- Tư vấn
.jpg)
Cử tri kiến nghị thành phố hướng dẫn việc xử lý đối với các sổ đỏ cấp sau ngày 1.7.2004 nhưng vẫn ghi mục đích sử dụng là chữ "T".
UBND TP Hà Nội đã có văn bản về việc giải quyết, trả lời kiến nghị cử tri trước kỳ họp 28 HĐND TP, khóa XVI, nhiệm kỳ 2021-2026.
Theo nội dung văn bản, cử tri xã Đại Xuyên đề nghị UBND TP Hà Nội hướng dẫn việc xử lý đối với các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp sau ngày 1.7.2004 nhưng vẫn ghi mục đích sử dụng là chữ "T".
Đối với các trường hợp này, cử tri đề xuất làm rõ nội dung: Liệu có được xem xét, giải quyết theo thủ tục xác định lại diện tích đất ở đối với thửa đất có vườn, ao, đất thổ cư đã được cấp giấy chứng nhận trước ngày 1.7.2004 khi người sử dụng đất có nhu cầu hoặc khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định tại Khoản 6 Điều 141 Luật Đất đai năm 2024 hay không.
Liên quan đến nội dung này, UBND TP Hà Nội cho biết đã tiếp thu kiến nghị của cử tri.
UBND TP giao Sở Nông nghiệp và Môi trường hướng dẫn các địa phương thực hiện, thông tin để cử tri biết trong tháng 7.2026.
Mới đây, UBND xã Chuyên Mỹ (Hà Nội) đã phát đi thông báo về việc triển khai Chiến dịch 30 ngày rà soát, xóa dữ liệu chữ "T" miễn phí cho nhân dân trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (hay còn gọi là sổ đỏ) đã cấp.
Theo UBND xã Chuyên Mỹ, việc xóa chữ "T" sẽ giúp người dân thực hiện đầy đủ các quyền lợi hợp pháp như: Thừa kế, tặng cho, chuyển nhượng, thế chấp quyền sử dụng đất và các giao dịch dân sự khác liên quan đến đất đai.
Chiến dịch áp dụng đối với các trường hợp:
- Có tên trong quyết định giao đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất do cơ quan có thẩm quyền ban hành (chủ yếu là UBND huyện Phú Xuyên cũ giai đoạn 2000-2006).
- Tên chủ sử dụng đất, diện tích giao và diện tích ghi trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải trùng khớp theo danh sách các hộ gia đình, cá nhân có tên trong quyết định giao đất/công nhận quyền sử dụng đất của cơ quan có thẩm quyền (gửi kèm danh sách chi tiết các quyết định giao đất/công nhận quyền sử dụng đất).
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đang ghi mục đích sử dụng là chữ "T".
UBND xã Chuyên Mỹ lưu ý, Chiến dịch 30 ngày rà soát, xóa dữ liệu chữ "T" miễn phí cho nhân dân chỉ áp dụng đối với những trường hợp đủ điều kiện theo danh sách gửi kèm.
Đối với những trường hợp không có tên trong danh sách tại các Quyết định sẽ được rà soát và tiếp tục xem xét, giải quyết theo đúng quy định.
Lý giải về ý nghĩa của chữ "T" trên sổ đỏ, Luật sư Quách Thành Lực - Công ty Luật TNHH Pháp Trị (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) cho biết, trong thời kỳ Luật Đất đai năm 1993 có hiệu lực, việc phân loại và ký hiệu đất được thực hiện theo Quyết định số 499/QĐ-ĐC năm 1995.
Theo quy định này, ký hiệu “T” được xác định là đất sử dụng vào mục đích để ở, tức là đất ở. Vì vậy, đối với các giấy chứng nhận được cấp trong thời kỳ này mà ghi ký hiệu “T”, việc xác định mục đích sử dụng đất đã được thực hiện phù hợp với quy định pháp luật tại thời điểm cấp giấy.
