Xác định ranh giới thửa đất; Cấp sổ đỏ đất quy hoạch; Chuyển mục đích sử dụng đất giá 0 đồng; Chuyển đất trồng cây lâu năm sang đất ở; Không làm thủ tục này bị xử phạt

Hộ liền kề vắng mặt khi đo đạc, quy định về xác định ranh giới thửa đất

Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa giải đáp cách xác định ranh giới thửa đất khi hộ liền kề vắng mặt hoặc không ký xác nhận.

Trên Cổng thông tin Chính phủ, công dân tại Huế thắc mắc:

"Gia đình bà N.T.N sử dụng ổn định một thửa đất tại địa phương gần 30 năm, không có tranh chấp. Đến nay gia đình mới làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Vừa qua, bà N đã nộp hồ sơ tại cơ quan có thẩm quyền. Cán bộ địa chính đã về tiến hành đo đạc thực tế thửa đất. Thửa đất của bà giáp ranh với hai hộ gia đình khác, một hộ đã có mặt, phối hợp chứng kiến việc đo đạc và ký xác nhận giáp ranh đầy đủ, hộ còn lại đã có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng hiện chủ hộ đi làm ăn xa, trên đất chỉ có nhà thờ, không có người thường trú nên không có ai đứng ra ký xác nhận giáp ranh. Do không có chữ ký xác nhận của hộ giáp ranh này nên cán bộ địa chính đã tạm hoãn việc hoàn tất đo đạc và hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình bà N.

Trong khi đó, gia đình bà sử dụng đất ổn định, lâu dài, không có tranh chấp với các hộ xung quanh, kể cả hộ đang vắng mặt.

Bà N hỏi, trường hợp hộ liền kề vắng mặt, không thể ký xác nhận giáp ranh thì gia đình bà cần thực hiện những thủ tục gì để tiếp tục làm Giấy chứng nhận? Cơ quan địa phương có thể căn cứ vào biên bản xác nhận thực địa, ý kiến của các hộ liền kề khác hoặc xác nhận của chính quyền địa phương để thay thế chữ ký của hộ vắng mặt hay không? Có quy định nào hướng dẫn cụ thể đối với trường hợp tương tự để người dân có thể hoàn tất thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất?".

Bộ Nông nghiệp và Môi trường trả lời vấn đề này như sau:

Tại điểm c khoản 3 Điều 13 Thông tư số 26/2024/TT-BTNMT ngày 26.11.2024 quy định về lập bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất trong trường hợp người sử dụng đất liền kề vắng mặt trong suốt thời gian đo đạc hoặc người sử dụng đất liền kề có mặt nhưng không tham gia xác định ranh giới và ranh giới không có tranh chấp như sau:

"c) Trường hợp người sử dụng đất, người sử dụng đất liền kề vắng mặt trong suốt thời gian đo đạc hoặc người sử dụng đất liền kề có mặt nhưng không tham gia xác định ranh giới và ranh giới không có tranh chấp thì việc xác định ranh giới và lập bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất do đơn vị đo đạc, các bên liên quan còn lại và người dẫn đạc thực hiện và ký xác nhận; đơn vị đo đạc chuyển bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất đã lập cho Ủy ban nhân dân cấp xã để thông báo, công khai tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã và nhà văn hóa thôn (làng, ấp, bản, bon, buôn, phum, sóc, tổ dân phố và điểm dân cư tương tự) nơi có đất.

Sau 15 ngày kể từ ngày thông báo, niêm yết mà người sử dụng đất, người sử dụng đất liền kề không có mặt để ký xác nhận hoặc sau 10 ngày kể từ ngày người sử dụng đất, người sử dụng đất liền kề nhận được bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất mà không ký xác nhận, đồng thời không có văn bản thể hiện việc có tranh chấp ranh giới thửa đất thì đơn vị đo đạc cùng với Ủy ban nhân dân cấp xã lập biên bản về các trường hợp này và ghi rõ "vắng mặt" hoặc lý do cụ thể việc người sử dụng đất, người sử dụng đất liền kề không ký xác nhận trong bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất; ranh giới thửa đất được xác định theo bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất đã lập để đo đạc chi tiết;".

