Chi tiết cách tính tiền lương hưu mới; Làm gì để tránh rắc rối thuế khi xuất cảnh; Chính sách thuế hỗ trợ doanh nghiệp vượt khó; 10 hành vi bị coi là trốn thuế

Tăng lương hưu từ 1.7.2026 và cách tính tiền chi tiết ra sao?

Bạn đọc hỏi: Cách tính lương hưu mới chi tiết để biết tăng 8% được bao nhiêu tiền và ai được nâng mức hưởng lên 3,8 triệu.

Từ ngày 1.7.2026, theo Nghị định 162/2026/NĐ-CP, mức lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội (BHXH) sẽ chính thức tăng thêm 8%. Vậy lương hưu tăng thế nào và người hưởng sẽ nhận được chính xác bao nhiêu tiền?

Văn phòng Tư vấn pháp luật báo Lao Động trả lời:

Chính phủ quyết định tăng 8% lương hưu

Ngày 15.5.2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 162/2026/NĐ-CP về việc điều chỉnh lương hưu, trợ cấp BHXH và trợ cấp hằng tháng. Theo đó, quyết định tăng thêm 8% trên mức lương hưu và trợ cấp của tháng 6.2026.

Thời điểm bắt đầu áp dụng chính thức là từ ngày 1.7.2026.

Công thức tính mức lương hưu mới

Nhiều người dân thắc mắc cách tính lương hưu mới ra sao để biết chính xác thu nhập hàng tháng của mình. Dựa trên quy định tăng thêm 8% trên mức hưởng của tháng 6.2026, công thức tính số tiền nhận về tay cực kỳ đơn giản như sau:

Mức lương hưu mới = Mức lương hưu tháng 6.2026 + (Mức lương hưu tháng 6.2026 x 8%)

Hoặc có thể nhân nhanh: Mức lương hưu mới = Mức lương hưu tháng 6.2026 x 1,08

Ví dụ cách tính cụ thể: Tăng 8% được bao nhiêu tiền?

Để giải đáp thắc mắc lương hưu tăng bao nhiêu tiền, dưới đây là các ví dụ quy đổi chi tiết áp dụng công thức trên:

Người hưởng 3 triệu

Nếu mức hưởng tháng 6.2026 của bạn là 3.000.000 đồng/tháng:

Số tiền được tăng thêm: 3.000.000 x 8% = 240.000 đồng.

Lương hưu nhận được từ tháng 7.2026: 3.000.000 + 240.000 = 3.240.000 đồng/tháng.

Người hưởng 5 triệu

Nếu mức hưởng tháng 6/2026 của bạn là 5.000.000 đồng/tháng:

Số tiền được tăng thêm: 5.000.000 x 8% = 400.000 đồng.

Lương hưu nhận được từ tháng 7.2026: 5.000.000 + 400.000 = 5.400.000 đồng/tháng.

Người hưởng 10 triệu

Nếu mức hưởng tháng 6/2026 của bạn là 10.000.000 đồng/tháng:

Số tiền được tăng thêm: 10.000.000 x 8% = 800.000 đồng.

Lương hưu nhận được từ tháng 7.2026: 10.000.000 + 800.000 = 10.800.000 đồng/tháng.

Trường hợp nào được nâng lên 3,8 triệu đồng?

Bên cạnh việc tăng 8% chung, Chính phủ đặc biệt quan tâm đến những người có mức hưởng thấp. Nghị định 162/2026/NĐ-CP quy định chính sách điều chỉnh lần 2 (nâng "đáy" lương hưu) dành cho nhóm đối tượng nghỉ hưởng lương hưu, trợ cấp trước ngày 1.1.1995.