Về nguyên tắc, việc xác định lại loại đất chỉ đặt ra khi:
Giấy chứng nhận chưa thể hiện rõ loại đất;
Có sai sót hoặc xác định không đúng loại đất theo quy định pháp luật tại thời điểm cấp.
Ngược lại, nếu giấy chứng nhận đã xác định đúng loại đất theo quy định pháp luật tại thời điểm cấp thì không có căn cứ để xác định lại.
Do đó, trường hợp sổ đỏ được cấp hợp pháp trong giai đoạn Luật Đất đai năm 1993 và ghi ký hiệu “T” thì về bản chất đã là đất ở. Khi thực hiện cấp đổi hoặc cập nhật theo quy định hiện hành, cơ quan có thẩm quyền chỉ cần chuyển đổi cách thể hiện sang ký hiệu hiện nay như:
ONT (đất ở tại nông thôn);
ODT (đất ở tại đô thị).
Hiện nay có ý kiến cho rằng, ví dụ tại khoản 2 Điều 20 Nghị định số 49/2026 đề cập trường hợp đất ghi ký hiệu “T” là chưa rõ loại đất.
Tuy nhiên, nếu đối chiếu với Quyết định số 499/QĐ-ĐC năm 1995 thì ký hiệu “T” đã được quy định khá rõ là đất ở. Vì vậy, nhiều quan điểm cho rằng việc coi ký hiệu này là “chưa rõ” có thể chưa thực sự phù hợp hoặc có thể là sự nhầm lẫn với các ký hiệu khác như TTV, TC hoặc TQ - vốn là các ký hiệu dễ gây nhầm lẫn hơn.
Nếu giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp hợp pháp trong thời kỳ Luật Đất đai năm 1993 và trên giấy ghi ký hiệu “T”, thì có cơ sở để xác định đây là đất ở theo quy định pháp luật tại thời điểm cấp giấy.
Do đó, khi thực hiện cấp đổi hoặc cập nhật theo quy định hiện hành, về nguyên tắc không có căn cứ để giới hạn lại diện tích đất ở theo hạn mức mới.
Việc áp dụng pháp luật trong thực tế có thể xuất hiện những cách hiểu khác nhau, tuy nhiên người dân cần đối chiếu đầy đủ với quy định pháp luật tại từng thời điểm để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Cùng với sự phát triển của thanh toán không dùng tiền mặt, các thủ đoạn lừa đảo liên quan đến chuyển khoản ngân hàng cũng ngày càng tinh vi.
Đặc biệt, những người kinh doanh online, chủ cửa hàng hoặc thường xuyên nhận thanh toán qua tài khoản ngân hàng đang trở thành nhóm đối tượng bị nhắm đến nhiều nhất.
Theo Trang Thông tin điện tử Đảng ủy - HĐND - UBND - UBMTTQ Việt Nam phường Phước Long (Đồng Nai), một trong những chiêu trò phổ biến hiện nay là làm giả hình ảnh chuyển khoản thành công hoặc tin nhắn thông báo giao dịch từ ngân hàng. Sau khi chốt đơn hàng, kẻ gian gửi cho người bán ảnh chụp màn hình hoặc thông báo giả nhằm tạo lòng tin, khiến nạn nhân vội vàng giao hàng.
Tuy nhiên, thực tế số tiền chưa hề được chuyển vào tài khoản của người bán. Không ít trường hợp đã mất điện thoại, xe máy hoặc nhiều tài sản có giá trị vì chỉ kiểm tra ảnh chuyển khoản mà không đối chiếu trực tiếp số dư trong tài khoản ngân hàng.
Trước thủ đoạn này, cơ quan chức năng khuyến cáo người dân không nên tin vào ảnh chụp giao dịch hay tin nhắn báo có. Chỉ nên giao hàng hoặc bàn giao tài sản sau khi xác nhận tiền đã thực sự được ghi nhận trong tài khoản của mình.
