- Tư vấn
.jpg)
Theo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi), công dân có quyền tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về tiếp cận thông tin.
Quốc hội đã thông qua Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi), Luật này có hiệu lực từ ngày 1.9.2026.
Luật này gồm 4 Chương với 31 Điều quy định về việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân; trách nhiệm của cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập có nhiệm vụ cung ứng dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân.
Theo Luật, Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, thực hiện giám sát việc bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân theo quy định của pháp luật.
Đặc biệt, người yêu cầu cung cấp thông tin có quyền khiếu nại, khởi kiện đối với cơ quan, đơn vị, người có trách nhiệm cung cấp thông tin quy định tại Điều 10 của Luật này.
Ngoài ra, công dân có quyền tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về tiếp cận thông tin.
Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện trong việc tiếp cận thông tin được thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, tố tụng hành chính, trừ trường hợp pháp luật có liên quan quy định khác.
Cũng theo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi), cơ quan, đơn vị có trách nhiệm thực hiện các biện pháp bảo đảm quyền tiếp cận thông tin.
Tạo điều kiện thuận lợi để người khuyết tật, người dân tộc thiểu số, người sinh sống ở khu vực biên giới, hải đảo, miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn thực hiện quyền tiếp cận thông tin.
Cơ quan, đơn vị tạo điều kiện và khuyến khích doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân nghiên cứu, áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ vào việc xây dựng hệ thống thông tin công cộng.
Có trách nhiệm nâng cấp, đầu tư các trang thiết bị chuyên dùng phục vụ cho hoạt động cung cấp thông tin của cơ quan, đơn vị ở khu vực biên giới, hải đảo, miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật có liên quan.
Cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử của cơ quan, đơn vị được kết nối, tích hợp với cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử của cơ quan, đơn vị trực thuộc để cập nhật, chia sẻ thông tin, tạo thuận lợi cho công dân.
Các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm duy trì, lưu giữ, cập nhật cơ sở dữ liệu thông tin, bảo đảm thông tin có hệ thống, đầy đủ, toàn diện, dễ dàng tra cứu, tải về, sử dụng.
Cơ quan, đơn vị có trách nhiệm rà soát, phân loại, kiểm tra và bảo đảm tính bí mật của thông tin trước khi cung cấp.
Ngày 23/4/2026, tại Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Trợ giúp pháp lý (sửa đổi) 2026 với nhiều điều chỉnh đáng chú ý, ảnh hưởng trực tiếp đến việc tiếp cận và thực hiện chính sách trợ giúp pháp lý.
Bổ sung nhóm người được trợ giúp pháp lý
Trước đây, theo Điều 7 Luật Trợ giúp pháp lý 2017, người được trợ giúp pháp lý bao gồm:
- Người có công với cách mạng;
- Người thuộc hộ nghèo;
- Trẻ em;
- Người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn;
- Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi là người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội, bị hại, người làm chứng, người chấp hành biện pháp xử lý chuyển hướng, phạm nhân;
- Người bị buộc tội thuộc hộ cận nghèo;
- Nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân của hành vi mua bán người và người dưới 18 tuổi đi cùng theo quy định của Luật Phòng, chống mua bán người;
- Người thuộc một trong các trường hợp sau đây có khó khăn về tài chính: Cha đẻ, mẹ đẻ, vợ, chồng, con của liệt sĩ và người có công nuôi dưỡng khi liệt sĩ còn nhỏ; Người nhiễm chất độc da cam; Người cao tuổi; Người khuyết tật; Nạn nhân trong vụ việc bạo lực gia đình; Người nhiễm HIV.