Bảng tóm tắt: Nâng đáy lương hưu cho người nghỉ trước 1.1.1995 (Từ 1.7.2026)

Mức lương hưu (sau khi đã tăng 8%)

Mức điều chỉnh tăng thêm

Lương hưu thực nhận

≤ 3.500.000 đồng

+ 300.000 đồng/tháng

Tối đa 3.800.000 đồng

> 3.500.000 đồng đến

Tăng bù cho đủ 3.800.000 đồng

3.800.000 đồng

Cụ thể, sau khi đã được cộng thêm 8% mà mức lương hưu vẫn thấp hơn 3.800.000 đồng/tháng, người hưởng sẽ được điều chỉnh tăng thêm như sau:

Tăng thêm 300.000 đồng/người/tháng: Áp dụng cho những người có mức hưởng (sau khi tăng 8%) bằng hoặc thấp hơn 3.500.000 đồng/tháng.

Tăng lên bằng 3.800.000 đồng/người/tháng: Áp dụng cho những người có mức hưởng (sau khi tăng 8%) cao hơn 3.500.000 đồng nhưng thấp hơn 3.800.000 đồng.

Mức lương hưu mới này sẽ trở thành căn cứ gốc để tính toán cho những lần điều chỉnh tiếp theo trong tương lai.

Hỏi đáp nhanh về tăng lương hưu cho người già

Hỏi: Lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội sẽ chính thức tăng thêm bao nhiêu và từ ngày nào?

Đáp: Theo Nghị định 162/2026/NĐ-CP của Chính phủ, mức lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội sẽ được điều chỉnh tăng thêm 8% trên mức hưởng của tháng 6.2026. Thời điểm áp dụng chính thức việc tăng lương là từ ngày 1.7.2026.

Hỏi: Cách tính mức lương hưu mới sau khi tăng 8% chính xác nhất là gì? Đáp: Bạn có thể tính số tiền thực nhận bằng công thức:

Mức lương hưu mới = Mức lương hưu tháng 6/2026 + (Mức lương hưu tháng 6/2026 x 8%).

Ví dụ, nếu bạn đang hưởng 5.000.000 đồng/tháng, số tiền tăng thêm là 400.000 đồng, tổng lương hưu nhận được từ tháng 7.2026 sẽ là 5.400.000 đồng/tháng.

Hỏi: Những ai sẽ được ưu tiên nâng mức lương hưu lên 3,8 triệu đồng/tháng?

Đáp: Chính sách nâng "đáy" lương hưu này áp dụng riêng cho những người nghỉ hưởng lương hưu, trợ cấp trước ngày 01/01/1995. Sau khi đã được cộng thêm 8% mà mức lương hưu của nhóm này vẫn thấp hơn 3.800.000 đồng/tháng thì sẽ được điều chỉnh cộng thêm (từ 300.000 đồng hoặc cộng bù) để đạt tối đa mốc 3.800.000 đồng/tháng.

Làm gì để tránh rắc rối thuế khi xuất cảnh?

Trước đây mỗi khi chuẩn bị “xuất ngoại” đi công tác nước ngoài, nỗi quan tâm lớn nhất đối với nhiều người trong đó có tôi trước tiên là xin Visa (thị thực) và sau đó là làm sao đổi được ít ngoại tệ để mua chút quà biếu người thân ở nhà.

Giờ đây, khi thủ tục Visa đã đơn giản cùng với thẻ tín dụng quốc tế khiến việc đổi ngoại tệ gần như không quá cần thiết, vấn đề mới lại phát sinh và ảnh hưởng đến khá nhiều người chuẩn bị “xuất ngoại” là nguy cơ tạm hoãn xuất cảnh do nợ thuế.

Thực ra quy định về tạm hoãn xuất cảnh liên quan đến thuế không hề mới, trước đây đã có quy định tại Nghị định 126/2020/NĐ-CP, có hiệu lực thi hành từ ngày 5/12/2020. Nghị định 126 sau đó được sửa đổi bởi Nghị định 49/2025/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 28/2/2025.

Theo Điều 3, Nghị định 49, có 4 trường hợp tạm hoãn xuất cảnh liên quan đến thuế bao gồm:

Trường hợp 1: Cá nhân kinh doanh, chủ hộ kinh doanh bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế có số tiền thuế nợ từ 50 triệu đồng trở lên và số tiền thuế nợ đã quá thời hạn nộp theo quy định trên 120 ngày.