Bên cạnh hình thức giả chuyển khoản, các đối tượng còn mạo danh Công an, Tòa án, Viện Kiểm sát hoặc ngân hàng để gọi điện, gọi video cho người dân. Kẻ gian thường đưa ra các lý do như tài khoản liên quan đến vụ án, có dấu hiệu rửa tiền hoặc cần xác minh giao dịch, sau đó yêu cầu nạn nhân chuyển tiền vào một tài khoản khác hoặc cung cấp thông tin bảo mật.
Theo khuyến cáo của cơ quan chức năng, Công an không yêu cầu người dân chuyển tiền để phục vụ điều tra, cũng không yêu cầu cung cấp mã OTP, mật khẩu ngân hàng hay thông tin tài khoản qua điện thoại hoặc mạng xã hội. Đây đều là những dấu hiệu điển hình của hành vi lừa đảo.
Để bảo vệ tài sản, người dân cần giữ bình tĩnh trước những yêu cầu chuyển tiền khẩn cấp, không truy cập các đường link không rõ nguồn gốc, không chia sẻ mã OTP, mật khẩu, thông tin tài khoản ngân hàng hoặc dữ liệu cá nhân cho bất kỳ ai.
Trong trường hợp phát hiện dấu hiệu bất thường hoặc nghi ngờ bị lừa đảo, người dân cần dừng ngay các giao dịch, lưu giữ các thông tin liên quan như số điện thoại, tin nhắn, hình ảnh, tài khoản nhận tiền và nhanh chóng trình báo cơ quan công an gần nhất để được hỗ trợ xử lý.
Cơ quan chức năng cũng nhấn mạnh, trong bối cảnh các hình thức lừa đảo trực tuyến liên tục biến đổi, việc kiểm tra kỹ thông tin trước khi chuyển tiền, giao hàng hoặc cung cấp dữ liệu cá nhân là biện pháp đơn giản nhưng hiệu quả để bảo vệ tài sản trước các chiêu trò ngày càng tinh vi.
Thông tư 116/2026/TT-BCA ngày 29/6/2026 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Cư trú, trong đó quy định đăng ký tạm trú.
Đăng ký tạm trú
1. Công dân thay đổi chỗ ở ngoài nơi đã đăng ký tạm trú có trách nhiệm thực hiện đăng ký tạm trú mới.
Trường hợp chỗ ở đó trong phạm vi đơn vị hành chính cấp xã nơi đã đăng ký thường trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 6 Thông tư này.
Khoản 3 Điều 6 Thông tư 116/2026/TT-BCA:
3. Trong quá trình kiểm tra, quản lý cư trú, cơ quan đăng ký cư trú có trách nhiệm rà soát, cập nhật thông tin về nơi ở hiện tại của công dân đang thực tế sinh sống trên địa bàn quản lý vào Cơ sở dữ liệu về cư trú để bảo đảm chính xác, kịp thời.
2. Học sinh, sinh viên, học viên đến ở tập trung trong ký túc xá, khu nhà ở của học sinh, sinh viên, học viên; người lao động đến ở tập trung tại các khu nhà ở của người lao động, khu lán trại công trường xây dựng, nông trường, nông trại, đồn điền; người hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo sinh sống trong cơ sở tín ngưỡng, cơ sở tôn giáo; trẻ em, người khuyết tật, người không nơi nương tựa được nhận nuôi và sinh sống trong cơ sở tín ngưỡng, cơ sở tôn giáo; người được chăm sóc, nuôi dưỡng, trợ giúp tại cơ sở trợ giúp xã hội có thể thực hiện đăng ký tạm trú thông qua cơ quan, tổ chức quản lý trực tiếp chỗ ở đó.
Cơ quan, tổ chức quản lý trực tiếp có trách nhiệm lập danh sách người tạm trú, kèm Tờ khai thay đổi thông tin cư trú của từng người, văn bản đề nghị đăng ký tạm trú trong đó ghi rõ thông tin về chỗ ở hợp pháp và được cơ quan đăng ký cư trú cập nhật thông tin về nơi tạm trú vào Cơ sở dữ liệu về cư trú.