Theo Điều 7 Luật Trợ giúp pháp lý 2017 được sửa đổi bổ sung bởi khoản 2 Điều 1 Luật Trợ giúp pháp lý (sửa đổi) 2026, người được trợ giúp pháp lý bao gồm:
- Người có công với cách mạng; cha đẻ, mẹ đẻ, vợ, chồng, con của liệt sĩ và người có công nuôi liệt sĩ;
- Người thuộc hộ nghèo, người thuộc hộ cận nghèo;
- Người nhiễm chất độc da cam;
- Người khuyết tật;
- Trẻ em;
- Người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; người dân tộc thiểu số rất ít người;
- Người được hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng là người cao tuổi, người bị bạo lực trong vụ việc bạo lực gia đình, người nhiễm HIV;
- Người lao động có thu nhập thấp là người bị buộc tội, bị hại;
- Người có khó khăn đột xuất do gặp thiên tai hoặc hỏa hoạn được trợ giúp pháp lý trong vụ việc liên quan trực tiếp đến khắc phục hậu quả xảy ra với họ bởi các sự kiện này;
- Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi là người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội, bị hại, người làm chứng, người chấp hành biện pháp xử lý chuyển hướng, phạm nhân theo quy định của Luật Tư pháp người chưa thành niên;
- Nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân của hành vi mua bán người và người dưới 18 tuổi đi cùng theo quy định của Luật Phòng, chống mua bán người;
- Cá nhân bị thiệt hại mà không thuê người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước;
- Người nước ngoài theo điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định được trợ giúp pháp lý;
- Người được trợ giúp pháp lý khác theo quy định của pháp luật.
Theo đó, Luật sửa đổi đã bổ sung nhóm "người lao động có thu nhập thấp là người bị buộc tội, bị hại" nhằm bảo đảm tốt hơn quyền được trợ giúp pháp lý trong tố tụng hình sự. Đồng thời, bổ sung quy định mở "người được trợ giúp pháp lý khác theo quy định của pháp luật" để bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với yêu cầu thực tiễn trong từng giai đoạn.
Bổ sung quy định về điều kiện thành lập Chi nhánh
Theo Điều 11 Luật Trợ giúp pháp lý 2017, trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước được quy định như sau:
- Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Sở Tư pháp, do UBND cấp tỉnh thành lập, có tư cách pháp nhân, có con dấu, trụ sở và tài khoản riêng.
- Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước có thể có Chi nhánh.
Chi nhánh là đơn vị phụ thuộc của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước, được thành lập tại các huyện ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, giao thông không thuận tiện đến Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước và chưa có tổ chức hành nghề luật sư hoặc tổ chức tư vấn pháp luật tham gia trợ giúp pháp lý. Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động của Chi nhánh. Căn cứ nhu cầu và điều kiện thực tế tại địa phương, Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định thành lập Chi nhánh của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.
- Chính phủ quy định chi tiết về tổ chức và hoạt động của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước, Chi nhánh của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.
Theo Điều 11 Luật Trợ giúp pháp lý 2017 được sửa đổi bổ sung bởi khoản 3 Điều 1 Luật Trợ giúp pháp lý (sửa đổi) 2026 thì quy định trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước như sau:
- Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Sở Tư pháp, do UBND cấp tỉnh thành lập, có tư cách pháp nhân, có con dấu, trụ sở và tài khoản riêng.
- Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước có thể có Chi nhánh.
Chi nhánh là đơn vị phụ thuộc của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước. Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động của Chi nhánh. Căn cứ điều kiện kinh tế - xã hội và nhu cầu trợ giúp pháp lý tại địa phương, Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định thành lập Chi nhánh của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.
- Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước, Chi nhánh của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước; trình tự, thủ tục thành lập, giải thể, sáp nhập Chi nhánh của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.
Theo đó, việc thành lập Chi nhánh của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước căn cứ vào điều kiện kinh tế - xã hội và nhu cầu trợ giúp pháp lý tại địa phương, do Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định nhằm bảo đảm tính chủ động, phù hợp thực tiễn và nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện.