Trường hợp 2: Cá nhân là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế có số tiền thuế nợ từ 500 triệu đồng trở lên và số tiền thuế nợ đã quá thời hạn nộp theo quy định trên 120 ngày.

Trường hợp 3: Cá nhân kinh doanh, chủ hộ kinh doanh, cá nhân là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã không còn hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký có số tiền thuế nợ quá thời hạn nộp theo quy định và sau thời gian 30 ngày kể từ ngày cơ quan quản lý thuế thông báo về việc sẽ áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh mà chưa hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế.

Trường hợp 4: Người Việt Nam xuất cảnh để định cư ở nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài trước khi xuất cảnh từ Việt Nam có số tiền thuế nợ quá thời hạn nộp theo quy định mà chưa hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế.

Trước khi đi sâu phân tích, cần khẳng định rằng thuế là quyền lợi và nghĩa vụ của công dân và mọi người đều có trách nhiệm tuân thủ quy định. Theo quan sát thực tế cũng như tham khảo các ý kiến góp ý trên các diễn đàn, không có nhiều ý kiến băn khoăn, vướng mắc đối với hai trường hợp 1 và 2 kể trên vì quy định khá rõ ràng, ngưỡng tiền nợ thuế theo Nghị định 49 cũng hợp lý, thời gian đủ dài để người nộp thuế kịp xử lý trước khi xuất cảnh.

Ý kiến hiện nay chủ yếu được tập trung vào trường hợp 3, khi cá nhân là chủ hộ kinh doanh hay đại diện pháp luật của doanh nghiệp bị hoãn xuất cảnh khi vướng vào trạng thái không còn hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký và có số nợ thuế quá hạn chưa nộp, dù chỉ là vài đồng hay vài nghìn đồng.

Trước tiên, cần nhắc lại rằng doanh nghiệp, hộ kinh doanh, hợp tác xã nếu không hoạt động tại địa chỉ đăng ký (hay chúng tôi thường gọi tắt chung là “doanh nghiệp bỏ trốn”) họ đã bị phân loại thuộc nhóm các trường hợp có rủi ro cao về thuế.

Do vậy, khi các doanh nghiệp này có số tiền thuế quá hạn chưa được nộp trong vòng 30 ngày sau khi cơ quan quản lý thuế đã có thông báo thì việc áp dụng biện pháp cưỡng chế tạm hoãn xuất cảnh âu cũng là điều hợp lý, ít nhất là về mặt lý thuyết.

Vấn đề mà nhiều người nộp thuế gặp phải trong thực tế là doanh nghiệp đó thực ra vẫn hoạt động ở đúng địa chỉ theo đăng ký nhưng do mới thành lập hoặc có quy mô nhỏ nên họ không thường xuyên có mặt ở địa chỉ đó, dẫn đến rủi ro bị cơ quan chức năng kiểm tra ngẫu nhiên và bị xác định thuộc trường hợp không hoạt động tại địa chỉ đăng ký.

Khi những doanh nghiệp này thuê cá nhân bên ngoài sử dụng email cá nhân để làm thủ tục với cơ quan thuế, hoàn toàn có nguy cơ là các thông báo nợ thuế mà cơ quan thuế gửi vào hòm email cá nhân bị bỏ sót và không được xử lý kịp thời, dẫn đến tình trạng chủ hộ kinh doanh, đại diện doanh nghiệp bị cấm xuất cảnh nêu trên.

Theo thống kê của Bộ Tài chính, tại thời điểm tháng 3/2026, tổng số người nộp thuế (NNT) không hoạt động tại địa điểm đã đăng ký là 963.500 (325.500 doanh nghiệp và 638.000 hộ kinh doanh), trong đó 469.200 (38.200 doanh nghiệp và 458.000 hộ kinh doanh) có số nợ thuế dưới 1 triệu đồng, chiếm 51,5% tổng NNT thuộc trường hợp 3 nêu trên.