Danh sách bao gồm những thông tin cơ bản của từng người: họ, chữ đệm và tên; ngày, tháng, năm sinh; giới tính; số định danh cá nhân và thời hạn tạm trú.
3. Trường hợp người thuê, mượn, ở nhờ chấm dứt việc thuê, mượn, ở nhờ thì người cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ có trách nhiệm thông báo cho cơ quan đăng ký cư trú để thực hiện xóa đăng ký tạm trú.
Hủy bỏ đăng ký tạm trú
1. Trường hợp cơ quan đăng ký cư trú giải quyết thủ tục đăng ký tạm trú hoặc các thủ tục khác về cư trú làm thay đổi kết quả đăng ký tạm trú không đúng thẩm quyền, không đúng điều kiện và không đúng đối tượng theo quy định của Luật Cư trú thì phải hủy kết quả đã giải quyết.
Trường hợp phức tạp thì báo cáo Thủ trưởng cấp trên trực tiếp của cơ quan đã đăng ký tạm trú xem xét ra quyết định hủy bỏ việc đăng ký tạm trú hoặc các thủ tục khác về cư trú.
2. Trong thời hạn 01 ngày làm việc, kể từ ngày có quyết định hoặc nhận được quyết định của cơ quan cấp trên trực tiếp về việc hủy bỏ đăng ký tạm trú hoặc các thủ tục khác về cư trú, cơ quan đã thực hiện có trách nhiệm cập nhật việc hủy bỏ kết quả trong Cơ sở dữ liệu về cư trú, phục hồi lại trạng thái, thông tin cư trú trước đây; thông báo bằng văn bản dưới hình thức bản giấy hoặc văn bản điện tử cho công dân, nêu rõ lý do và chuyển lưu tàng thư hồ sơ căn cước, cư trú.
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 283/2026/NĐ-CP quy định về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội (BHXH) và người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
Văn bản pháp lý này sẽ chính thức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10/9/2026, thiết lập nhiều khung chế tài nghiêm khắc đối với cả người lao động và người sử dụng lao động.
Chế tài đối với vi phạm về thông tin và đăng ký lao động
Tại Điều 12 của Nghị định, cơ quan quản lý phân định rõ mức xử phạt đối với các hành vi không tuân thủ quy định về đăng ký hoặc cập nhật, điều chỉnh thông tin nhân sự. Các mức phạt cụ thể bao gồm:
Đối với người lao động: Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng nếu thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc nhưng lại có hành vi cố tình không cung cấp thông tin, cung cấp thiếu hoặc khai báo sai lệch dữ liệu làm căn cứ để đăng ký lao động.
Đối với người sử dụng lao động (Doanh nghiệp): Khi tiến hành nộp hồ sơ đăng ký hoặc điều chỉnh thông tin tham gia BHXH mà không thực hiện đăng ký, sửa đổi thông tin lao động tương ứng cho nhân sự, doanh nghiệp sẽ bị phạt tiền theo quy mô số lượng người lao động bị ảnh hưởng:
Phạt tới 70 triệu đồng hành vi buôn bán dữ liệu thị trường lao động
Một trong những điểm mới đáng chú ý tại Nghị định 283/2026/NĐ-CP là việc siết chặt quản lý dữ liệu cá nhân của người lao động. Theo khoản 4 Điều 10, cơ quan chức năng sẽ áp dụng mức phạt tiền từ 50 triệu đến 70 triệu đồng đối với các cá nhân, tổ chức có hành vi sai phạm (trong trường hợp chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự), bao gồm:
Thực hiện hành vi gian lận, làm giả hồ sơ để hưởng các chính sách việc làm hoặc trong công tác đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia.
Lợi dụng việc cung ứng dịch vụ việc làm để gây phương hại đến chủ quyền, quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội hoặc quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan.
