch vụ chữ ký số.

Về sử dụng hóa đơn điện tử, theo Nghị định số 141/2026/NĐ-CP và Nghị định số 254/2026/NĐ-CP, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn được sử dụng hóa đơn điện tử miễn phí dịch vụ trong thời gian 12 tháng kể từ khi sử dụng.

Hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có doanh thu năm trên 1 tỉ đồng hoặc bán tài sản phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng phải áp dụng hóa đơn điện tử theo quy định.

Đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có doanh thu năm từ 1 tỉ đồng trở xuống thì không bắt buộc sử dụng hóa đơn điện tử, trừ trường hợp có nhu cầu và đăng ký với cơ quan thuế.

Bộ Tài chính cũng cho biết, từ cuối năm 2025 đến nay, cơ quan thuế đã tổ chức nhiều hội nghị trực tuyến và trực tiếp hỗ trợ hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh trong thực hiện đăng ký, kê khai và nộp thuế; phối hợp với chính quyền địa phương và các tổ công nghệ số cộng đồng triển khai chiến dịch cài đặt eTax Mobile.

Xem tiếp tại đường Link =>https://share.google/qf5ODthQqoCxlyVah

Nguồn: Lao Động; Xây Dựng Chính Sách; Zing News

Xem thêm:
Về trang trước

Chủ đề:

Bình luận và đánh giá
Gửi nhận xét đánh giá

Đọc nhiều nhất

Cấp nhầm sổ đất cho dân; Gỡ tạm hoãn xuất cảnh vì nợ thuế; Đánh thuế 0,2% đất bỏ hoang; Lưu ý mới từ cơ quan Thuế; Tháo gỡ vướng mắc đất đai, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

Người có bất động sản chú ý; VNeID thay đổi mới; Lưu ý dùng camera, TV, máy giặt, tủ lạnh kết nối Internet; Nộp thuế đất phi nông nghiệp; Định danh tài khoản MXH trên VNeID

Chú ý mức phạt khai báo tạm trú; Quy định cấp đổi sổ đỏ ghi đất “thổ cư”; Gỡ khó cho 4.000 trường hợp bị mạo danh; Điều kiện giảm 50% tiền sử dụng đất; Lỗ hổng thừa kế

Tạo chữ ký số trên VneID; Điều tra giao dịch chuyển khoản sau; Cấp sổ đỏ đất không phù hợp quy hoạch; Quy định đất bỏ hoang, bị đánh thuế; Quy định mới xuất, nhập khẩu gạo

Dừng cấp sổ do hàng xóm không ký giáp ranh; Người đi hát karaoke chú ý; Quy định mới đặt cọc mua nhà đất; Nên chọn chung cư sơ cấp hay thứ cấp; Quy định hạn mức đất đai

Các loại tài khoản phải liên kết VNeID; VNeID tích hợp tính năng mới; Ký giáp ranh cấp sổ hồng; Hoang mang thuế đất phi nông nghiệp; Lời khuyên gửi tiết kiệm online

Trợ cấp hưu trí xã hội; Điều tra giao dịch chuyển tiền; Các loại giấy tờ tích hợp trên VNeID; Điều chỉnh diện tích sổ đỏ; Chuyển đất ao sang đất ở

Hàng ngàn đất nền, biệt thự được cấp sổ; Cấp hộ chiếu sau phẫu thuật thẩm mỹ khuôn mặt; Sửa Luật Xử lý vi phạm hành chính; Gỡ điểm nghẽn đất đai không chỉ bằng sửa luật

Lên đầu trang