Siết chặt hơn tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm trợ giúp viên pháp lý
Trước đây theo Điều 19 Luật Trợ giúp pháp lý 2017 quy định tiêu chuẩn trợ giúp viên pháp lý như sau:
Công dân Việt Nam là viên chức của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước có đủ tiêu chuẩn sau đây có thể trở thành trợ giúp viên pháp lý:
- Có phẩm chất đạo đức tốt;
- Có trình độ cử nhân luật trở lên;
- Đã được đào tạo nghề luật sư hoặc được miễn đào tạo nghề luật sư; đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư hoặc tập sự trợ giúp pháp lý;
- Có sức khỏe bảo đảm thực hiện trợ giúp pháp lý;
- Không đang trong thời gian bị xử lý kỷ luật.
Theo Điều 19 Luật Trợ giúp pháp lý 2017 được sửa đổi bổ sung bởi khoản 4 Điều 1 Luật Trợ giúp pháp lý (sửa đổi) 2026 quy định tiêu chuẩn trợ giúp viên pháp lý như sau.
Cụ thể, công dân Việt Nam là viên chức của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước có đủ tiêu chuẩn sau đây có thể trở thành trợ giúp viên pháp lý:
- Có phẩm chất đạo đức tốt;
- Có trình độ cử nhân luật trở lên;
- Đã được đào tạo nghề luật sư hoặc được miễn đào tạo nghề luật sư;
- Đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư hoặc tập sự trợ giúp pháp lý, trừ trường hợp đã từng là trợ giúp viên pháp lý;
- Có sức khỏe bảo đảm thực hiện trợ giúp pháp lý.
Theo đó, Luật mới đã sửa đổi tiêu chuẩn trợ giúp viên pháp lý theo hướng siết chặt hơn tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm trợ giúp viên pháp lý nhằm nâng cao chất lượng, phòng ngừa rủi ro liên quan đến phẩm chất đạo đức.
Bổ sung các trường hợp không được bổ nhiệm, cấp thẻ trợ giúp viên pháp lý
Theo khoản 1 Điều 21 Luật Trợ giúp pháp lý 2017 được sửa đổi bổ sung bởi khoản 5 Điều 1 Luật Trợ giúp pháp lý (sửa đổi) 2026 quy định, Chủ tịch UBND cấp tỉnh xem xét bổ nhiệm và cấp thẻ trợ giúp viên pháp lý cho người đủ tiêu chuẩn trợ giúp viên pháp lý quy định tại Điều 19 của Luật này mà không thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Đang trong thời hạn bị xử lý kỷ luật; đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc;
- Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đã bị kết án về tội phạm nghiêm trọng do cố ý, tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý; đã bị kết án mà chưa được xóa án tích về tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng do cố ý.
Như vậy, Luật mới đã bổ sung các trường hợp không được bổ nhiệm, cấp thẻ đối với người đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc, người đã bị kết án mà chưa được xóa án tích về tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, rất nghiêm trọng do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng do cố ý.
Sửa đổi căn cứ miễn nhiệm, thu hồi thẻ trợ giúp viên pháp lý
Theo khoản 1 Điều 22 Luật Trợ giúp pháp lý 2017 quy định, trợ giúp viên pháp lý bị miễn nhiệm và thu hồi thẻ trợ giúp viên pháp lý khi thuộc một trong các trường hợp:
- Không còn đủ tiêu chuẩn làm trợ giúp viên pháp lý quy định tại Điều 19 của Luật Trợ giúp pháp lý;
- Bị xử lý kỷ luật bằng hình thức buộc thôi việc;
- Chuyển công tác khác hoặc thôi việc theo nguyện vọng;
- Không thực hiện vụ việc tham gia tố tụng trong thời gian 02 năm liên tục, trừ trường hợp do nguyên nhân khách quan;
- Bị xử lý kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo từ lần thứ 02 trở lên hoặc cách chức do thực hiện hành vi quy định tại điểm a, b, đ hoặc e khoản 1 Điều 6 của Luật này;
- Đang bị cấm hành nghề trong thời gian nhất định theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.
