- Tư vấn

Cục Thuế vừa có văn bản trả lời kiến nghị của công dân Nguyễn Thị Thanh Huyền liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ thuế.
Cục Thuế mới đây cho biết đã nhận được phản ánh kiến nghị số 1791339249140 của độc giả Nguyễn Thị Thanh Huyền liên quan đến việc xử lý nghĩa vụ thuế từ chuyển nhượng bất động sản được xác lập trước ngày 01/7/2026 nhưng sau ngày 01/7/2026 mới đăng ký thủ tục quy định tại khoản 8 Điều 10 Nghị định số 252/2026/NĐ-CP ngày 30/6/2026 của Chính phủ. Về vấn đề này, Cục Thuế có ý kiến như sau:
Căn cứ pháp lý về thời hạn nộp hồ sơ khai thuế đối với thủ tục đăng ký biến động đất đai
Quy định trước ngày 01/7/2026
Tại khoản 5 Điều 21 Thông tư số 92/2015/TT-BTC ngày 15/6/2015 của Bộ Tài chính hướng dẫn:
" Điều 21. Sửa đổi, bổ sung Điều 16 Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế và Nghị định số 83/2013/NĐ-CP ngày 22/7/2013 của Chính phủ (sau đây gọi là Thông tư số 156/2013/TT-BTC) như sau:
…5. Sửa đổi, bổ sung điểm c và điểm d khoản 3 Điều 16
"c) Nơi nộp hồ sơ khai thuế
Cá nhân nộp hồ sơ khai thuế cùng hồ sơ chuyển nhượng bất động sản tại bộ phận một cửa liên thông hoặc Chi cục Thuế nơi có bất động sản chuyển nhượng. Trường hợp ở địa phương chưa thực hiện quy chế một cửa liên thông thì nộp hồ sơ trực tiếp cho văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất nơi có bất động sản chuyển nhượng.
Trường hợp cá nhân chuyển nhượng nhà, công trình xây dựng hình thành trong tương lai thì khai thuế, nộp thuế thu nhập cá nhân tại Chi cục Thuế địa phương nơi có nhà, công trình xây dựng hình thành trong tương lai hoặc tổ chức, cá nhân được cơ quan thuế ủy nhiệm thu.
d) Thời hạn nộp hồ sơ khai thuế
- Trường hợp hợp đồng chuyển nhượng không có thỏa thuận bên mua là người nộp thuế thay cho bên bán thì nộp hồ sơ khai thuế chậm nhất là ngày thứ 10 (mười) kể từ thời điểm hợp đồng chuyển nhượng có hiệu lực theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp hợp đồng chuyển nhượng có thỏa thuận bên mua là người nộp thuế thay cho bên bán thì nộp hồ sơ khai thuế chậm nhất là thời điểm làm thủ tục đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng bất động sản. Trường hợp cá nhân nhận chuyển nhượng nhà, công trình xây dựng tương lai là thời điểm cá nhân nộp hồ sơ khai thuế với cơ quan thuế."
- Tại khoản 3 Điều 88 Thông tư số 80/2021/TT-BTC ngày 29/9/2021 của Bộ Tài chính hướng dẫn:
"Điều 88. Quy định chuyển tiếp
3. Đối với cá nhân nộp hồ sơ khai thuế TNCN đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản thì thời hạn nộp hồ sơ khai thuế tiếp tục thực hiện theo hướng dẫn tại khoản 11 Điều 2 Nghị định số 12/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015 của Chính phủ và khoản 5 Điều 21 Thông tư số 92/2015/TT-BTC ngày 15/6/2015 của Bộ Tài chính."
Quy định kể từ ngày 01/7/2026
Tại khoản 3 Điều 133 Luật Đất đai 2024 quy định:
"Điều 133. Đăng ký biến động
3. Các trường hợp đăng ký biến động quy định tại các điểm a, b, i, k, l, m và q khoản 1 Điều này thì trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày có biến động, người sử dụng đất phải đăng ký biến động tại cơ quan có thẩm quyền; trường hợp thi hành án thì thời hạn đăng ký biến động được tính từ ngày bàn giao tài sản thi hành án, tài sản bán đấu giá; trường hợp thừa kế quyền sử dụng đất thì thời hạn đăng ký biến động được tính từ ngày phân chia xong quyền sử dụng đất là di sản thừa kế theo quy định của pháp luật về dân sự hoặc kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật."
- Tại Khoản 8 Điều 10 Nghị định số 252/2026/NĐ-CP ngày 30/6/2026 của Chính phủ quy định:
"Điều 10. Thời hạn nộp hồ sơ khai thuế
8. Thời hạn nộp hồ sơ khai thuế thu nhập cá nhân từ hoạt động chuyển nhượng, nhận thừa kế, quà tặng là bất động sản thực hiện như sau:
a) Trường hợp chuyển nhượng, nhận thừa kế, quà tặng là bất động sản đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất (bao gồm cả trường hợp hợp đồng chuyển nhượng có thỏa thuận bên mua là người nộp thay thuế cho bên bán, trường hợp bên thứ ba có liên quan được phép bán tài sản của cá nhân theo quy định của pháp luật, trường hợp ủy quyền mà người nhận ủy quyền có đầy đủ nội dung như quyền sở hữu đối với bất động sản theo quy định của pháp luật về dân sự) thì thời hạn nộp hồ sơ khai thuế chậm nhất là ngày cuối cùng của thời hạn phải đăng ký biến động tại cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về đất đai;
b) Trường hợp chuyển nhượng, nhận thừa kế, quà tặng là nhà hình thành trong tương lai, quyền sử dụng đất gắn với công trình xây dựng tương lai (bao gồm cả trường hợp hợp đồng chuyển nhượng có thỏa thuận bên mua là người nộp thay thuế cho bên bán, trường hợp bên thứ ba có liên quan được phép bán tài sản của cá nhân theo quy định của pháp luật, trường hợp ủy quyền mà người nhận ủy quyền có đầy đủ nội dung như quyền sở hữu đối với bất động sản theo quy định của pháp luật về dân sự) thì thời hạn nộp hồ sơ khai thuế chậm nhất là ngày thứ 10 kể từ ngày tiếp theo ngày hợp đồng chuyển nhượng hoặc giấy tờ pháp lý chứng minh quyền được nhận thừa kế, quà tặng có hiệu lực theo quy định của pháp luật. Trường hợp cá nhân góp vốn bằng bất động sản thì thời hạn nộp hồ sơ khai thuế chậm nhất là ngày thứ 10 kể từ ngày tiếp theo ngày chuyển nhượng vốn, rút vốn, giải thể doanh nghiệp."
