- Tư vấn

Đã bao giờ bạn từng nghĩ, chỉ đóng từ 264.000 đồng/tháng là đã có lương hưu khi về già hay không? Dưới đây là thông tin giải đáp từ Bảo hiểm xã hội Việt Nam.
BHXH Việt Nam đã thông tin chi tiết về mức đóng, phương thức đóng BHXH tự nguyện cụ thể như sau:
Mức đóng BHXH tự nguyện thấp nhất năm 2026
Ngày 30/12/2025, Chính phủ ban hành Nghị định số 351 quy định chuẩn nghèo đa chiều quốc gia giai đoạn 2026 - 2030; trong đó có điều chỉnh về chuẩn hộ nghèo khu vực nông thôn. Đây là căn cứ quan trọng để xác định mức thu nhập đóng BHXH tự nguyện thấp nhất.
Cụ thể, Nghị định có hiệu lực từ ngày 15/02/2026 nâng mức chuẩn hộ nghèo của khu vực nông thôn lên 2.200.000 đồng/người/tháng thay cho mức 1.500.000 đồng/người/tháng.
Về căn cứ đóng BHXH tự nguyện thấp nhất, khoản 2 Điều 31 Luật BHXH năm 2024 quy định: Thu nhập làm căn cứ đóng BHXH tự nguyện thấp nhất bằng mức chuẩn hộ nghèo của khu vực nông thôn và cao nhất bằng 20 lần mức tham chiếu tại thời điểm đóng.
Như vậy, mức đóng BHXH tự nguyện thấp nhất sẽ tăng lên theo mức chuẩn hộ nghèo mới. Tuy nhiên, Nghị định 351/2025 cũng nêu rõ: Tiếp tục thực hiện chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022 - 2025 theo quy định tại Điều 3 Nghị định 07/2021 từ ngày 01/01/2026 đến hết ngày 31/12/2026.
Như vậy, trong năm 2026, mức chuẩn hộ nghèo của khu vực nông thôn vẫn là 1.500.000 đồng/người/tháng, đồng nghĩa với việc thu nhập làm căn cứ đóng BHXH tự nguyện thấp nhất năm 2026 vẫn là 1.500.000 đồng/tháng.
Tuy nhiên, người tham gia không phải đóng toàn bộ số tiền này. Người tham gia BHXH tự nguyện được Nhà nước hỗ trợ tiền đóng theo tỷ lệ phần trăm (%) trên mức đóng BHXH tự nguyện thấp nhất như sau:
Bằng 50% (165.000 đồng) đối với người tham gia thuộc hộ nghèo, người đang sinh sống tại xã đảo, đặc khu theo quy định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
Bằng 40% (132.000 đồng) đối với người tham gia thuộc hộ cận nghèo.
Bằng 30% (99.000 đồng) đối với người tham gia là người dân tộc thiểu số.
Xem tiếp tại đường Link =>https://share.google/NrMkRCKZ3sW3ySXXr
Việc tích hợp giấy khai sinh vào ứng dụng VNeID sẽ mang lại nhiều lợi ích cho người dân trong quá trình thực hiện các thủ tục hành chính và chuyển đổi số.
Triển khai Nghị quyết 66.22/2026/NQ-CP về phát triển công dân số, kể từ 15/10, ứng dụng định danh điện tử quốc gia (VNeID) đã bổ sung tính năng “cung cấp thông tin cho cơ quan nhà nước”.
Tính năng mới này cho phép người dân có thể chủ động cung cấp một số thông tin và đính kèm giấy tờ hộ tịch của mình lên VNeID, bao gồm giấy khai sinh, giấy chứng nhận kết hôn, quyết định ly hôn… nhằm phục vụ công tác xác minh, đối chiếu và xử lý thông tin của công dân, góp phần đảm bảo dữ liệu “đúng, đủ, sạch, sống”.
Các loại giấy tờ hộ tịch sau khi được tích hợp lên VNeID có thể sử dụng thay thế bản cứng khi thực hiện các thủ tục hành chính, giúp tránh nguy cơ giấy tờ bị thất lạc hoặc hư hỏng…
Cách tích hợp giấy khai sinh vào ứng dụng VNeID
Để tích hợp giấy khai sinh vào VNeID, người dùng cần phải nâng cấp ứng dụng VNeID lên phiên bản mới nhất (quá trình này thường sẽ được thực hiện tự động trên smartphone) và cần phải đăng ký tài khoản định danh điện tử cấp độ 2.