Xem tiếp tại đường Link =>

https://share.google/jewf4B25bj4I0LL0I

Nguyên tắc cấp sổ đỏ với đất trong quy hoạch nhưng chưa thu hồi

Bộ Nông nghiệp và Môi trường nêu nguyên tắc cấp sổ đỏ với đất trong quy hoạch chưa thu hồi và hướng dẫn quyền khiếu nại theo quy định.

Theo Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, một công dân ở Hà Nội phản ánh về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất nằm trong quy hoạch nhưng chưa có quyết định hoặc thông báo thu hồi đất.

Thửa đất có nguồn gốc là đất ao, thuộc thửa số 14, tờ bản đồ số 13 (bản đồ địa chính năm 1994) tại phường Mai Dịch, quận Cầu Giấy (cũ). Nguồn gốc ban đầu của thửa đất là của gia đình sử dụng từ trước năm 1955.

Sau đó, người thân trong gia đình tiếp tục sử dụng thửa ao. Việc sử dụng được thể hiện trên hồ sơ địa chính và bản đồ các năm 1960, 1978 lưu tại địa phương.

Năm 1965, theo chủ trương quản lý của Nhà nước thời kỳ đó, Hợp tác xã Nông nghiệp Mai Dịch quản lý toàn bộ ao, hồ tư nhân trong địa phương, trong đó có thửa ao nêu trên để phục vụ sản xuất nông nghiệp.

Đến năm 1979, do Hợp tác xã buông lỏng quản lý, gia đình đã trực tiếp sử dụng thửa ao để thả cá liên tục nhiều năm. Trên bản đồ hiện trạng lập năm 1986 và sổ sách quản lý kèm theo thể hiện thửa đất số 106, tờ bản đồ số 5, diện tích 544 m² đất ao đứng tên người sử dụng.

Ngày 13.1.1992, người sử dụng đất có "Đơn xin làm nhà trên đất ao" và được UBND thị trấn Mai Dịch xác nhận, đóng dấu. Sau khi được địa phương đồng ý, gia đình san lấp ao, xây nhà cấp 4 để ở và sử dụng ổn định, nộp thuế nhà đất cho đến nay. Hiện ngôi nhà cũ đã bị sập.

Năm 2009, UBND quận Cầu Giấy (cũ) và năm 2011, UBND TP Hà Nội đã có văn bản khẳng định người sử dụng đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đồng thời yêu cầu các cơ quan chuyên môn hướng dẫn gia đình làm thủ tục.

Năm 2025, gia đình xin cấp Giấy chứng nhận thì được UBND phường Phú Diễn (phường Mai Dịch sáp nhập vào phường Phú Diễn) từ chối với lý do thửa đất đang nằm trong quy hoạch đất cơ quan, trường học; đơn xin làm nhà có xác nhận của UBND thị trấn Mai Dịch năm 1992 nhưng sổ mục kê năm 1994 vẫn ghi "đất ao".

Theo phản ánh, khu vực có thửa đất mới chỉ có quy hoạch 1/2000, chưa có dự án triển khai, chưa có quyết định hay thông báo thu hồi đất. Trên thực tế, nhiều gia đình vẫn được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng trên sổ đỏ có thêm nội dung thể hiện đất nằm trong quy hoạch.

Công dân đề nghị cơ quan chức năng giải đáp thửa đất trên có đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, có ghi thông tin quy hoạch hay không; thời gian sử dụng vào mục đích đất ở ảnh hưởng thế nào đến việc cấp sổ và được quy định tại văn bản pháp luật nào.

Đồng thời, công dân đề nghị làm rõ quy định về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với đất nằm trong quy hoạch nhưng chưa có quyết định, thông báo thu hồi.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường trả lời vấn đề này như sau:

Nội dung phản ánh là vụ việc cụ thể và cần căn cứ vào hồ sơ lưu trữ, các quy định cụ thể của địa phương đã ban hành theo thẩm quyền để xem xét, giải quyết. Do đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường không có đủ thông tin và cơ sở để trả lời cụ thể.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường nêu một số nguyên tắc như sau:

Pháp luật đất đai hiện hành đã quy định cụ thể việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất lần đầu cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất tại các Điều 137, 138, 139, 140 và 141 của Luật Đất đai.