Quy định về xử phạt vi phạm hành chính nếu chậm nộp hồ sơ khai thuế
Tại điểm b khoản 1 Điều 141, khoản 11 Điều 143 Luật Quản lý thuế năm 2019 quy định:
"Điều 141. Hành vi vi phạm thủ tục thuế
1. Hành vi vi phạm thủ tục thuế bao gồm:
...
b) Hành vi vi phạm về thời hạn nộp hồ sơ khai thuế trong khoảng thời gian 90 ngày kể từ ngày hết thời hạn nộp hồ sơ khai thuế hoặc ngày hết thời hạn gia hạn nộp hồ sơ khai thuế theo quy định của Luật này;
Điều 143. Hành vi trốn thuế
11. Người nộp thuế không bị xử phạt về hành vi trốn thuế mà bị xử phạt theo quy định tại khoản 1 Điều 141 của Luật này đối với trường hợp sau đây:
a) Không nộp hồ sơ đăng ký thuế, không nộp hồ sơ khai thuế, nộp hồ sơ khai thuế sau 90 ngày nhưng không phát sinh số tiền thuế phải nộp;
b) Nộp hồ sơ khai thuế sau 90 ngày có phát sinh số tiền thuế phải nộp và người nộp thuế đã nộp đủ số tiền thuế, tiền chậm nộp vào ngân sách nhà nước trước thời điểm cơ quan thuế công bố quyết định kiểm tra thuế, thanh tra thuế hoặc trước thời điểm cơ quan thuế lập biên bản về hành vi chậm nộp hồ sơ khai thuế."
Tại khoản 1, điểm l khoản 4 Điều 45 Luật Quản lý thuế năm 2025 quy định:
"Điều 45. Hành vi vi phạm trong lĩnh vực quản lý thuế
1. Hành vi vi phạm thủ tục thuế, hóa đơn, chứng từ điện tử.
4. Hành vi trốn thuế:
l) Người nộp thuế không bị xử phạt về hành vi trốn thuế mà bị xử phạt về hành vi vi phạm thủ tục thuế đối với trường hợp sau đây: không nộp hồ sơ đăng ký thuế; không nộp hồ sơ khai thuế; nộp hồ sơ khai thuế sau 90 ngày kể từ ngày hết thời hạn nộp hồ sơ khai thuế hoặc hết thời hạn gia hạn nộp hồ sơ khai thuế nhưng không phát sinh số tiền thuế phải nộp; nộp hồ sơ khai thuế sau 90 ngày kể từ ngày hết thời hạn nộp hồ sơ khai thuế hoặc hết thời hạn gia hạn nộp hồ sơ khai thuế có phát sinh số tiền thuế phải nộp và người nộp thuế đã nộp đủ số tiền thuế, tiền chậm nộp vào ngân sách nhà nước trước thời điểm cơ quan thuế công bố quyết định kiểm tra thuế hoặc trước thời điểm cơ quan thuế lập biên bản về hành vi chậm nộp hồ sơ khai thuế."
Tại Điều 13, Điều 17 Nghị định số 125/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ (sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 310/2025/NĐ-CP ngày 02/12/2025 của Chính phủ) quy định về xử phạt đối với hành vi vi phạm về thời hạn nộp hồ sơ khai thuế, trốn thuế.
Căn cứ các quy định nêu trên và nội dung phản ánh của độc giả, Cục Thuế trả lời độc giả như sau
Về thời hạn nộp hồ sơ khai thuế
i) Trước ngày 01/7/2026
Căn cứ hướng dẫn tại khoản 5 Điều 21 Thông tư số 92/2015/TT-BTC ngày 15/6/2015 của Bộ Tài chính; Căn cứ khoản 3 Điều 88 Thông tư số 80/2021/TT-BTC ngày 29/9/2021 của Bộ Tài chính, trường hợp hợp đồng chuyển nhượng bất động sản được xác lập trước ngày 01/7/2026, các bên có thỏa thuận bên mua nộp thuế thay bên bán nhưng đến ngày 01/7/2026 chưa thực hiện thủ tục đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng bất động sản, thì thời hạn nộp hồ sơ khai thuế chậm nhất là thời điểm thực hiện thủ tục đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng bất động sản.
ii) Kể từ ngày 01/7/2026
Tại khoản 3 Điều 133 Luật Đất đai quy định đối với trường hợp chuyển nhượng thuộc diện phải đăng ký biến động thì người sử dụng đất phải đăng ký trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày có biến động.
Tại khoản 8 Điều 10 Nghị định số 252/2026/NĐ-CP quy định thời hạn nộp hồ sơ khai thuế TNCN đối với chuyển nhượng bất động sản đã được cấp Giấy chứng nhận chậm nhất là ngày cuối cùng của thời hạn phải đăng ký biến động tại cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về đất đai.