Có hành vi thu mua, bán lại, trao đổi hoặc chiếm đoạt bất hợp pháp các nguồn dữ liệu nằm trong cơ sở dữ liệu về người lao động cũng như các thông tin thị trường lao động khi chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công bố công khai.
Quy định này nêu rõ, khung phạt từ 50 - 70 triệu đồng không đánh đại trà vào mọi hoạt động trao đổi thông tin nói chung, mà tập trung kiểm soát các nguồn thông tin độc quyền, thuộc cơ sở dữ liệu chuyên ngành chưa được phổ biến chính thức.
Ở mức độ nhẹ hơn, tại khoản 2 Điều 10, hành vi tự ý khai thác, chia sẻ hoặc sử dụng trái phép các nguồn dữ liệu người lao động và thông tin thị trường chưa công bố nêu trên cũng sẽ bị phạt tiền từ 20 triệu đến 40 triệu đồng.
Quy định về thời hiệu xử phạt hành chính
Bên cạnh các mức phạt, Nghị định số 283/2026/NĐ-CP cũng chuẩn hóa thời hạn mà cơ quan chức năng được quyền ra quyết định xử phạt (thời hiệu xử phạt) kể từ thời điểm hành vi vi phạm xảy ra:
Thời hiệu 01 năm: Áp dụng đối với các hành vi vi phạm hành chính thuộc lĩnh vực lao động và bảo hiểm xã hội.
Thời hiệu 02 năm: Áp dụng đối với các hành vi vi phạm hành chính liên quan đến mảng người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
Bạn đọc hỏi: Nhà xây trên đất nông nghiệp có được bồi thường khi thu hồi đất không?
Câu hỏi: Bà B sở hữu một thửa đất trồng cây lâu năm và đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) từ năm 2005. Đến năm 2010, khu vực này được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền công bố quy hoạch khu dân cư. Tuy nhiên, vào năm 2014, bà B vẫn tiến hành xây dựng một căn nhà ở kiên cố trên thửa đất này và gia đình sinh sống ổn định từ đó đến nay.
Tháng 8.2026, Nhà nước ban hành quyết định thu hồi đất để thực hiện dự án hạ tầng. Theo phương án dự kiến của Ban bồi thường giải phóng mặt bằng, bà B được xem xét bồi thường chuyển đổi sang đất ở nhưng phải khấu trừ tiền sử dụng đất, nộp lệ phí trước bạ và chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính do sử dụng đất sai mục đích.
Thực tế, diện tích căn nhà bà B đã xây dựng lên tới 350 m2, trong khi hạn mức giao đất ở/công nhận đất ở tại địa phương quy định chỉ là 200 m2.
Câu hỏi đặt ra: Phần diện tích nhà 150 m2 xây dựng dôi dư (vượt quá hạn mức 200 m2 đất ở của địa phương) có được bồi thường tài sản gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi không? Việc tính toán bồi thường cho toàn bộ căn nhà 350 m2 của bà B được áp dụng theo quy định nào?
Bộ phận Tư vấn bạn đọc của báo Lao Động trả lời:
Căn cứ pháp lý bồi thường tài sản khi thu hồi đất theo thông tin mà Cục Quản lý đất đai (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) đã hướng dẫn dựa trên hệ thống pháp luật hiện hành:
Tại Điều 95 Luật Đất đai năm 2024 và Điều 5 Nghị định số 88/2024/NĐ-CP ngày 15/7/2024 của Chính phủ (được sửa đổi, bổ sung tại Điều 11 Nghị định số 49/2026/NĐ-CP) đã quy định rõ điều kiện được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng.
Bồi thường tài sản gắn liền với đất
Về tài sản nhà ở, Điều 102, Điều 105 Luật Đất đai năm 2024 và Điều 14 Nghị định số 88/2024/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại Điều 11 Nghị định số 49/2026/NĐ-CP) quy định chi tiết việc bồi thường thiệt hại về nhà, nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với đất khi thu hồi đất. Các điều luật này cũng chỉ rõ những trường hợp không được bồi thường tài sản gắn liền với đất.