Trong dự thảo Nghị định sửa đổi Nghị định 126 và Nghị định 49, Bộ Tài chính đang đề xuất quy định thêm về ngưỡng nợ thuế để xác định tạm hoãn xuất cảnh với trường hợp 3 là 1 triệu đồng.

Dù sẽ có nhiều ý kiến liệu mức 1 triệu đồng này là phù hợp hay còn tương đối thấp, nhưng theo tôi, quy định ngưỡng nợ thuế cụ thể, nếu được thông qua, sẽ hạn chế được tương đối các tình huống “dở khóc dở cười”, đặc biệt trường hợp không cố ý nợ thuế với số tiền không đáng kể. Đồng nghĩa giảm thiểu được tình trạng công dân đến sân bay mới đọc thông báo và không kịp xuất cảnh một cách đáng tiếc.

Đối với trường hợp 4, mặc dù không có nhiều ý kiến trái chiều nhưng theo quan sát của tôi, cũng hết sức đáng lưu tâm, đặc biệt với trường hợp người nước ngoài thực hiện xuất cảnh khi kết thúc nhiệm kỳ làm việc ở Việt Nam.

Theo quy định, có hai mốc thời hạn mà cá nhân nước ngoài (đối tượng cư trú) phải khai quyết toán thuế với cơ quan thuế khi kết thúc nhiệm kỳ là: (i) trước khi xuất cảnh; và (ii) không quá 45 ngày kể từ ngày kết thúc hợp đồng làm việc tại Việt Nam.

Theo quan sát, người nước ngoài sẽ không tự quyết toán mà sẽ nhờ kế toán của chính công ty hoặc thuê bên ngoài thay mặt họ để thực hiện các thủ tục kê khai thuế, bao gồm cả thủ tục quyết toán thuế nêu trên. Thông thường, họ sẽ nhanh chóng thu xếp về nước luôn mà không đợi đến khi quyết toán thuế xong mới về.

Do việc quyết toán thuế cần thời gian để thu thập thông tin, tính toán chi tiết, chuẩn bị tờ khai và nộp tiền theo mã định danh khoản phải nộp (ID) nên kế toán công ty hoặc đơn vị thuê ngoài sẽ căn cứ vào thời hạn 45 ngày để hoàn thành công việc quyết toán thuế để làm sao không chịu phạt như phạt chậm nộp tờ khai, lãi chậm nộp thuế. Vì vậy, thời hạn quyết toán thuế trước khi xuất cảnh chỉ áp dụng cho mục đích xuất cảnh của chính người nước ngoài.

Điều này dẫn đến rủi ro người nước ngoài nếu đặt vé có ngày bay trước ngày quyết toán thuế nêu trên, họ rất dễ rơi vào trường hợp 4, và không thể xuất cảnh dù họ không cố ý và cũng không hề có lỗi trong việc quyết toán thuế.

Trên các diễn đàn, phần lớn các ý kiến đều cho rằng quy định hiện hành về việc tạm hoãn xuất cảnh khi số tiền nợ thuế thấp là chưa thực sự thấu tình đạt lý, đặc biệt trong bối cảnh nhiều cá nhân là doanh nhân cần đi công tác nước ngoài để mở rộng nguồn đối tác, ký kết hợp đồng, phát triển hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc các trường hợp cần đi gấp để chữa bệnh, thăm thân nhân v.v..

Lý do được đưa ra là ngoài biện pháp tạm hoãn xuất cảnh, hiện cũng đã có khá nhiều biện pháp cưỡng chế nợ thuế như trích tiền từ tài khoản, phong tỏa tài khoản của người nộp thuế; ngừng sử dụng hóa đơn; thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh v.v..

Việc không có quy định về ngưỡng nợ thuế trong trường hợp 4 cũng đáng được xem xét vì các công dân (gồm người Việt Nam định cư ở nước ngoài và cả người nước ngoài) nếu chẳng may bị lộ thông tin, rất dễ vướng rủi ro nợ thuế vào thời điểm họ không mong muốn nhất.