Tại Điều 75 Nghị định 252/2026/NĐ-CP có quy định chuyển tiếp nhưng chỉ xử lý trường hợp liên quan đến phục hồi khoản tiền thuế nợ đã được xóa, không có quy định riêng đối với thời hạn khai thuế TNCN của giao dịch bất động sản xác lập trước 01/7/2026.
Tại Điều 100 Thông tư 89/2026/TT-BTC quy định về mẫu biểu của hồ sơ có kỳ tính thuế trước 01/7/2026; quyết định, thông báo đã ban hành; và xử lý khoản nộp thừa (không có quy định đối với trường hợp như kiến nghị của độc giả Nguyễn Thị Thanh Huyền).
Như vậy, nếu thời hạn nộp hồ sơ khai thuế TNCN đối với giao dịch chuyển nhượng bất động sản được ký phát sinh trước ngày 01/7/2026 có thỏa thuận bên mua nộp thay bên bán nhưng thủ tục đăng ký biến động được thực hiện sau ngày 01/7/2026 thì thực hiện áp dụng theo quy định tại khoản 8 Điều 10 Nghị định số 252/2026/NĐ-CP ngày 30/6/2026 của Chính phủ.
Về xử phạt vi phạm hành chính
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 141, khoản 11 Điều 143 Luật Quản lý thuế năm 2019; Căn cứ khoản 1, điểm l khoản 4 Điều 45 Luật Quản lý thuế năm 2025; Căn cứ Điều 13, Điều 17 Nghị định số 125/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ (sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 310/2025/NĐ-CP ngày 02/12/2025 của Chính phủ), trường hợp người nộp thuế có hành vi vi phạm về thời hạn nộp hồ sơ khai thuế thì xử phạt vi phạm hành chính về thời hạn nộp hồ sơ khai thuế như sau:
Trường hợp người nộp thuế nộp hồ sơ khai thuế từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản chậm so với thời hạn quy định thì người nộp thuế sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính về thủ tục thuế (chậm nộp hồ sơ khai thuế) theo quy định tại Điều 13 Nghị định số 125/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ.
Xem tiếp tại đường Link =>
https://share.google/UjCGEfT5qu9LAAIuL
"Việc cải tạo, cơi nới công trình phải tuân thủ quy hoạch và được cơ quan có thẩm quyền cho phép. Không phải cứ bỏ tiền mua nhà là chủ sở hữu có toàn quyền thay đổi công trình theo ý mình muốn, cải tạo, cơi nới thế nào cũng được".
Đó là góc nhìn của Kiến trúc sư Trần Ngọc Chính, nguyên Thứ trưởng Bộ Xây dựng, Chủ tịch Hội Quy hoạch Phát triển Đô thị Việt Nam, khi trao đổi với phóng viên Dân trí về "nạn" cơi nới biệt thự, nhà liền kề tại một số khu đô thị ở Hà Nội.
Nhà của mình nhưng không có nghĩa muốn cải tạo thế nào cũng được
Chủ tịch Hội Quy hoạch Phát triển Đô thị Việt Nam cho rằng biệt thự, nhà liền kề trong các khu đô thị được thiết kế đồng bộ về kiến trúc, chiều cao, mật độ xây dựng và khoảng lùi. Những khoảng không gian ngoài trời, sân vườn hay phần lưu không giữa các công trình đều nằm trong ý đồ quy hoạch chung, chứ không phải diện tích mà gia chủ có thể tùy ý thay đổi sau khi nhận nhà.
"Không gian sân vườn, khoảng lưu không của các căn biệt thự, nhà liền kề chính là không gian của khu đô thị, được thiết kế trong một tổng thể thống nhất của cả khu vực, cả dãy phố. Không thể có chuyện mua nhà xong, mỗi người muốn xây thế nào, cải tạo thế nào cũng được", ông nói.
Ông Chính nhấn mạnh, giá trị của một khu đô thị không chỉ nằm ở từng căn nhà mà còn ở sự hài hòa giữa các công trình, cây xanh, công viên... Những khoảng không gian ấy tạo sự thông thoáng, kết nối nhà ở với đường phố, duy trì sự gắn kết hàng xóm.
"Mỗi gia chủ tự ý cơi nới, thiết kế riêng một mình một kiểu thì còn gì là tính cộng đồng nữa?", ông đặt vấn đề.
Nhìn vào tình trạng cơi nới, lấn chiếm không gian chung tại một số khu đô thị hiện nay, kiến trúc sư Trần Ngọc Chính cho rằng bất kỳ người nào có hiểu biết về đô thị cũng nhận thấy ở đó vi phạm nghiêm trọng các quy định về mật độ xây dựng.
Đồng quan điểm, Kiến trúc sư Phạm Thanh Tùng, Chánh văn phòng Hội Kiến trúc sư Việt Nam, cho rằng khoảng không trong các khu đô thị không phải phần diện tích được để lại một cách tùy tiện mà đều có mục đích trong thiết kế và quy hoạch, gắn với công năng cụ thể.
Theo ông, với biệt thự độc lập, biệt thự liền kề, các khoảng lùi, khoảng cách giữa công trình và không gian xung quanh đều được tính toán từ đầu. Chẳng hạn, biệt thự độc lập có thể có diện tích phổ biến 180-200m2, có quy định cụ thể về mật độ xây dựng. Với biệt thự liền kề, khoảng cách giữa các dãy nhà cũng được xác định cụ thể trong thiết kế.
Những khoảng không gian này nhằm bảo đảm độ thông thoáng, đáp ứng yêu cầu về hạ tầng kỹ thuật, phòng cháy chữa cháy và tạo sự hài hòa trong tổng thể kiến trúc. Vì vậy, chủ nhà không thể tự ý thay đổi theo ý muốn riêng.