Tại các điều luật nêu trên đã có quy định cụ thể về các trường hợp đang sử dụng đất khi cấp Giấy chứng nhận phải bảo đảm điều kiện hoặc không quy định phải bảo đảm điều kiện phù hợp với quy hoạch sử dụng đất cấp huyện hoặc quy hoạch chung, quy hoạch phân khu, quy hoạch xây dựng hoặc quy hoạch nông thôn.

Xem tiếp tại đường Link =>

https://share.google/nt4TgVUHQY4Z2nNY3

Trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất với giá 0 đồng bằng việc xác định lại loại đất

Bạn đọc An Bình (Hà Nội) hỏi: Việc chuyển mục đích sử dụng đất thông qua xác định lại loại đất được thực hiện như thế nào?

Luật sư Quách Thành Lực - Giám đốc Công ty Luật Pháp Trị (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) - cho biết, để xác định lại loại đất, qua đó có thể chuyển mục đích sử dụng đất mà không phải nộp tiền; làm rõ đất thổ cư, đất ký hiệu chữ T có phải là đất ở hay không; đồng thời bảo đảm các quyền lợi liên quan đến đất ở hoặc được bồi thường theo giá đất ở, người dân cần chủ động thực hiện các quyền của mình.

Hiện có 4 cách để người dân đề nghị xác định lại loại đất, làm rõ đất ở đối với giấy chứng nhận đã được cấp.

Cách thứ nhất, áp dụng Khoản 6 Điều 141 Luật Đất đai năm 2024.

Theo quy định này, đối với giấy chứng nhận được cấp trước ngày 1.7.2004, nếu trong hồ sơ có các tài liệu quy định tại Điều 137 Luật Đất đai năm 2024, người dân có thể xác định lại loại đất với diện tích lớn hơn diện tích được ghi nhận trong giấy chứng nhận đã cấp.

Tuy nhiên, việc áp dụng quy định này gặp một số điều kiện hạn chế. Trước hết, giấy chứng nhận phải được cấp trước ngày 1.7.2004.

Bên cạnh đó, quyền sử dụng đất chưa được chuyển dịch. Trên thực tế, không ít trường hợp giấy chứng nhận đã được chuyển quyền cho con, cháu hoặc người khác nên không còn đáp ứng điều kiện để xác định lại loại đất theo phương án này.

Cách thứ hai, áp dụng Khoản 2 Điều 20 Nghị định 49/2026 quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Nghị quyết số 254/2025 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai.

Theo đó, đối với giấy chứng nhận được cấp trước ngày 1.7.2004, nhưng chưa xác định rõ mục đích sử dụng đất ở, mà ghi chung hoặc lẫn với các loại đất khác như thổ canh, thổ cư, đất chữ T, đất QT... văn bản của Chính phủ giao cho các địa phương ban hành quy định cụ thể nhằm xác định diện tích đất ở phù hợp với điều kiện thực tế tại từng địa phương.

Hiện nay, một số địa phương khác đã cụ thể hóa quy định này để áp dụng trên địa bàn. Do đó, người dân có thể căn cứ Khoản 2 Điều 20 Nghị định 49 năm 2026, đồng thời đối chiếu với quyết định của UBND cấp tỉnh cụ thể hóa quy định này để xem xét, giải quyết trường hợp của mình.

Tuy nhiên, điểm vướng mắc của cách này là giấy chứng nhận phải được cấp trước ngày 1.7.2004. Trong khi đó, trên thực tế có rất nhiều giấy chứng nhận được cấp sau thời điểm này.

Cách thứ ba, áp dụng Điều 152 Luật Đất đai năm 2024.

Theo quy định này, khi người dân nhận thấy giấy chứng nhận được cấp không đúng quy định, xác định sai, hoặc không đúng mục đích sử dụng đất, qua đó ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình, người dân có quyền đề nghị cơ quan đã cấp giấy chứng nhận thực hiện việc đính chính, điều chỉnh, hủy bỏ hoặc thu hồi theo quy định.

Đây là một phương án tương đối phổ biến và có thể áp dụng trong nhiều trường hợp.

Tuy nhiên, phương án này cũng tồn tại một hạn chế. Khác với hai cách nêu trên, vấn đề không nằm ở thời điểm cấp giấy chứng nhận mà ở việc quyền sử dụng đất đã được chuyển dịch hay chưa. Nếu giấy chứng nhận đã được chuyển dịch cho người thứ ba thì việc cơ quan chức năng can thiệp, xử lý sẽ gặp vướng mắc.

