Trở về; Kiếp người; Đường xưa

TRỞ VỀ

Họ gặp nhau ở một lớp học tiếng Đức dành cho người nước ngoài tại Berlin. Cô vừa trốn chạy khỏi Kyiv cùng mẹ sau đợt pháo kích, còn anh là nghiên cứu sinh ngành Vật liệu Sinh học, sang từ Hà Nội.

Họ ngồi cạnh nhau vì là những người cuối cùng ghi danh. Cô học tiếng như một con chim bị thương, giọng lơ lớ, cười nhiều nhưng mắt luôn sợ hãi. Anh thì ít nói, nhưng lần đầu tiên bắt chuyện bằng một câu ngập ngừng: “Bạn có thích mùi bánh mì nướng buổi sáng không?”

Cô ngẩn ra, rồi cười.

“Rất thích. Ở Kyiv, nhà tôi gần tiệm bánh.”

Câu chuyện có lẽ bắt đầu từ một tiệm bánh gần ga Alexanderplatz, anh mua cho cô chiếc Croissant và ly Cappuchino trước giờ vào lớp, nhưng lại làm đổ ra váy cô. Chiếc váy trắng loang một vệt như lá mục. Cô cười trong khi anh đỏ mặt vì xấu hổ. Rồi anh cởi áo, buộc quanh eo cô để che đi vết bẩn. Cô để yên, không cười, không ngăn lại. Tóc cô thơm, không biết là mùi Shampoos hay mùi hương trinh nữ.

Lần sau, họ cùng đi xem bảo tàng Do thái. Cô bảo: giống dân tộc em- cũng bị huỷ diệt. Anh nắm tay cô, bóp nhẹ: thế giới sẽ không để chúng làm việc đó. Cô để yên, không rút lại.

Tối, họ cùng ăn món phở anh nấu, rất vụng nhưng có cả mùi tươi lẫn hạt mùi. Cô bảo: mùi như “chiếc chăn ấm ngày còn bé”. Anh cười: người có ký ức sâu nặng về mùi là người thuỷ chung. Nếu yêu ai, họ sẽ không rời.

Mùa đông năm đó, tuyết rơi muộn.

Anh nắm tay cô khi hai người cùng lạc đường sau giờ học, đứng co ro bên trạm xe điện.

“Lạnh quá…” – cô rúc vai anh.

“Ừ. Nhưng ấm hơn mọi mùa đông trước của anh.”- anh nói.

Cô nhìn anh như thể chưa từng có ai dịu dàng đến thế giữa những điều đang nổ tung ngoài kia.

Một năm sau, họ dọn về sống chung.

 

Anh làm thêm ở phòng thí nghiệm, cô dịch tin cho một kênh truyền hình Ukraina tại Berlin.

Chiến sự ngày một tệ hơn.

Cô không còn người thân nào ở Kyiv. Còn anh… vẫn giữ hộ chiếu Việt Nam trong ngăn tủ, nhưng tim thì đã dời hẳn về phía Đông - nơi có một người phụ nữ vừa đẹp vừa gãy vụn, đang dựng lại lòng tin từ những mảnh vỡ.

Anh bắt đầu tìm hiểu tình hình chiến sự.

Dõi theo từng đợt phản công, từng vùng tái chiếm, từng danh sách tử sĩ.

Một ngày, anh nói:

“Katya, anh muốn về Ukraina.”

Cô quay lại, chết lặng.

“Để làm gì?”

“Để chiến đấu. Để ít nhất anh biết, mình không chỉ ngồi đây nhìn em loay hoay với mất mát.”

“Nhưng anh là người Việt!”

“Và em là người tôi yêu.”

Cô khóc. Còn anh im lặng.

Ngày hôm sau, anh đến Đại sứ quán Ukraina.

Một tuần sau, anh rời Berlin cùng nhóm tình nguyện quốc tế.

Không hôn chia tay.