"Việc cải tạo, cơi nới công trình phải tuân thủ quy hoạch và được cơ quan có thẩm quyền cho phép, không được cấp phép xây dựng mà vẫn thực hiện đó là vi phạm. Không phải cứ bỏ tiền mua nhà là chủ sở hữu có toàn quyền thay đổi công trình theo ý mình muốn, cải tạo, cơi nới thế nào cũng được.
Việc tự ý lấn chiếm, xây bịt các khoảng không gian đã được quy hoạch là không được phép", chuyên gia nhấn mạnh.
Cả khu đô thị phải trả giá...
Các chuyên gia bày tỏ lo ngại và chỉ ra rằng khi những hoạt động cải tạo, cơi nới diễn ra công khai trong nhiều ngày nhưng không được kiểm tra, ngăn chặn và xử lý kịp thời sẽ dẫn tới nhiều hệ lụy không thể lường trước.
Theo Chủ tịch Hội Quy hoạch Phát triển Đô thị Việt Nam Trần Ngọc Chính, việc tự ý cơi nới, thay đổi công trình cho thấy sự coi nhẹ các quy định quản lý đô thị. Theo chuyên gia, mỗi khu đô thị đều có diện mạo riêng, nếu phá vỡ cục bộ những khu nhỏ lẻ sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ diện mạo của cả khu đô thị.
Hệ lụy không chỉ nằm ở việc phá vỡ cảnh quan kiến trúc. Khi một gia đình tự ý cơi nới, chiếm dụng khoảng sân vườn để mở rộng mặt bằng kinh doanh, họ đang biến không gian vốn được quy hoạch trong tổng thể khu đô thị thành lợi thế riêng. Trong khi đó, những hộ khác vẫn phải tuân thủ thiết kế và các quy định chung. Sự thiếu đồng nhất này không chỉ tạo ra bất bình đẳng trong sử dụng không gian mà còn khiến việc quản lý hoạt động kinh doanh, giữ gìn trật tự xã hội tại khu đô thị thêm phức tạp.
Đặc biệt, việc tự ý thay đổi kiến trúc, bịt kín các khoảng không gian có thể gây khó khăn cho công tác quản lý, phòng cháy chữa cháy và bảo vệ môi trường. Khi các công trình bị cơi nới, thay đổi kết cấu, không gian thông thoáng bị thu hẹp, việc kiểm soát những nguy cơ như chập điện hay tổ chức ứng phó khi xảy ra sự cố cũng trở nên khó khăn hơn.
Bổ sung thêm, Chánh văn phòng Hội Kiến trúc sư Việt Nam Phạm Thanh Tùng cho rằng, việc tự ý cải tạo, sửa chữa sai thiết kế không chỉ làm thay đổi hình thái từng công trình mà còn phá vỡ kiến trúc tổng thể, khiến cảnh quan khu đô thị mất đi sự đồng bộ vốn có.
Theo ông, một khu đô thị được quy hoạch thống nhất có thể trở nên nhếch nhác khi mỗi hộ tự ý thay đổi theo nhu cầu riêng. Có gia đình xây dựng lại cổng ra vào theo kiểu lâu đài, trong khi không ít hộ lợp mái tôn, tận dụng khoảng lưu không giữa các căn biệt thự làm nơi kinh doanh hoặc kho chứa hàng.
Đáng lo ngại hơn, việc lấn chiếm không gian còn có thể gây ảnh hưởng đến hạ tầng kỹ thuật và cản trở công tác phòng cháy chữa cháy, cứu nạn cứu hộ khi xảy ra sự cố.
Kiến trúc sư Phạm Thanh Tùng cũng chỉ ra một hệ lụy khác ít được chú ý đó là tác động đến ý thức chấp hành pháp luật của cộng đồng. Khi một hộ tự ý cơi nới mà không bị kiểm tra, xử lý, những hộ khác có thể nảy sinh tâm lý "nhà họ làm mình cũng làm". Tình trạng này kéo dài sẽ hình thành thói quen tùy tiện, coi nhẹ các quy định chung.
Theo ông, tại Hà Nội, tình trạng tự ý thay đổi kiến trúc công trình đã tồn tại trong thời gian dài ở nhiều khu đô thị, kể cả tại các khu chung cư cũng cơi nới thành "chuồng cọp".
Theo chuyên gia, nếu mỗi hộ tự ý thay đổi công trình theo một kiểu, khu đô thị sẽ trở nên hỗn độn, thiếu đồng bộ, thậm chí ảnh hưởng đến giao thông và cảnh quan chung. Tình trạng một gia đình tự ý lấn chiếm khoảng không trước nhà cũng có thể khiến các hộ liền kề nảy sinh tâm lý so bì, mâu thuẫn, dẫn đến tranh chấp, khiếu kiện.
Xa hơn, việc tùy tiện sử dụng không gian chung còn hình thành thói quen coi nhẹ lợi ích cộng đồng, làm suy giảm sự tôn trọng giữa những người cùng sinh sống trong khu đô thị.
"Một khu đô thị đáng sống không chỉ nằm ở những ngôi nhà đẹp mà còn ở việc mỗi người dân được tôn trọng và cùng có trách nhiệm giữ gìn không gian chung. Cơi nới tùy tiện có thể biến nơi vốn được quy hoạch để trở thành môi trường sống văn minh thành một khu vực nhếch nhác, lộn xộn", ông Tùng nói.
Đơn giản hóa thủ tục không có nghĩa buông lỏng quản lý
Do đó, theo chuyên gia, chủ đầu tư và chính quyền địa phương cần tăng cường kiểm tra, giám sát, kịp thời phát hiện và xử lý tình trạng tự ý cơi nới, lấn chiếm không gian chung. Nếu không kiểm soát, những khu đô thị vốn được quy hoạch đồng bộ, hiện đại, là nơi đáng sống sẽ trở nên nhếch nhác.