Cách thứ tư, khởi kiện vụ việc ra tòa án theo Khoản 5 Điều 152 Luật Đất đai năm 2024.

Khoản 5 Điều 152 Luật Đất đai năm 2024 có thể là căn cứ để xử lý những trường hợp nêu trên. Nếu người dân không thể áp dụng quy định yêu cầu cơ quan hành chính Nhà nước thu hồi, hủy bỏ giấy chứng nhận được cho là cấp sai mục đích sử dụng đất, thì có thể lựa chọn con đường khởi kiện vụ việc ra tòa án.

Thông qua quá trình giải quyết vụ án, tòa án có thể xem xét hồ sơ cấp giấy chứng nhận, sổ mục kê, bản đồ và các tài liệu liên quan để xác định việc cấp giấy chứng nhận tại thời điểm đó có đúng quy định pháp luật hay không.

Chẳng hạn, nếu bản đồ, sổ mục kê ghi nhận đất chữ T, đất thổ cư và khi đối chiếu với quy định pháp luật tại thời điểm cấp giấy chứng nhận cho thấy diện tích này phải được xác định là đất ở, thì cần xem xét tính đúng đắn của việc cơ quan chức năng xác định đồng thời đất ở và đất vườn, hoặc tự chia tách một phần diện tích, chẳng hạn 200m2, 300m2 hay 400m2 là đất ở, phần diện tích còn lại được xác định là đất vườn.

Tòa án có thẩm quyền xem xét, phán quyết một hành vi hoặc quyết định hành chính của cơ quan hành chính tại thời điểm cấp giấy chứng nhận là đúng hay sai so với quy định pháp luật. Nếu xác định có sai phạm, bản án hoặc quyết định có hiệu lực của tòa án sẽ là căn cứ pháp lý để yêu cầu cơ quan hành chính Nhà nước thực hiện theo phán quyết.

Xem tiếp tại đường Link =>

https://share.google/LyBEe066AnGw4ogNL

Bộ NNMT giải đáp về chuyển đất trồng cây lâu năm sang đất ở

Bộ Nông nghiệp và Môi trường (NNMT) vừa giải đáp thắc mắc của công dân về việc chuyển mục đích sử dụng đất từ đất trồng cây lâu năm sang đất ở theo quy định hiện hành.

Trên Cổng thông tin Bộ Nông nghiệp và Môi trường, công dân tại Đồng Nai thắc mắc:

"Tôi có thửa đất có số tờ 108, số thửa 335 bộ bản đồ địa chính xã Xuân Quế, thành phố Đồng Nai. Thửa đất có tổng diện tích 2.267,8m2, hiện trạng mục đích sử dụng đất là đất cây lâu năm, thửa đất tọa lạc tại xã Xuân Quế, thành phố Đồng Nai (trước đây là xã Sông Nhạn, huyện Cẩm Mỹ cũ). Thửa đất tiếp giáp đường nhựa.

Theo quy hoạch sử dụng đất đến năm 2030 được UBND tỉnh Đồng Nai phê duyệt tại Quyết định số 5374/QĐ-UBND ngày 31.12.2021, thửa đất được quy hoạch đất ở nông thôn với diện tích 1.266,7m2, quy hoạch đất giao thông với diện tích 1.001,1m2.

Theo quy hoạch chung xây dựng xã Sông Nhạn, huyện Cẩm Mỹ (cũ) đến năm 2025 và dài hạn đến năm 2030 được UBND huyện Cẩm Mỹ (cũ) phê duyệt tại Quyết định số 129/QĐ-UBND ngày 27.2.2025, thửa đất của tôi được quy hoạch là đất hỗn hợp với diện tích 1.266,7m2, quy hoạch đất giao thông với diện tích 1.001,1m2.

Hiện nay, 2 quy hoạch này đang còn hiệu lực và địa phương đang sử dụng. Trong thời gian qua, thửa đất của tôi có nằm trong kế hoạch chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ đất cây lâu năm sang đất ở vào năm 2023 và vào năm 2024 theo Quyết định số 3524/QĐ-UBND ngày 29.12.2023 của UBND tỉnh Đồng Nai phê duyệt kế hoạch sử dụng đất năm 2024, Quyết định số 1167/QĐ-UBND ngày 23.5.2023 của UBND tỉnh phê duyệt kế hoạch sử dụng đất năm 2023.