Chỉ để lại một bức thư:

“Anh sẽ trở về. Không nguyên vẹn, có thể. Nhưng bằng mọi cách, anh sẽ về bên em.”

Anh đóng quân tại vùng Zaporizhzhia, một mặt trận ác liệt nhưng ít báo chí nhắc đến.

Họ liên lạc mỗi đêm - đôi khi chỉ một dòng:

“Vẫn còn sống.”

Có khi là một bài thơ ngắn. Có khi chỉ là "Anh yêu em" mà cô đã học để đáp lại "em yêu anh" bằng ngôn ngữ của tình yêu.

Cô gõ từng chữ như người thắp nến giữa gió.

Rồi một ngày, tin nhắn không đến nữa.

Bộ đề, đáp án kiểm tra nhập quốc tịch Einbürgerungstest song ngữ

Cô đợi.

Một ngày. Hai ngày.

Một tuần.

Danh sách tử trận không có tên anh.

Danh sách mất tích thì dài vô tận.

Cô viết thư đến mọi nơi.

Liên lạc các phóng viên chiến trường.

Nghe tin đồn rằng một nhóm lính tình nguyện bị bắt trong một trận phục kích. Có kẻ sống. Có kẻ chết cháy. Có xác không thể nhận dạng.

Hai tháng sau, Ukraina và Nga trao đổi tù binh và thi thể lần thứ tư.

Cô được gọi đến Kyiv.

Trong danh sách có tên: Nguyễn Văn Long - tình nguyện viên, nghi mất tại Zaporizhzhia.

Họ yêu cầu cô đến nhận dạng một thi thể không còn nguyên vẹn - cháy gần như than, chỉ còn bộ xương.

Cô bay đến Kyiv trong mưa.

Khi mở tấm vải phủ, cô chết lặng.

Bộ xương to lớn, thô kệch, chiều cao khoảng 1m85.

Anh chỉ cao 1m65, nhỏ thó, cổ tay thanh như sợi tre non.

Cô lắc đầu.

“Không phải anh ấy.”

Người lính quản trại bảo:

“Có thể họ nhầm. Xác từ Nga gửi về thường không còn nguyên. Nhưng đó là người duy nhất trùng tên.”

Cô chỉ im lặng.

Trong lòng, một nỗi đau lạnh hơn thép.

Và một nỗi giận không thể bật lên thành tiếng.

Cô trở về Berlin.

Không còn hy vọng, nhưng cũng không thể tin anh đã chết.

Cô giữ nguyên phòng anh, cất hộ chiếu Việt Nam vào ngăn kéo, mỗi sáng vẫn pha cà phê cho hai người.

Bạn bè bảo cô điên. Báo chí không tin vào chuyện một người Việt vô danh đã xung phong vì một mối tình.

Cô không cãi. Không thanh minh hay xác nhận. Chỉ thỉnh thoảng, khi nghe ai đó gõ cửa vào chiều muộn, tim cô vẫn thắt lại như có người trở về.

Một năm sau, một nhà báo độc lập Ukraina gọi cho cô.

“Cô là Kateryna?”

“Vâng.”

“Tôi từng đến Zaporizhzhia. Có nghe lính kể về một người Việt nhỏ bé, bắn giỏi như thần, hay ngồi viết thư mỗi đêm. Gọi tên một cô gái người Ukraina mãi không thôi.”

“Anh ấy… còn sống không?”

“Không rõ. Có thể chết trong trận đồi số 45. Nhưng cũng có thể bị đưa về Nga.”

“Anh có thấy xác?”

“Không. Nhưng một người nói rằng, trước khi mất tích, anh ấy nhét vào tay một người bạn một mảnh giấy.”

Cô ngắt lời, run rẩy:

“Ghi gì?”

Nhà báo ngập ngừng rồi đọc chậm từng chữ:

“Katya, nếu em không nhận ra anh trong đống xác, thì tức là anh vẫn còn trên đường trở về.”

Đêm đó, cô mơ thấy anh.

Không tay, không chân.