Các khu đô thị do chủ đầu tư quản lý có tình trạng thỏa thuận để chủ nhà cơi nới, phá vỡ quy hoạch. Đây là lỗi của chủ đầu tư và cũng là tồn tại trong quản lý cấp phép đầu tư xây dựng. Tuy nhiên, theo chuyên gia Trần Ngọc Chính, không thể bỏ qua trách nhiệm của lực lượng thanh tra xây dựng, chính quyền địa phương vì hoạt động cơi nới nhà biệt thự, nhà liền kề diễn ra trên địa bàn.
"Những người tham gia quản lý khu đô thị và chính quyền địa phương phải có trách nhiệm trong việc kiểm tra, giám sát và ngăn chặn tình trạng tự ý cải tạo, cơi nới không đúng quy hoạch.
Chính quyền, ban quản lý các khu đô thị phải làm người dân hiểu rằng việc muốn cải tạo, thay đổi công trình phải tuân thủ các quy định, không thể thích làm gì thì làm. Quy hoạch được lập ra để tạo nên một tổng thể hài hòa, có mật độ xây dựng, cây xanh và không gian chung hợp lý. Nếu mỗi người đều tự ý thay đổi theo ý mình thì quy hoạch còn ý nghĩa gì nữa", ông Chính nói.
Cùng quan điểm, kiến trúc sư Phạm Thanh Tùng cho rằng, trách nhiệm ngăn chặn tình trạng tự ý cơi nới, lấn chiếm không gian chung không chỉ thuộc về chính quyền địa phương mà còn đặt ra đối với chủ đầu tư và đơn vị quản lý khu đô thị.
Chủ đầu tư, ban quản lý cần thực hiện trách nhiệm giám sát, kịp thời phát hiện những thay đổi không phù hợp với thiết kế và quy hoạch. Trong khi đó, chính quyền địa phương phải tăng cường kiểm tra, hậu kiểm và xử lý vi phạm theo thẩm quyền.
Ông Tùng lưu ý, trong bối cảnh cải cách thủ tục hành chính, việc giảm bớt các loại giấy phép không đồng nghĩa với việc giảm trách nhiệm quản lý nhà nước.
"Không nên gây phiền hà cho người dân bằng những thủ tục không cần thiết, nhưng bỏ bớt các loại giấy phép không có nghĩa là bỏ luật. Những nội dung đã được quy định trong quy hoạch, thiết kế thì vẫn phải được thực hiện nghiêm túc", ông nói.
Theo chuyên gia, việc xem xét cho phép cải tạo công trình cần được thực hiện thận trọng, căn cứ vào quy hoạch, thiết kế được duyệt, các quy định quản lý kiến trúc và điều kiện pháp luật có liên quan. Không thể tùy tiện chấp thuận việc cơi nới, xây dựng thêm khi chưa làm rõ căn cứ và sự phù hợp với quy hoạch.
Về giải pháp, kiến trúc sư Phạm Thanh Tùng cho rằng quản lý đô thị cần linh hoạt, đáp ứng nhu cầu kinh doanh chính đáng của người dân nhưng vẫn phải bảo đảm tuân thủ quy hoạch và giữ gìn kiến trúc tổng thể.
Xem tiếp tại đường Link =>
https://share.google/8dGYniSAADFOVlRB5
Cục Quản lý đất đai trả lời kiến nghị của công dân về những vướng mắc trong quy định hòa giải tranh chấp đất đai tại UBND cấp xã.
Cục Quản lý đất đai được Bộ Nông nghiệp và Môi trường giao nhiệm vụ nghiên cứu, trả lời phản ánh, kiến nghị của công dân trên Hệ thống thông tin của Bộ Tư pháp.
Theo nội dung phản ánh, công dân cho rằng, quy định hiện hành về hòa giải tranh chấp đất đai tại UBND cấp xã đang phát sinh một số bất cập, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất.
Cụ thể, có trường hợp người yêu cầu gửi đơn đến UBND cấp xã đề nghị hòa giải tranh chấp đất đai. Sau khi thụ lý và mời các bên tham gia, UBND xã ghi nhận người yêu cầu vắng mặt không có lý do. UBND xã tiếp tục mời lần thứ hai nhưng người yêu cầu vẫn vắng mặt.
Trong trường hợp này, UBND xã lập biên bản hòa giải không thành và xác định thửa đất đang có tranh chấp. Tuy nhiên, sau đó, người yêu cầu không khởi kiện hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai.
Khi người đang sử dụng đất thực hiện các thủ tục hành chính liên quan đến thửa đất, UBND xã từ chối giải quyết với lý do “đất đang có tranh chấp”. Theo công dân, điều này tạo điều kiện cho việc lợi dụng thủ tục hòa giải nhằm cản trở quyền hợp pháp của người sử dụng đất.
Từ những bất cập nêu trên, công dân đề xuất hoàn thiện quy định về hòa giải tranh chấp đất đai theo hướng quy định rõ các trường hợp đình chỉ giải quyết yêu cầu hòa giải, bao gồm: Người yêu cầu không tham gia hòa giải (vắng mặt lần thứ hai không có lý do chính đáng); Người yêu cầu không cung cấp được văn bản thụ lý giải quyết tranh chấp của Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày lập biên bản hòa giải không thành; Nội dung yêu cầu hòa giải đã từng được hòa giải không thành; Người yêu cầu đã tham gia hòa giải với tư cách khác đối với cùng nội dung tranh chấp nhưng không thành.
Sau khi có quyết định đình chỉ giải quyết yêu cầu hòa giải, UBND cấp xã thông báo cho cơ quan đăng ký đất đai. Cơ quan đăng ký đất đai tiếp nhận và thực hiện các thủ tục hành chính đối với thửa đất theo quy định, không bị cản trở bởi lý do “đang có tranh chấp” xuất phát từ yêu cầu hòa giải đã bị đình chỉ.