Công dân không thể tự đăng ký tài khoản định danh cấp độ 2, mà phải đến công an xã, phường mình sinh sống hoặc nơi làm thủ tục cấp thẻ CCCD để đăng ký.
Sau khi đã đáp ứng đầy đủ 2 yêu cầu kể trên, bạn thực hiện theo các bước sau để tích hợp giấy khai sinh vào ứng dụng VNeID:
- Kích hoạt ứng dụng VNeID và đăng nhập vào tài khoản định danh điện tử của bạn.
- Từ giao diện của ứng dụng VNeID, nhấn “Dịch vụ khác” tại mục “Nhóm dịch vụ”, sau đó chọn “Cung cấp thông tin cho CQNN” từ danh sách hiện ra.
Nhập mã passcode bảo vệ dữ liệu trên VNeID để tiếp tục.
- Nhấn “Tạo mới” tại giao diện hiện ra, sau đó chọn “Giấy khai sinh” tại mục “Chọn loại thông tin”.
- Bước tiếp theo, người dùng điền các thông tin về giấy khai sinh như ngày cấp, nơi cấp (theo địa chính 3 cấp cũ trước đây và địa chính 2 cấp mới hiện tại), chọn đính kèm file ảnh chụp giấy khai sinh (hoặc bản sao có công chứng của giấy khai sinh), sau đó tích vào dấu “Tôi xác nhận các thông tin ở trên là đúng” và nhấn nút “Gửi yêu cầu”.
Sau khi gửi thông tin thành công, bạn sẽ phải chờ một thời gian để hồ sơ được duyệt.
Nếu hồ sơ được duyệt, người dùng sẽ nhận được thông báo trên VNeID về một loại giấy tờ mới chờ được tích hợp vào ví giấy tờ. Bạn kiểm tra lại thông tin về giấy khai sinh xem đã đúng hay chưa (bao gồm ngày tháng năm sinh, họ tên cha, mẹ, nơi sinh…) trước khi đồng ý tích hợp giấy khai sinh vào VNeID.
Xem tiếp tại đường Link =>https://share.google/SV8LlILjiouBBi5E6
Bạn đọc anxxx@gmail.com hỏi: Theo Nghị định 319/2026/NĐ-CP có hiệu lực 1.7.2027, những loại ô tô nào phải lắp camera ghi nhận hình ảnh người lái xe, khoang xe.
Bộ phận Tư vấn pháp luật Báo Lao Động trả lời:
Theo Nghị định số 319/2026/NĐ-CP của Chính phủ: Quy định về thiết bị giám sát hành trình, thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe, thiết bị ghi nhận hình ảnh khoang chở khách trên phương tiện giao thông đường bộ, có hiệu lực từ ngày 1.7.2027.
Tuy nhiên, Điều 12, Nghị định 319/2026/NĐ-CP quy định hiệu lực thi hành theo lộ trình, cụ thể như sau:
1. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 1.7.2027, trừ quy định tại khoản 2, khoản 3, khoản 4 Điều này.
2. Quy định lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe đối với xe ô tô kinh doanh vận tải hành khách dưới 08 chỗ (không kể chỗ của người lái xe), xe ô tô kinh doanh vận tải hàng hóa (trừ xe ô tô đầu kéo), xe vận tải nội bộ tại Điều 4 Nghị định này thực hiện từ ngày 1.1.2028.
3. Quy định lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh khoang chở khách đối với xe ô tô kinh doanh vận tải hành khách trên 29 chỗ (không kể chỗ của người lái xe) tại Điều 4 Nghị định này thực hiện từ ngày 1.1.2029.
4. Quy định lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh khoang chở khách đối với xe ô tô kinh doanh vận tải hành khách từ 08 chỗ trở lên (không kể chỗ của người lái xe) đến 29 chỗ (không kể chỗ của người lái xe) tại Điều 4 Nghị định này thực hiện từ ngày 1.1.2030.