Theo khoản 1 Điều 22 Luật Trợ giúp pháp lý 2017 được sửa đổi bổ sung bởi khoản 6 Điều 1 Luật Trợ giúp pháp lý (sửa đổi) 2026 thì quy định, trợ giúp viên pháp lý bị miễn nhiệm và thu hồi thẻ khi thuộc một trong các trường hợp:
- Không còn đủ tiêu chuẩn trợ giúp viên pháp lý quy định tại Điều 19 của Luật này;
- Không thực hiện vụ việc tham gia tố tụng trong thời gian 12 tháng liên tục, trừ trường hợp do nguyên nhân khách quan;
- Bị xử lý kỷ luật bằng hình thức buộc thôi việc;
- Bị xử lý kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo trở lên do thực hiện hành vi quy định tại khoản 1 Điều 6 của Luật này;
- Đang trong thời gian bị cấm hành nghề trợ giúp pháp lý theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền;
- Bị kết án mà bản án đã có hiệu lực pháp luật;
- Bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc.
Theo đó, Luật mới rút ngắn thời gian không tham gia tố tụng từ 02 năm xuống 12 tháng; sửa đổi quy định về hình thức kỷ luật làm căn cứ miễn nhiệm theo hướng chặt chẽ hơn.
Bổ sung cơ chế miễn nhiệm đương nhiên với trợ giúp viên pháp lý
Theo khoản 2 Điều 22 Luật Trợ giúp pháp lý 2017 được sửa đổi bổ sung bởi khoản 6 Điều 1 Luật Trợ giúp pháp lý (sửa đổi) 2026 quy định, trợ giúp viên pháp lý đương nhiên miễn nhiệm và thẻ trợ giúp viên pháp lý đương nhiên không còn giá trị trong các trường hợp sau đây:
- Chuyển công tác khác; thôi việc hoặc bị buộc thôi việc;
- Nghỉ hưu.
Đáng chú ý, Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định miễn nhiệm, thu hồi thẻ trợ giúp viên pháp lý.
Như vậy, Luật mới bổ sung cơ chế miễn nhiệm đương nhiên và thẻ trợ giúp viên pháp lý không còn giá trị khi trợ giúp viên pháp lý nghỉ hưu, thôi việc hoặc chuyển công tác, nhằm đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Với 97,6% đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành thông qua Luật Thủ đô (sửa đổi) là tin vui không chỉ với nhân dân Thủ đô mà còn với nhân dân trong Vùng Thủ đô. Luật gồm 9 chương với 36 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-2026, trừ quy định tại khoản 2 Điều 35 có hiệu lực thi hành từ ngày Luật Thủ đô (sửa đổi) được thông qua.
Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Vũ Đại Thắng: Chủ động triển khai đồng bộ nhiều giải pháp
Để chuẩn bị cho việc Luật Thủ đô (sửa đổi) được triển khai thi hành, Hà Nội chủ động triển khai đồng bộ nhiều giải pháp để sớm đưa Luật vào cuộc sống, cụ thể:
Một là, thành phố sẽ ban hành ngay các kế hoạch để tổ chức thi hành Luật như: Tuyên truyền phổ biến, tập huấn Luật Thủ đô, trong đó đặc biệt quan tâm đến việc ban hành văn bản thi hành Luật bảo đảm tiến độ, chất lượng đúng với tinh thần của Luật Thủ đô (sửa đổi).
HĐND thành phố xây dựng và tổ chức các kỳ họp chuyên đề và định kỳ để xem xét thông qua các văn bản triển khai thi hành Luật Thủ đô (sửa đổi), kế hoạch ban hành văn bản đối với văn bản thuộc thẩm quyền ban hành của UBND thành phố, Chủ tịch UBND thành phố trên nguyên tắc triển khai, xác định nội dung nào đã rõ, có thể làm ngay thì triển khai ngay; nội dung cần nghiên cứu sâu sẽ thực hiện theo lộ trình phù hợp.