Không áo giáp, không đồng phục.

Chỉ còn đôi mắt nhìn cô xuyên qua chiến tranh.

Và một câu nói thì thầm trong gió:

“Anh sẽ trở về.”

Mười năm sau, Kateryna trở thành nhà văn.

Cô viết một cuốn sách duy nhất: Người không quê hương.

Trang cuối là một đoạn ngắn:

“Tôi không biết anh ấy còn sống không.

Chỉ biết rằng, trong lòng tôi, anh vẫn đang bước về phía tôi -

Chân trần, giữa bạt ngàn tuyết trắng.”

Cô không cưới ai.

Không rời Berlin.

Và mỗi lần có chuyến bay từ Ukraina sang, cô ra sân bay.

Chờ.

Và nếu ai đó hỏi:

“Cô thật sự tin là anh ấy sẽ về sao?”

Cô mỉm cười:

“Tôi không tin. Tôi chỉ yêu. Và tình yêu không cần lý do để chờ đợi.”

Anh sẽ trở về.

Dù là mảnh tro, là giấc mơ, hay là gió thổi qua những năm tháng không còn mặt người,

Em vẫn nhận ra anh.

Vì anh là nỗi đau duy nhất em không muốn quên.

Nếu có điều gì anh muốn kể cùng em giữa những tháng năm khói lửa bất an này, thì chỉ có thể là tình yêu.

Nếu tim em còn run nhẹ, thì nghĩa là anh vẫn còn sống - đâu đó, giữa một thế giới không công bằng, nhưng vẫn có tình yêu.

Và tình yêu đó, như em nói…

Phải đủ nhân văn để khiến người ta vừa rơi lệ, vừa muốn ôm lấy tất cả loài người mà không tha thứ.

Nguồn: FB Kiều Thị An Giang

 

KIẾP NGƯỜI

Sang với hèn một đời cũng thế

Lợi danh cao cũng một chốn về

Dọc ngang khắp nẻo sơn khê

Trắng - đen, sấp - ngửa, tứ bề tôi - ai?!

 

Giàu hay nghèo đều mong yên ấm

Đón bình minh … lặng ngắm chiều tà

Thăng trầm dâu bể đi qua

Nhục - vinh ngoảnh lại tóc đà pha sương

 

Đúng với sai lòng ai cũng vậy

Vui phút giây rồi lại ưu phiền

Ngắn dài một khúc du miên

Trăm năm bỏ ngỏ … về miền phù vân

 

Chẳng hơn - thua cõi trần trong đục

Bởi sau cùng được - mất bằng không

Chi bằng tự tại thong dong

Ung dung bình thản mà đong kiếp người!

Nguồn: FB Đồng Ánh Liễu

 

 

ĐƯỜNG XƯA

Em về cuối nẻo đường xưa

Hàng cây câm lặng trăng chưa ngủ vùi

Chỉ mình em ngắm đêm thôi

Gió như đùa với đơn côi thét gào

 

Nhớ anh ôi nhớ làm sao

Ngẩng đầu trăng vẫn trên cao thẩn thờ

Đường xưa hoài niệm trong mơ

Để em thao thức ngóng chờ đợi anh

 

Bao giờ trăng nhuộm tình xanh

Cho em ôm nhớ ngọt lành bờ môi

Đường xưa riêng bóng em thôi

Không anh trăng cũng lẻ loi đi về

 

Làm sao quên được câu thề

Em say những phút đê mê tình nồng

Hỏi anh còn nhớ hay không

Trăng thanh còn đó mặn nồng giờ đâu?

 

Ngập ngừng không nói nên câu

Đường xưa nhuốm rũ một mầu nhớ nhung

Trăng ơi ta muốn theo cùng

Nguồn: FB Trương Thị Hoa Lài

 

Đức Việt Online

Xem thêm:
Về trang trước

Chủ đề:

Bình luận và đánh giá
Gửi nhận xét đánh giá
Lên đầu trang