Xem tiếp tại đường Link =>Quy định mới những loại ô tô phải lắp camera ghi nhận hình ảnh người lái xe, khoang xe
Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) đang lấy ý kiến góp ý dự thảo Thông tư quy định tiêu chuẩn, điều kiện và quy trình bổ nhiệm, miễn nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư.
Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, Thông tư mới đánh dấu sự chuyển đổi toàn diện từ mô hình quản lí tập trung “Nhà nước công nhận đạt tiêu chuẩn - cơ sở bổ nhiệm” sang mô hình hiện đại “Cơ sở giáo dục đại học tự chủ tuyển chọn cạnh tranh vào vị trí việc làm, Nhà nước ban hành chuẩn sàn và thực hiện hậu kiểm theo rủi ro”. Theo đó, dự thảo Thông tư có nhiều chính sách đột phá.
Giáo sư, phó giáo sư là chức danh của giảng viên đại học
Theo quy định của Luật Giáo dục, Luật giáo dục đại học, Luật Nhà giáo chức danh giáo sư, phó giáo sư là chức danh của giảng viên đại học. Việc bổ nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư gắn với vị trí, nhiệm vụ và nguồn lực của cơ sở đào tạo. Chỉ thực hiện bổ nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư khi có vị trí giảng viên đại học trong cơ cấu tổ chức, nhân sự.
Phân định rõ trách nhiệm của Bộ GDĐT và cơ sở đào tạo
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quy định về tiêu chuẩn, điều kiện, quy trình; tiêu chuẩn tối thiểu gồm tiêu chuẩn chung và tiêu chuẩn năng lực của giáo sư, phó giáo sư
Cơ sở đào tạo định tiêu chuẩn cụ thể nhưng không được thấp hơn, không được bỏ tiêu chuẩn/tiêu chí, thay đổi hoặc bổ sung trường hợp thay thế ngoài quy định của Thông tư này.
Chú trọng chất lượng, coi trọng năng lực giảng dạy, cạnh tranh trong bổ nhiệm
Dự thảo quy định chuẩn chung và yêu cầu thành tích tối thiểu được áp dụng thống nhất toàn quốc. Các ứng viên vượt qua chuẩn sàn sẽ được Hội đồng đánh giá, chấm điểm độc lập, xếp hạng để lập danh sách đề xuất tuyển chọn cạnh tranh cho từng vị trí làm việc. Những quy định này nhằm khắc phục tình trạng “đếm điểm thay cho đánh giá chất lượng - giảng dạy bị xem nhẹ”; trong đó, trọng số tiêu chuẩn giảng dạy chiếm tối thiểu 30%.
Liên quan đến thẩm định chất lượng khoa học và liêm chính học thuật, dự thảo Thông tư bỏ hoàn toàn bảng quy đổi điểm công trình quy đổi. Đánh giá chất lượng thực chất thông qua 5 công trình khoa học tiêu biểu. Dự thảo quy định hồ sơ bắt buộc phải có phản biện ẩn danh. Trong đó đối với hồ sơ giáo sư có 5 chuyên gia, có ít nhất 1 chuyên gia quốc tế; 3 chuyên gia đối với phó giáo sư.
Dự thảo cũng đưa ra các quy tắc nghiêm ngặt về kiểm soát xung đột lợi ích và thu hồi quyết định nếu vi phạm liêm chính học thuật.
Các ứng viên đạt yêu cầu được xếp hạng trong danh sách. Người đứng đầu cơ sở đào tạo quyết định lựa chọn.
Lần đầu tiên số lượng giáo sư, phó giáo sư tối đa của từng nhóm ngành được xác định tự động
Dự thảo quy định số lượng giáo sư, phó giáo sư tối đa theo nhóm ngành dựa trên quy mô đội ngũ giảng viên có trình độ tiến sĩ, kết quả hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, kết quả đào tạo tiến sĩ của cơ sở giáo dục đại học trong 3 năm gần nhất.
Việc bổ nhiệm giáo sư, phó giáo sư theo vị trí cơ hữu, đồng cơ hữu và hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu chỉ được thực hiện khi tổng số giáo sư, phó giáo sư của nhóm ngành sau khi bổ nhiệm không vượt quá số lượng tối đa, được tính theo công thức:
Số lượng tối đa = (25% × G) + (T × G) + (k × B)
Trong đó: (25% × G) là mức cơ bản; (T × G) là mức tăng theo kết quả hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; (k × B) là mức tăng theo kết quả đào tạo tiến sĩ.