Hai là, thành phố thực hiện việc rà soát, xác định các nội dung cần ban hành văn bản quy định chi tiết, trong đó có các chính sách sẽ được tiếp tục thực hiện trên cơ sở Luật Thủ đô (sửa đổi) đã kế thừa quy định Luật Thủ đô số 39/2024/QH15 để ban hành ngay bảo đảm chính sách thực thi liên tục, những chính sách mới quy định trong Luật Thủ đô (sửa đổi). Đồng thời, phân công các sở, ngành, đơn vị của thành phố tham mưu xây dựng dự thảo các văn bản thi hành Luật. Luật Thủ đô (sửa đổi) vừa được Quốc hội thông qua có hơn 110 nội dung trong hơn 150 nội dung giao thẩm quyền quy định cho thành phố đã được chuẩn bị. Còn lại những nội dung giao thẩm quyền chung và có tính chất dài hạn sẽ được thành phố nghiên cứu, hoàn thiện trong thời gian tới, phù hợp với điều kiện thực tế phát triển của Thủ đô.
Ba là, thành phố cũng đã chuẩn bị nguồn lực tài chính, con người bảo đảm triển khai hiệu quả các chính sách được Trung ương trao cho thành phố quy định trong Luật Thủ đô (sửa đổi). Bên cạnh đó, thành phố chú trọng nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, mời các chuyên gia, nhà khoa học trong quá trình xây dựng văn bản cũng như thực thi, tăng cường công khai, minh bạch và giám sát trong toàn bộ quá trình thực hiện.
Phó Giám đốc Sở Tài chính Hà Nội Lê Trung Hiếu: Nguồn lực tài chính của Thủ đô trong giai đoạn mới đặc biệt quan trọng
Luật Thủ đô (sửa đổi) đề cập đến khái niệm mới “dự án lớn, quan trọng”. Theo đó, dự án lớn, quan trọng là một trong các dự án sau: Dự án đầu tư công theo quy định của pháp luật về đầu tư công, dự án đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư theo phương thức đối tác công tư (dự án PPP) sử dụng vốn ngân sách địa phương, nguồn vốn hợp pháp khác của địa phương, dự án đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư cần triển khai ngay theo chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng, Đảng ủy Chính phủ, Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố; dự án đầu tư công, dự án PPP sử dụng vốn ngân sách địa phương, nguồn vốn hợp pháp khác của địa phương trên địa bàn thành phố, vùng Thủ đô đáp ứng tiêu chí phân loại dự án quan trọng quốc gia theo quy định của pháp luật về đầu tư công; dự án do nhà đầu tư chiến lược đầu tư.
Phó Giám đốc Sở Tư pháp, Phó Chủ tịch Hội đồng phối hợp, phổ biến giáo dục pháp luật thành phố Hà Nội Phạm Thị Thanh Hương: Đa dạng các hình thức để lan toả Luật Thủ đô (sửa đổi)
Ngay sau khi Luật được thông qua, với vai trò tham mưu công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật của thành phố Hà Nội, Sở Tư pháp sẽ trình thành phố ban hành Kế hoạch cao điểm tuyên truyền, phổ biến, tập huấn và bồi dưỡng Luật Thủ đô (sửa đổi) và các văn bản hướng dẫn thi hành để triển khai trên địa bàn thành phố Hà Nội. Cùng với đó, Sở Tư pháp xây dựng tài liệu, tổ chức thông tin, tuyên truyền chuyên đề pháp luật; biên soạn tài liệu phổ biến, tuyên truyền, tập huấn Luật Thủ đô (sửa đổi); các sở, ngành xây dựng tài liệu và tổ chức tuyên truyền, phổ biến, tập huấn, bồi dưỡng Luật Thủ đô (sửa đổi) và các văn bản hướng dẫn thi hành chuyên sâu theo từng lĩnh vực…
Với việc chuẩn bị từ sớm, từ xa và tuyên truyền bằng nhiều hình thức khác nhau, thành phố Hà Nội đã và đang chủ động để đưa Luật Thủ đô (sửa đổi) sớm đi vào cuộc sống.