Cũng có ý kiến đề xuất cho phép được xử lý nộp thuế bằng cách nộp tiền ngay tại sân bay, tôi thấy hợp lý. Ý kiến này cùng với góp ý của các Bộ, Ban, ngành phần nào được tiếp thu và sửa đổi trong đề xuất của Bộ Tài chính về thời hạn cơ quan quản lý thuế ban hành thông báo hủy bỏ tạm hoãn xuất cảnh khi người nộp thuế hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế ngay trong ngày (so với chậm nhất không quá 24h tại Nghị định 49). Trong thời đại ngân hàng số, khi giao dịch nộp thuế có thể được thực hiện trong vài phút thì đây là sửa đổi tích cực, nếu được triển khai đồng bộ sẽ giúp công dân nộp thuế ngay để vẫn còn cơ hội xuất cảnh kịp thời.

Ngoài ra, theo tôi nếu có thêm cơ chế cho phép tạm nộp thuế vào tài khoản bảo lãnh xuất cảnh với số tiền bằng số tiền thuế nợ, đây có lẽ là “hành động cởi trói” được mong chờ nhất cho nhiều bà con Việt kiều hay các doanh nhân thường xuyên phải đi công tác nước ngoài.

Tôi rất tâm đắc với ý kiến chỉ đạo gần đây của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc chuyển đổi mô hình từ quản lý nợ thuế sang quản trị nguồn thu. Dù quy định nào cũng cần sự hài hòa cân đối giữa sự thuận tiện cho đối tượng áp dụng trong khi vẫn đảm bảo nghiêm minh. Tất nhiên nếu quy định được ban hành với tâm thế quản trị và nuôi dưỡng nguồn thu, thì sẽ lược bớt được đáng kể các biện pháp cưỡng chế, giảm phiền hà không đáng có từ khoản nợ thuế lắt nhắt và nhất là cởi trói được rắc rối thuế khi xuất cảnh.

Trước mắt, khi Nghị định sửa đổi về quản lý thuế chưa được chính thức ban hành, công dân trước khi xuất cảnh cần tích cực kiểm tra về tình hình nợ thuế của doanh nghiệp, hộ kinh doanh mà cá nhân đại diện và tình hình nợ thuế của chính công dân đó thông qua các kênh khác nhau, như địa chỉ email nhận thông báo của cơ quan thuế, VNeID, trang dịch vụ công của cơ quan thuế hay trang thông tin điện tử của cơ quan xuất nhập cảnh.

Như một lời mà tôi thường chào bạn bè, đồng nghiệp mỗi khi họ xuất ngoại (“Have a good trip! – Chúc chuyến đi tốt lành!”), hy vọng rằng mọi người đều có một chuyến đi xuất ngoại bình an trong thời gian sớm nhất!

Chính sách thuế hỗ trợ doanh nghiệp vượt khó, thúc đẩy tăng trưởng

Các chuyên gia và doanh nghiệp cho rằng, việc sửa đổi, bổ sung 4 Luật thuế vừa được Quốc hội thông qua, cùng với chính sách nâng ngưỡng chịu thuế cho doanh nghiệp nhỏ, hộ kinh doanh lên 1 tỷ đồng sẽ góp phần hỗ trợ doanh nghiệp, hộ kinh doanh có thêm nguồn lực để vượt khó và phát triển, từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

“Bệ đỡ” quan trọng giúp phục hồi và phát triển sản xuất, kinh doanh

Theo Bộ Tài chính, giai đoạn 2021 - 2025, tỷ lệ huy động ngân sách nhà nước 5 năm đạt khoảng 18,8% GDP, trong khi thực hiện các chính sách gia hạn, giảm thuế, phí… khoảng 1,1 triệu tỷ đồng để đồng hành, hỗ trợ người dân, doanh nghiệp trong giai đoạn dịch bệnh và phục hồi sản xuất kinh doanh, tăng trưởng sau đại dịch.