- G là số giảng viên cơ hữu có trình độ tiến sĩ của nhóm ngành, được tính bình quân trong ba năm gần nhất, bao gồm các vị trí cơ hữu, đồng cơ hữu có bằng tiến sĩ thuộc nhóm ngành; trong đó vị trí đồng cơ hữu được tính hệ số quy đổi theo quy định của pháp luật.
- T là tỷ trọng thu từ các hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, được tính bình quân trong ba năm gần nhất, là tỷ lệ kinh phí thu từ các hoạt động này trên tổng kinh phí thu của cơ sở đào tạo. Kinh phí thu từ các hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phải được chuyển về và quản lý thu chi đúng mục đích qua tài khoản chính thức của cơ sở đào tạo, thể hiện trong báo cáo tài chính được phê duyệt và được công khai theo quy định (không bao gồm kinh phí thu được từ các hoạt động dịch vụ, tư vấn).
- B là số bằng tiến sĩ do cơ sở đào tạo cấp cho nghiên cứu sinh của nhóm ngành, được tính bình quân trong ba năm gần nhất.
- k là hệ số, bằng 2/3 (hai phần ba) đối với khối ngành I và bằng 1/3 (một phần ba) đối với các khối ngành còn lại.
Đối với nhóm ngành hoạt động chưa đủ 03 (ba) năm thì G, T, B được tính theo thời gian thực tế.
Luân chuyển và thu hút nhân tài
Dự thảo cũng mở rộng khả năng thu hút nhân lực chất lượng cao. Theo đó, nhà khoa học đã giữ chức danh từ 3 năm trở lên (trong nước hoặc quốc tế) khi chuyển trường không phải chứng minh lại thành tích tối thiểu và không bị tính vào hạn mức cơ bản. Các đại học trọng điểm có đề án phát triển đẳng cấp quốc tế được tự chủ thu hút giáo sư, phó giáo sư nước ngoài ngoài hạn mức.
Dự thảo Thông tư quy định công khai toàn bộ kế hoạch vị trí, tiêu chí đánh giá, thành viên Hội đồng, điểm số chi tiết và lí do lựa chọn. Bộ GDĐT không xét lại từng hồ sơ mà chuyển sang quản trị dữ liệu ngành và kiểm tra đột xuất khi phát hiện dấu hiệu rủi ro (tăng số lượng bất thường, khiếu nại có căn cứ).
Xem tiếp tại đường Link =>TOÀN VĂN: Dự thảo Thông tư quy định tiêu chuẩn, điều kiện và quy trình bổ nhiệm, miễn nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư
Cục Quản lý đất đai vừa phản hồi kiến nghị của công dân liên quan đến việc áp dụng quy định pháp luật đối với các trường hợp đã có quyết định thu hồi đất.
Cục Quản lý đất đai nhận được phản ánh, kiến nghị của công dân P.M.L trên Hệ thống thông tin tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị về văn bản quy phạm pháp luật.
Theo đó, công dân đề nghị hướng dẫn một số vướng mắc phát sinh trong thực tiễn áp dụng pháp luật đất đai. Cụ thể, có trường hợp quyết định thu hồi đất đã được ban hành từ nhiều năm trước, thậm chí 20-30 năm, nhưng đến nay việc thu hồi vẫn chưa được thực hiện trên thực tế. Người sử dụng đất vẫn đang quản lý, sử dụng đất; chưa được bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, chưa bàn giao đất và dự án cũng chưa được triển khai trên phần đất đó.
Tuy nhiên, khi người dân thực hiện các quyền như chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp hoặc đăng ký biến động, có trường hợp cơ quan đăng ký đất đai vẫn căn cứ vào quyết định thu hồi hoặc ranh giới thu hồi được xác lập từ nhiều năm trước để từ chối giải quyết.
Từ thực tế trên, công dân đề nghị Cục Quản lý đất đai làm rõ: Trường hợp quyết định thu hồi đất đã được ban hành nhưng sau nhiều năm, thậm chí khoảng 30 năm, vẫn chưa được thực hiện thì quyết định đó có tiếp tục được sử dụng làm căn cứ hạn chế quyền của người sử dụng đất hay không? Nếu có, thời hạn hạn chế quyền là bao lâu? Pháp luật có quy định giới hạn thời gian đối với trường hợp quyết định thu hồi đất đã ban hành nhưng kéo dài nhiều năm chưa thực hiện hay không?