Đại tá Nguyễn Văn Thụ, phường Tương Mai, Hà Nội: Mong Luật sớm đi vào cuộc sống, để xây dựng Thủ đô ngày càng tươi đẹp
Là một công dân của Thủ đô, tôi thấy rất phấn khởi khi Luật Thủ đô (sửa đổi) được thông qua. Tôi tâm đắc với các quy định mới trong lĩnh vực y tế. Luật đã thể chế hóa kịp thời qua các quy định cụ thể như bảo đảm chi phí khám, chữa bệnh ngoài phạm vi chi trả của bảo hiểm y tế; giao quyền cho HĐND thành phố ban hành cơ chế, chính sách hỗ trợ. Đồng thời, có các quy định đột phá về hiện đại hóa y tế Thủ đô như y tế số, khám, chữa bệnh từ xa, lưu động. Đây chính là hiện thực hoá mục tiêu vì sức khoẻ của người dân Thủ đô.
Ngoài ra, tôi cũng kỳ vọng, các chính sách thu hút nhân tài và đổi mới sáng tạo trong Luật sẽ giúp Hà Nội thành nơi tụ hội, thu hút nguồn nhân lực, mang lại nhiều cơ hội việc làm cũng như dịch vụ y tế, giáo dục chất lượng cao.
Mong Luật sớm đi vào cuộc sống, để xây dựng Thủ đô ngày càng tươi đẹp, là Thành phố hạnh phúc.
Nguồn: Lao Động; Luật sư Việt Nam; Hà Nội Mới
VIỆT NAM: Phong tỏa tài khoản ngân hàng cho các giao dịch sau; 10 trường hợp nhận tiền vào tài khoản cá nhân bắt buộc phải nộp thuế; Chậm đóng, trốn đóng BHYT có thể bị phạt
9 trường hợp tiền chuyển khoản không phải nộp thuế; Ủy quyền chuyển nhượng bất động sản có phải nộp thuế thu nhập cá nhân; Khi nhà ở cũng là nơi kinh doanh
Từ 1/7 hộ chiếu còn hạn có thể bị hủy giá trị; Cục Thuế thông báo người dân; Trang web chung khai báo tạm trú, lưu trú được sử dụng
Người dân mua bán thuốc chú ý; Bán nhà 11 tỷ nhưng kê khai 1,5 tỷ, 6 năm sau bị kiến nghị thu thuế; Người làm hộ chiếu online chú ý; Tin vui cho người mua bán đất bằng giấy viết tay
VIỆT NAM: Ở quá hạn visa tại Việt Nam bị phạt bao nhiêu tiền?; Vợ hay chồng vi phạm điều này bị phạt đến 10 triệu; Đề xuất sửa Luật Đất đai ngay trong năm nay
VIỆT NAM: Siêu dự án 60.000 tỷ nhận chỉ đạo mới từ Chính phủ; Những thông tin quan trọng nhất về đăng ký tạm trú; Công an cảnh báo khẩn tới những ai mua bán bất động sản
Đi lao động nước ngoài; Cắt giảm ngành nghề có điều kiện; Trang Web khai báo lưu trú chung cho người Việt và người nước ngoài; Trách nhiệm Việt kiều đăng ký tạm trú?
Bỏ cấp tài khoản định danh mức 2 tại cấp bộ, tỉnh; Cắt giảm thủ tục ngành công thương; Bỏ tiếp 182 điều kiện kinh doanh; Quyền lợi khi đi máy bay Vietnam Airlines
Bình luận và đánh giá
Gửi nhận xét đánh giá