Đặc biệt, các chính sách thuế mới áp dụng trong năm 2025 và 2026, được cộng đồng doanh nghiệp đánh giá cao, là “bệ đỡ” quan trọng, giúp phục hồi và phát triển sản xuất, kinh doanh thông qua việc giảm chi phí bằng việc tiếp tục giảm thuế và cắt giảm thủ tục hành chính.

Đánh giá về các chính sách trên, TS. Nguyễn Đình Chiến - Phó Trưởng khoa Thuế và Hải quan (Học viện Tài chính) cho rằng, các chính sách miễn, giảm, gia hạn thuế thời gian qua không chỉ là biện pháp hỗ trợ tài chính đơn thuần, mà là một cơ chế can thiệp kép tác động đồng thời vào cả phía cung và phía cầu của nền kinh tế.

Về phía cung, tức là bản thân các doanh nghiệp, chính sách gia hạn thời hạn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng và tiền thuê đất đã trực tiếp giải quyết điểm nghẽn lớn nhất là thanh khoản. Việc được gia hạn nộp tiền thuế đồng nghĩa với việc doanh nghiệp được tiếp cận một nguồn vốn lưu động chi phí bằng không, giúp họ có dòng tiền thực để duy trì đội ngũ nhân sự và thanh toán cho đối tác nhằm giữ vững chuỗi cung ứng.

Về phía cầu, chính sách giảm thuế suất thuế giá trị gia tăng từ 10% xuống 8% trên diện rộng đã tạo ra tác động lan tỏa lập tức đến thị trường tiêu dùng. Việc giảm thuế trực tiếp vào giá giúp hạ giá bán lẻ, kích thích sức mua. Khi tiêu dùng phục hồi, doanh nghiệp giải phóng được hàng tồn kho, tạo ra dòng tiền mới tái cấp vốn cho sản xuất.

Theo TS. Nguyễn Đình Chiến, các chính sách thuế chính thức có hiệu lực từ đầu năm 2026 đánh dấu sự thay đổi thực sự trong tư duy lập pháp: đi từ tháo gỡ khó khăn ngắn hạn sang giải quyết những khiếm khuyết mang tính cấu trúc của khu vực kinh tế tư nhân.

Điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là khu vực kinh tế tư nhân chủ yếu là doanh nghiệp siêu nhỏ và hộ kinh doanh, có rất ít doanh nghiệp quy mô vừa. Các chính sách mới đang giải quyết trực tiếp bài toán này với những tác động rất cụ thể. Trong đó, việc áp dụng mức thuế suất thu nhập doanh nghiệp 15% và 17% (thay vì áp dụng chung mức 20%) sẽ trực tiếp để lại một phần lợi nhuận cho các doanh nghiệp quy mô siêu nhỏ và nhỏ. Đồng thời, Chính phủ vừa ban hành nghị định nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế 1 tỷ đồng đối với doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh giúp các doanh nghiệp, hộ kinh doanh có thêm vốn mở rộng quy mô, phát triển sản xuất kinh doanh.

Tiếp tục đồng hành, hỗ trợ doanh nghiệp, hộ kinh doanh

Còn theo TS. Mạc Quốc Anh - Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Hà Nội, đây là một bước điều chỉnh chính sách rất quan trọng với điểm đáng chú ý là trao thẩm quyền cho Chính phủ quy định mức doanh thu năm để xác định đối tượng không phải nộp thuế. Với các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ, hộ kinh doanh chuyển đổi lên doanh nghiệp, chi phí tuân thủ thuế đôi khi là gánh nặng lớn hơn cả số thuế phải nộp. Nếu ngưỡng doanh thu miễn thuế được điều chỉnh phù hợp với thực tiễn, doanh nghiệp sẽ có thêm nguồn vốn, duy trì dòng tiền, đầu tư máy móc, trả lương, đào tạo lao động và từng bước chính thức hóa hoạt động kinh doanh.