Theo công dân, các đề xuất trên nhằm ngăn chặn việc lợi dụng thủ tục hòa giải, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người đang sử dụng đất, đồng thời nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp đất đai.
Xem tiếp tại đường Link =>
https://share.google/LMXOxaHof1vEQSxyw
Các đại biểu Quốc hội đề xuất giải pháp ngăn chặn thông đồng, dìm giá trong đấu giá tài sản tại phiên thảo luận Luật Đấu giá tài sản (sửa đổi).
Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI, thảo luận về Luật Đấu giá tài sản (sửa đổi), ĐBQH đề xuất các giải pháp nhằm ngăn chặn hành vi thông đồng, dìm giá trong đấu giá tài sản.
Đấu giá tài sản phải phản ánh đúng giá trị thực của tài sản
Góp ý dự thảo Luật Đấu giá tài sản (sửa đổi), đại biểu Nguyễn Văn Huy – Đoàn ĐBQH tỉnh Hưng Yên nhấn mạnh, đấu giá tài sản không chỉ đòi hỏi đúng trình tự thủ tục mà quan trọng hơn phải bảo đảm kết quả đấu giá phản ánh đúng giá trị thực của tài sản. Bởi một cuộc đấu giá chỉ thực sự minh bạch và hiệu quả khi giá trúng đấu giá được hình thành từ sự cạnh tranh thực chất chứ không phải từ sự thỏa thuận thâu túng giữa những người tham gia.
Do đó, đại biểu cho rằng việc hoàn thiện các quy định ngăn chặn hành vi thông đồng, dìm giá có ý nghĩa quyết định trong việc bảo đảm cạnh tranh lành mạnh, phòng ngừa thất thoát tài sản, bảo vệ lợi ích của nhà nước và xã hội, đồng thời củng cố niềm tin của nhân dân đối với hoạt động đấu giá.
Đề xuất giải pháp ngăn chặn hành vi thông đồng, dìm giá, đảm bảo minh bạch trong đấu giá tài sản
Từ quan điểm trên, đại biểu Nguyễn Văn Huy đề xuất ba nhóm giải pháp nhằm ngăn chặn hành vi thông đồng, dìm giá và bảo đảm tính minh bạch trong hoạt động đấu giá.
Cụ thể, cần quy định rõ trách nhiệm chủ động phát hiện, ngăn chặn hành vi vi phạm, thay vì chỉ dừng ở việc cấm thông đồng, dìm giá và xử lý khi vi phạm đã được xác định. Đại biểu cho biết, Điều 10 của dự thảo Luật nghiêm cấm hành vi thông đồng, móc nối để dìm giá, nâng giá, làm sai lệch kết quả đấu giá; điểm đ khoản 1 Điều 15 quy định đấu giá viên có quyền dừng phiên đấu giá khi phát hiện một số hành vi vi phạm. Tuy nhiên, đại biểu đề nghị bổ sung nghĩa vụ của đấu giá viên khi phát hiện dấu hiệu bất thường phải kịp thời lập biên bản, bảo toàn thông tin, tài liệu liên quan và báo cáo tổ chức hành nghề đấu giá hoặc chuyển cơ quan có thẩm quyền xử lý.
Bổ sung trách nhiệm tổ chức hành nghề đấu giá trong tiếp nhận, xử lý thông tin
Đồng thời, bổ sung trách nhiệm của tổ chức hành nghề đấu giá trong việc tiếp nhận, xử lý thông tin do đấu giá viên báo cáo và phối hợp với cơ quan có thẩm quyền xác minh dấu hiệu vi phạm. Theo đại biểu, quy định này sẽ xác lập rõ trách nhiệm từ người trực tiếp điều hành đến tổ chức chịu trách nhiệm về cuộc đấu giá.
Hoàn thiện cơ chế ghi nhận chứng cứ và nhận diện dấu hiệu bất thường
Giải pháp thứ hai được đại biểu đề xuất là cần hoàn thiện cơ chế ghi nhận chứng cứ và nhận diện dấu hiệu bất thường. Đại biểu cho rằng, các thỏa thuận thông đồng thường diễn ra trước phiên đấu giá hoặc ngoài phạm vi quan sát của đấu giá viên. Vì vậy, nếu chỉ căn cứ vào diễn biến trả giá tại phiên đấu giá có thể bỏ lọt vi phạm.
Đại biểu đề nghị bổ sung quy định tại Điều 28 dự thảo Luật hoặc giao Chính phủ quy định chi tiết việc xử lý dấu hiệu bất thường trong quy chế cuộc đấu giá. Trong đó, cần quy định việc ghi nhận diễn biến trả giá; lập biên bản khi phát hiện dấu hiệu thông đồng, móc nối, dìm giá, nâng giá; lưu giữ tài liệu liên quan và trình tự báo cáo, chuyển thông tin đến cơ quan có thẩm quyền.
Xem tiếp tại đường Link =>
https://share.google/reDMm3NXK0Fnr0UVF
Phát triển kinh tế tư nhân gắn với chấp hành pháp luật, xây dựng môi trường kinh doanh an toàn, lành mạnh và minh bạch là yêu cầu quan trọng được đặt ra trong quá trình triển khai Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân. Tuy nhiên, thực tiễn tại Hưng Yên cho thấy, hoạt động kinh doanh dịch vụ karaoke, lưu trú, xoa bóp vẫn tiềm ẩn nguy cơ bị lợi dụng để tổ chức mại dâm, khiêu dâm, kích dục trái pháp luật. Những vi phạm này không chỉ ảnh hưởng đến an ninh, trật tự mà còn khiến chủ cơ sở phải đối mặt với các chế tài nghiêm khắc, thậm chí trách nhiệm hình sự.