Hiện nay, do có nhu cầu chuyển mục đích sử dụng đất từ đất cây lâu năm sang đất ở, tôi kính đề nghị Quý cơ quan xem xét, hướng dẫn và trả lời bằng văn bản các nội dung sau:

1. Với hiện trạng quy hoạch nêu trên, thửa đất của tôi có đủ điều kiện để được xem xét cho phép chuyển mục đích sử dụng sang đất ở (với diện tích 1.266,7m2 đã được quy hoạch là đất ở theo quy hoạch sử dụng đất đã được UBND tỉnh phê duyệt và theo kế hoạch sử dụng đất năm 2023 và 2024 đã được UBND tỉnh phê duyệt thì thửa đất đã nằm trong kế hoạch chuyển đổi mục đích sử dụng đất) theo quy định của pháp luật hay không.

2. Trường hợp được xem xét chuyển mục đích sang đất ở với diện tích 1.266,7m2, đề nghị cho biết căn cứ pháp lý, điều kiện, trình tự, thủ tục thực hiện".

Sau khi nghiên cứu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường có ý kiến như sau:

Quy định của pháp luật về việc chuyển mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp sang đất ở như sau:

Điểm b khoản 2 Điều 9 Luật Đất đai quy định: “2. Nhóm đất nông nghiệp bao gồm các loại đất sau đây: b) Đất trồng cây lâu năm;”

Khoản 5 Điều 116 Luật Đất đai được sửa đổi, bổ sung tại điểm a khoản 2 Điều 57 Luật quy hoạch đô thị và nông thôn, quy định:

“5. Căn cứ cho phép chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp trong khu dân cư, đất nông nghiệp trong cùng thửa đất có đất ở sang đất ở hoặc chuyển mục đích sử dụng các loại đất phi nông nghiệp không phải là đất ở sang đất ở đối với hộ gia đình, cá nhân là quy hoạch sử dụng đất cấp huyện hoặc quy hoạch chung hoặc quy hoạch phân khu theo quy định của pháp luật về quy hoạch đô thị và nông thôn đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.”

Khoản 2 Điều 22 Nghị định số 151/2025/NĐ-CP ngày 12.6.2025 của Chính phủ quy định về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 2 cấp, phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực đất đai, quy định: “2. Các đơn vị hành chính cấp xã sau sắp xếp được tiếp tục sử dụng quy hoạch sử dụng đất cấp huyện, kế hoạch sử dụng đất hằng năm cấp huyện hoặc quy hoạch được lập theo quy định của pháp luật về quy hoạch đô thị và nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của pháp luật trước ngày 1.7.2025 trên địa bàn hoặc chỉ tiêu sử dụng đất trong phương án phân bổ và khoanh vùng đất đai của quy hoạch tỉnh được phân bổ đến đơn vị hành chính cấp xã sau sắp xếp để làm căn cứ thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước về đất đai cho đến khi hoàn thành công tác rà soát, lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo các đơn vị hành chính mới.”.

Căn cứ các quy định nêu trên, trường hợp hộ gia đình, cá nhân xin chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang đất ở thì căn cứ quy hoạch sử dụng đất cấp huyện, kế hoạch sử dụng đất hằng năm cấp huyện hoặc quy hoạch được lập theo quy định của pháp luật về quy hoạch đô thị và nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của pháp luật trước ngày 1.7.2025 trên địa bàn hoặc chỉ tiêu sử dụng đất trong phương án phân bổ và khoanh vùng đất đai của quy hoạch tỉnh được phân bổ đến đơn vị hành chính cấp xã sau sắp xếp, đồng thời căn cứ hồ sơ địa chính, hiện trạng sử dụng đất, quy hoạch áp dụng đối với khu vực có đất và các tài liệu liên quan để xem xét, quyết định theo thẩm quyền.

Ngày 31.1.2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 49/2026/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Nghị quyết số 254/2025/QH15 của Quốc hội, trong đó, tại khoản 1 Điều 14, khoản 1 Điều 15 của Nghị định quy định: Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền quyết định về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất… và quyết định việc phân cấp, ủy quyền cho cơ quan, người có thẩm quyền thực hiện cho phù hợp; quy định trình tự, thủ tục hành chính về đất đai tại địa phương, trong đó trình tự, thủ tục cho phép chuyển mục đích sử dụng đất.