Hướng dẫn giải quyết hồ sơ
Do nội dung phản ánh là tình huống giả dụ, không có hồ sơ và tài liệu pháp lý kèm theo để đối chiếu thực tế.
Vì vậy, để xác định chính xác phần nhà xây trên đất nông nghiệp vượt hạn mức được xử lý ra sao, đề nghị bạn đọc nghiên cứu các quy định của pháp luật nêu trên và liên hệ trực tiếp với cơ quan quản lý nhà nước về đất đai tại địa phương để được hướng dẫn, làm rõ phương án bồi thường.
Hỏi đáp nhanh: Quy định bồi thường nhà xây trên đất nông nghiệp
Hỏi: Nhà xây trên đất nông nghiệp khi bị thu hồi đất được tính bồi thường ra sao?
Đáp: Việc bồi thường thiệt hại về nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với đất được quy định rõ tại Điều 102, Điều 105 Luật Đất đai 2024 và Điều 14 Nghị định số 88/2024/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại Điều 11 Nghị định số 49/2026/NĐ-CP). Người dân cần liên hệ cơ quan quản lý đất đai tại địa phương kèm hồ sơ thực tế để được hướng dẫn cụ thể.
Hỏi: Điều kiện bồi thường về đất khi thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế xã hội là gì?
Đáp: Điều kiện bồi thường được áp dụng theo Điều 95 Luật Đất đai năm 2024 và Điều 5 Nghị định số 88/2024/NĐ-CP ngày 15/7/2024 của Chính phủ (được sửa đổi, bổ sung tại Điều 11 Nghị định số 49/2026/NĐ-CP).
Nguồn: Lao Động; Kenh24; Xây Dựng Chính Sách; CafeF
Cấp nhầm sổ đất cho dân; Gỡ tạm hoãn xuất cảnh vì nợ thuế; Đánh thuế 0,2% đất bỏ hoang; Lưu ý mới từ cơ quan Thuế; Tháo gỡ vướng mắc đất đai, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
Người có bất động sản chú ý; VNeID thay đổi mới; Lưu ý dùng camera, TV, máy giặt, tủ lạnh kết nối Internet; Nộp thuế đất phi nông nghiệp; Định danh tài khoản MXH trên VNeID
Chú ý mức phạt khai báo tạm trú; Quy định cấp đổi sổ đỏ ghi đất “thổ cư”; Gỡ khó cho 4.000 trường hợp bị mạo danh; Điều kiện giảm 50% tiền sử dụng đất; Lỗ hổng thừa kế
Tạo chữ ký số trên VneID; Điều tra giao dịch chuyển khoản sau; Cấp sổ đỏ đất không phù hợp quy hoạch; Quy định đất bỏ hoang, bị đánh thuế; Quy định mới xuất, nhập khẩu gạo
Dừng cấp sổ do hàng xóm không ký giáp ranh; Người đi hát karaoke chú ý; Quy định mới đặt cọc mua nhà đất; Nên chọn chung cư sơ cấp hay thứ cấp; Quy định hạn mức đất đai
Các loại tài khoản phải liên kết VNeID; VNeID tích hợp tính năng mới; Ký giáp ranh cấp sổ hồng; Hoang mang thuế đất phi nông nghiệp; Lời khuyên gửi tiết kiệm online
Trợ cấp hưu trí xã hội; Điều tra giao dịch chuyển tiền; Các loại giấy tờ tích hợp trên VNeID; Điều chỉnh diện tích sổ đỏ; Chuyển đất ao sang đất ở
Hàng ngàn đất nền, biệt thự được cấp sổ; Cấp hộ chiếu sau phẫu thuật thẩm mỹ khuôn mặt; Sửa Luật Xử lý vi phạm hành chính; Gỡ điểm nghẽn đất đai không chỉ bằng sửa luật
Bình luận và đánh giá
Gửi nhận xét đánh giá