Thực trạng và nguy cơ bị lợi dụng hoạt động kinh doanh để vi phạm pháp luật
Trên địa bàn tỉnh Hưng Yên hiện có 261 cơ sở kinh doanh dịch vụ karaoke, 529 cơ sở kinh doanh dịch vụ lưu trú và 56 cơ sở kinh doanh dịch vụ xoa bóp thuộc diện quản lý về an ninh, trật tự. Đây là những loại hình dịch vụ đáp ứng nhu cầu giải trí, nghỉ ngơi, chăm sóc sức khỏe của người dân, góp phần tạo việc làm, thúc đẩy hoạt động thương mại, dịch vụ và phát triển kinh tế địa phương.
Tuy nhiên, bên cạnh các cơ sở chấp hành nghiêm quy định của pháp luật, vẫn còn những nguy cơ, sơ hở trong quá trình tổ chức hoạt động kinh doanh, nhất là công tác quản lý nhân viên, kiểm soát hoạt động cung cấp dịch vụ, quản lý khách hàng và duy trì các điều kiện bảo đảm an ninh, trật tự. Một số chủ cơ sở, người quản lý chưa thực hiện đầy đủ trách nhiệm kiểm tra, giám sát; cá biệt có trường hợp buông lỏng quản lý, thiếu trách nhiệm hoặc cố ý tạo điều kiện để nhân viên, khách hàng thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật ngay tại cơ sở.
Từ đầu năm 2026 đến nay, lực lượng chức năng Công an tỉnh Hưng Yên đã tiến hành kiểm tra 912 lượt cơ sở kinh doanh karaoke, lưu trú, xoa bóp; phát hiện, xử lý 8 vụ việc với 32 tổ chức, cá nhân vi phạm; trong đó, khởi tố 7 vụ án với 26 bị can liên quan đến các hành vi chứa mại dâm, môi giới mại dâm; xử phạt vi phạm hành chính 01 cơ sở, 01 người quản lý và 04 nhân viên về các hành vi liên quan đến mại dâm, khiêu dâm, kích dục trái pháp luật.
Thực tế cho thấy, các vi phạm chủ yếu xuất phát từ việc lợi dụng phòng hát, phòng nghỉ, phòng dịch vụ để tổ chức, chứa chấp mại dâm, môi giới mua bán dâm hoặc thực hiện các hoạt động khiêu dâm, kích dục trái pháp luật; đồng thời bộc lộ những hạn chế trong quản lý nhân viên, kiểm soát hoạt động kinh doanh và duy trì các điều kiện bảo đảm an ninh, trật tự. Đáng chú ý, việc buông lỏng quản lý, thiếu trách nhiệm hoặc cố ý dung túng, tạo điều kiện cho các hành vi vi phạm có thể khiến chủ cơ sở, người quản lý và các cá nhân liên quan phải chịu những hậu quả pháp lý nghiêm trọng. Vì vậy, việc nhận diện rõ hành vi vi phạm, trách nhiệm của từng chủ thể và các chế tài pháp luật tương ứng là yêu cầu cần thiết để các cơ sở kinh doanh chủ động phòng ngừa, chấn chỉnh những tồn tại và bảo đảm hoạt động đúng quy định.
Quy định của pháp luật và chế tài xử lý
Pháp luật nghiêm cấm các hành vi mại dâm, tổ chức hoạt động mại dâm và những hành vi vi phạm liên quan. Pháp lệnh Phòng, chống mại dâm số 10/2003/PL-UBTVQH11 quy định tại khoản 8 Điều 4 về hành vi bị nghiêm cấm là “lợi dụng kinh doanh dịch vụ để hoạt động mại dâm”; khoản 2 Điều 15 quy định “cơ sở kinh doanh vũ trường, karaoke, xoa bóp, tắm hơi và các cơ sở kinh doanh dịch vụ dễ bị lợi dụng để hoạt động mại dâm chỉ được hoạt động khi có đủ tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định của Chính phủ”. Bên cạnh đó, Điều 25 quy định “Xử lý đối với tổ chức, cá nhân lợi dụng kinh doanh dịch vụ để hoạt động mại dâm
1. Cơ sở kinh doanh dịch vụ lợi dụng hoạt động kinh doanh dịch vụ để hoạt động mại dâm thì bị phạt tiền và tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị tịch thu tang vật, phương tiện có liên quan trực tiếp đến hoạt động mại dâm, tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề.
2. Người đứng đầu cơ sở kinh doanh dịch vụ do thiếu tinh thần trách nhiệm để hoạt động mại dâm xảy ra ở cơ sở do mình quản lý thì bị xử phạt hành chính; trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự.”
Theo Điều 327 Bộ luật Hình sự, người phạm tội chứa mại dâm có thể bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm ở khung hình phạt cơ bản; tùy tính chất, mức độ và các tình tiết định khung, hình phạt có thể tăng lên đến 20 năm tù hoặc tù chung thân. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Theo Điều 328 Bộ luật Hình sự, người phạm tội môi giới mại dâm có thể bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm ở khung hình phạt cơ bản; trường hợp phạm tội thuộc các tình tiết định khung tăng nặng, hình phạt có thể lên đến 15 năm tù. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng
Đối với hành vi chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, tổ chức, cá nhân vi phạm vẫn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo Nghị định số 282/2025/NĐ-CP ngày 30/10/2025 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng, chống bạo lực gia đình (được sửa đổi bổ sung Nghị định 347/2026/NĐ-CP ngày 08/9/2026) và các quy định hiện hành có liên quan; cụ thể:
“Điều 35. Hành vi sử dụng việc mua dâm, bán dâm và các hoạt động tình dục khác làm phương thức kinh doanh hoặc hành vi thiếu trách nhiệm để xảy ra hoạt động mua dâm, bán dâm, khiêu dâm, kích dục ở cơ sở kinh doanh, dịch vụ
1. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với người đứng đầu, người đại diện theo pháp luật, người được giao quản lý cơ sở kinh doanh, dịch vụ thiếu trách nhiệm trong thực hiện quy định quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh để xảy ra hoạt động mua dâm, bán dâm, khiêu dâm, kích dục ở cơ sở do mình quản lý.
2. Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với hành vi sử dụng việc mua dâm, bán dâm và các hoạt động tình dục khác làm phương thức kinh doanh.
3. Hình thức xử phạt bổ sung:
a) Tước quyền sử dụng Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự từ 03 tháng đến 06 tháng đối với hành vi vi phạm quy định tại các khoản 1 và 2 Điều này, trừ trường hợp có quy định pháp luật về việc thu hồi Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự;
b) Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm, đối tượng vi phạm và tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng để quyết định áp dụng hình thức xử phạt trục xuất đối với người nước ngoài thực hiện hành vi vi phạm hành chính quy định tại các khoản 1 và 2 Điều này.
4. Biện pháp khắc phục hậu quả:
Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 Điều này.”
Chủ động phòng ngừa, bảo đảm kinh doanh đúng pháp luật
Đối với các cơ sở kinh doanh karaoke, lưu trú, xoa bóp, việc tuân thủ pháp luật về an ninh, trật tự và phòng, chống tệ nạn xã hội không chỉ là nghĩa vụ bắt buộc mà còn là điều kiện để duy trì hoạt động ổn định, bảo vệ uy tín và lợi ích lâu dài của chính cơ sở. Để chủ động phòng ngừa vi phạm, Công an tỉnh Hưng Yên khuyến cáo các doanh nghiệp, hộ kinh doanh và người trực tiếp quản lý cơ sở thực hiện nghiêm một số nội dung sau:
Thứ nhất, rà soát đầy đủ điều kiện kinh doanh và hồ sơ pháp lý. Chủ cơ sở cần kiểm tra giấy tờ, điều kiện kinh doanh, việc lập và cập nhật sổ sách quản lý theo quy định; duy trì các điều kiện về an ninh, trật tự và thực hiện đúng nội dung hoạt động đã đăng ký. Khi có thay đổi về người chịu trách nhiệm, nhân viên hoặc phương thức tổ chức hoạt động, cần thực hiện các nghĩa vụ pháp lý tương ứng.
Thứ hai, nâng cao trách nhiệm quản lý nhân viên và kiểm soát hoạt động cung cấp dịch vụ. Xây dựng quy trình quản lý rõ ràng; phổ biến cho nhân viên các quy định pháp luật có liên quan; thường xuyên kiểm tra việc sử dụng phòng hát, phòng nghỉ, phòng dịch vụ và các khu vực kinh doanh. Tuyệt đối không tuyển dụng, sử dụng hoặc tạo điều kiện cho nhân viên thực hiện hành vi môi giới mại dâm, khiêu dâm, kích dục trái pháp luật; không thu tiền, hưởng lợi từ hoạt động vi phạm.
Thứ ba, chủ động phát hiện và xử lý dấu hiệu bất thường. Khi phát hiện khách hàng hoặc nhân viên có dấu hiệu tổ chức, môi giới, chứa mại dâm hoặc thực hiện hành vi vi phạm khác, người quản lý phải kịp thời ngăn chặn trong phạm vi trách nhiệm, thông báo cho cơ quan chức năng khi cần thiết; không được bao che, tiếp tay hoặc cản trở việc kiểm tra, xác minh, xử lý theo quy định.
Xem tiếp tại đường Link =>
https://share.google/LSWi4IJ5YcEsb450a
Nguồn: Soha; Dân Trí; Lao Động; Xây Dựng Chính Sách; Bộ Công An
Hưởng trợ cấp xã hội; Điều tra các giao dịch sau; Trường hợp cần đổi CCCD để tránh bị ngừng giao dịch; Người có SIM điện thoại chú ý; Số tiền USD được mang đi nước ngoài
Mua đất giấy viết tay phải trả lại; Chính sách mới có hiệu lực; Mất 800 triệu vì hợp đồng đặt cọc mua sẵn; Quy định lưu trữ dữ liệu; Đất lấn, chiếm Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận
Suýt làm dâu Việt và bài học cả đời về cách buông tay; Lại nói với con; Ngày thu vắng
Trợ cấp hưu trí xã hội; Điều tra giao dịch chuyển tiền; Các loại giấy tờ tích hợp trên VNeID; Điều chỉnh diện tích sổ đỏ; Chuyển đất ao sang đất ở
Thay đổi quy trình cấp thẻ BHYT; Tài khoản ngân hàng liên kết VNeID; Khách bay quốc tế từ Nội Bài chú ý; Sang tên sổ đỏ đất ở chuyển sang đất vườn; Người có đất chú ý
Quy định mới về đất; Người có thẻ Bảo hiểm y tế chú ý; Chặn đầu cơ bất động sản; Hồ sơ một đằng, căn hộ bán một nẻo; Điều tra các giao dịch chuyển và nhận tiền
Chuyển đất trồng cây lâu năm sang đất ở; Dùng máy tính, laptop chú ý; Người thân mất nợ ngân hàng, ai trả; Giảm tiền sử dụng chuyển sang đất ở; Dự thảo Luật Kinh doanh bất động sản
Tranh chấp đất từ thời vua Càn Long; Khóa tài khoản doanh nghiệp chưa xong dữ liệu hải quan; Quy định mới tạm trú; 3 kênh hỗ trợ doanh nghiệp giải thể; Hạn mức công nhận đất ở
Bình luận và đánh giá
Gửi nhận xét đánh giá