Xem tiếp tại đường Link =>

https://share.google/jIpjW297ytjT4a9hN

Đúng 21 ngày nữa, người sử dụng đất không làm thủ tục này có thể bị xử phạt đến 3 triệu đồng

Người dân cần lưu ý thực hiện đăng ký đất đai theo quy định để không bị xử phạt hành chính.

Ngày 31/8 tới đây, những quy định về xử phạt hành chính lĩnh vực đất đai sẽ có hiệu lực.

Theo Văn bản hợp nhất số 73/2026/VBHN-NĐ-BNNMT do Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành, hành vi không thực hiện đăng ký đất đai theo quy định sẽ bị xử phạt hành chính.

Cụ thể, tại Điều 16, Chương II của Nghị định 281 quy định như sau:

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với hành vi không thực hiện đăng ký đất đai lần đầu theo quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều 132 Luật Đất đai.

2. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi không thực hiện đăng ký biến động đất đai theo quy định tại các điểm a, b, i, k, l, m và q khoản 1 Điều 133 Luật Đất đai, trừ trường hợp nhận quyền sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư thông qua việc thỏa thuận về nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 127 Luật Đất đai.

3. Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc thực hiện đăng ký đất đai theo quy định.

Đáng chú ý, Nghị định 281 bổ sung trường hợp ngoại lệ đối với người nhận quyền sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư thông qua thỏa thuận về nhận quyền sử dụng đất theo Điều 127 Luật Đất đai.

Theo đó, trường hợp nhận quyền sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư thông qua thỏa thuận theo Điều 127 Luật Đất đai sẽ không bị áp dụng mức phạt từ 02 - 03 triệu đồng về hành vi không đăng ký biến động đất đai theo khoản 2 Điều 16 Nghị định 123/2024/NĐ-CP.

Xem tiếp tại đường Link =>

https://share.google/achTIqk50PpCfd8xb

Nguồn: Lao Động; CafeBiz

Xem thêm:
Về trang trước

Chủ đề:

Bình luận và đánh giá
Gửi nhận xét đánh giá

Đọc nhiều nhất

Bất động sản thay đổi lớn; Chia đất đai thừa kế; Hỗ trợ thu hồi đất nông nghiệp; Chính sách đặc thù; Quy định mới về thẻ căn cước

Cấp sổ đỏ từng phần đất nghĩa trang; Đính chính sổ đỏ & đăng ký biến động; Cấp đổi sổ đỏ và sang tên thừa kế; Xác định lại hạn sử dụng đất ao sổ đỏ cũ; Luật Báo chí

Cấp sổ đất có nguồn gốc lấn, chiếm; Giảm tiềm sử dụng đất tặng con; Giao dịch online bị ngân hàng từ chối; Điều kiện lối đi tách thửa; Mất tiền cọc vì một yêu cầu

Chính sách mới có hiệu lực; Cấp sổ đỏ đất giao khoán; Xây nhà trên đất nông nghiệp; Thông báo giao dịch nội dung sau; Phạt tiền các giao dịch nhận/chuyển tiền sau

Dự thảo Luật Đất đai mới; Lưu ý thuê người giúp việc; Gỡ điểm nghẽn sửa Luật Đất đai; Đất nông nghiệp bị thu hồi; Căn cứ công nhận đất khi cấp sổ đỏ

Xử lý nhà dân xây trên đất nông nghiệp thuộc thẩm quyền cấp xã; Quy định mới cấp thẻ Căn cước; Xây nhà cấp 4 không phép bị đình chỉ; Doanh nghiệp bị thu hồi đất vì không sử dụng

3 việc nên làm Rằm tháng 7; Chính sách thu hồi đất đô thị đặc biệt; Cấp sổ đỏ đất mua bằng giấy viết tay; Lưu ý người sở hữu bất động sản; Chuyển đất nông nghiệp lên thổ cư

Thuê đất tầng hầm chung cư vượt diện tích; Giao dịch tiền số sai bị phạt; Chia tài sản thừa kế; Chuyển đất nông nghiệp lên đất thổ cư; Cấp sổ đỏ đất khai phá

Lên đầu trang