Đặc biệt, công dân đề nghị hướng dẫn việc áp dụng Điều 151 Luật Đất đai năm 2024 đối với trường hợp đã quá 3 năm kể từ thời điểm có quyết định thu hồi đất mà không thực hiện. Trường hợp quyết định đã tồn tại 20–30 năm nhưng chưa thu hồi đất trên thực tế có thuộc trường hợp quá 3 năm mà không thực hiện hay không? Nếu thuộc trường hợp này, người sử dụng đất có được tiếp tục thực hiện các quyền theo Giấy chứng nhận như chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, đăng ký biến động hay không? Cơ quan đăng ký đất đai có được tiếp tục căn cứ vào quyết định thu hồi cũ để từ chối đăng ký biến động hay không?
Đối với quyết định thu hồi đất được ban hành trước khi Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực, công dân cũng đề nghị Cục làm rõ mốc thời gian 3 năm được tính từ thời điểm nào: ngày ban hành quyết định thu hồi, ngày có quyết định thu hồi cụ thể đối với từng thửa đất, thời điểm có thông báo thu hồi đất hay thời điểm khác theo quy định pháp luật.
Sau khi nghiên cứu nội dung phản ánh, kiến nghị, Cục Quản lý đất đai có ý kiến như sau:
Tại điểm đ khoản 1 Điều 151 Luật Đất đai năm 2024 quy định các trường hợp không cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất bao gồm trường hợp đất đã có quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp đã quá 3 năm kể từ thời điểm có quyết định thu hồi đất mà không thực hiện.
Đối với vướng mắc liên quan đến việc quyết định thu hồi đất được ban hành từ nhiều năm nhưng chưa thực hiện làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất, Bộ Nông nghiệp và Môi trường xin ghi nhận để nghiên cứu xem xét trong quá trình xây dựng dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) và dự thảo Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai.
Xem tiếp tại đường Link =>Mốc 3 năm khi xét cấp sổ đỏ cho đất có quyết định thu hồi
Nguồn: Soha; Dân Trí; Lao Động; Xây Dựng Chính Sách
Suýt làm dâu Việt và bài học cả đời về cách buông tay; Lại nói với con; Ngày thu vắng
Mua đất giấy viết tay phải trả lại; Chính sách mới có hiệu lực; Mất 800 triệu vì hợp đồng đặt cọc mua sẵn; Quy định lưu trữ dữ liệu; Đất lấn, chiếm Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận
Thay đổi quy trình cấp thẻ BHYT; Tài khoản ngân hàng liên kết VNeID; Khách bay quốc tế từ Nội Bài chú ý; Sang tên sổ đỏ đất ở chuyển sang đất vườn; Người có đất chú ý
Quy định mới về đất; Người có thẻ Bảo hiểm y tế chú ý; Chặn đầu cơ bất động sản; Hồ sơ một đằng, căn hộ bán một nẻo; Điều tra các giao dịch chuyển và nhận tiền
Tranh chấp đất từ thời vua Càn Long; Khóa tài khoản doanh nghiệp chưa xong dữ liệu hải quan; Quy định mới tạm trú; 3 kênh hỗ trợ doanh nghiệp giải thể; Hạn mức công nhận đất ở
Người có tài khoản ngân hàng chú ý; Tiền đền bù đất có phải chịu thuế; Đất được cấp sổ nay bị thu hồi; Mua nhà ở xã hội TP.HCM; Người có VNeID chú ý
Người dùng VNeID chú ý; Chú ý quy định phạt 30 triệu đồng; Hạn chót nộp thuế đất phi nông nghiệp; Bộ trả lời đất có ngõ trên giấy
Trường hợp không chấp hành xử phạt hành chính; Bán đất 2,42 tỷ, công chứng 350 triệu; Trả hồ sơ đất thổ cư; Bỏ quy định giá đất cụ thể; Mức xử phạt vi phạm thẻ căn cước
Bình luận và đánh giá
Gửi nhận xét đánh giá