TS. Mạc Quốc Anh cho rằng, chính sách này giúp giảm áp lực chi phí và cải thiện dòng tiền cho khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa, khuyến khích hộ kinh doanh tính đến lộ trình chuyển đổi lên mô hình doanh nghiệp. Đây là cách mở rộng cơ sở thuế, không tận thu khi doanh nghiệp còn nhỏ, mà nuôi dưỡng để doanh nghiệp lớn lên và đóng góp nhiều hơn.

Bên cạnh đó, việc sửa cùng lúc 4 luật thuế mới đây, cùng các chính sách giảm thuế xăng dầu để hỗ trợ giá, cũng được nhìn nhận có tác động tích cực với hoạt động sản xuất kinh doanh. Đây là nhóm chính sách có tác động trực tiếp, nhanh và lan tỏa rộng đến toàn bộ nền kinh tế. Theo đó, việc miễn giảm các loại thuế này không chỉ làm giảm giá trực tiếp, giảm chi phí logistics, mà còn góp phần hạ kỳ vọng tăng giá trong toàn bộ chuỗi cung ứng, kiểm soát áp lực lạm phát và tăng niềm tin cho cộng đồng doanh nghiệp.

Dưới góc độ doanh nghiệp, ông Nguyễn Hữu Hưng - Giám đốc Công ty TNHH Hưng Phát (Hà Nội) cho hay, là doanh nghiệp chuyên sản xuất đồ nội thất, mấy năm gần đây, các chính sách gia hạn, giảm thuế của Nhà nước, đặc biệt là việc thuế giá trị gia tăng giảm xuống 8% đã giúp doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí hơn 1 tỷ đồng. Nhờ việc giảm thuế này, công ty đã có thêm nguồn tiền đầu tư vào máy móc, yên tâm mở rộng sản xuất, kinh doanh.

Đồng thời, các chính sách giảm các loại thuế xăng dầu giúp giảm chi phí vận tải, qua đó giảm chi phí đầu vào, giảm giá thành sản phẩm đến tay người tiêu dùng, do vậy, doanh nghiệp tiêu thụ được sản phẩm và đảm bảo ổn định đời sống cho công nhân.

Ông Hưng cho rằng, các chính sách sửa đổi, bổ sung các luật thuế trong năm 2025, 2026 mới đây cho thấy Chính phủ tiếp tục đồng hành, hỗ trợ doanh nghiệp qua việc giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, nâng ngưỡng chịu thuế thu nhập cá nhân… Đây sẽ là “liều thuốc” trợ lực cho doanh nghiệp nhỏ và vừa phục hồi, phát triển trước tác động của chi phí đầu vào tăng cao như hiện nay.

Số thuế hộ kinh doanh, doanh nghiệp không phải nộp trên 18.000 tỷ đồng

Tại buổi họp báo công bố lệnh của Chủ tịch nước về các luật được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ nhất, trong đó Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 4 luật thuế (Thuế thu nhập cá nhân, Thuế giá trị gia tăng, Thuế thu nhập doanh nghiệp và Thuế tiêu thụ đặc biệt), Thứ trưởng Bộ Tài chính Cao Anh Tuấn cho biết, Luật đã sửa đổi theo hướng không quy định cụ thể ngưỡng doanh thu không phải nộp thuế thu nhập cá nhân, mức doanh thu không chịu thuế giá trị gia tăng của hộ, cá nhân kinh doanh tại luật và bổ sung mức doanh thu được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp.

Luật giao Chính phủ căn cứ các chỉ số kinh tế vĩ mô, khả năng cân đối ngân sách để quy định mức doanh thu năm phù hợp với bối cảnh kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ. Quy định mới này nhằm hỗ trợ hộ, cá nhân kinh doanh, doanh nghiệp quy mô nhỏ, cũng bảo đảm khuyến khích hộ, cá nhân chuyển lên doanh nghiệp.

Trên cơ sở quy định của luật, Chính phủ đã ban hành Nghị định 141 ngày 29/4, quy định ngưỡng doanh thu miễn thuế với cá nhân, hộ kinh doanh là 1 tỷ đồng/năm, gấp đôi so với quy định trước đó.

Theo Thứ trưởng Cao Anh Tuấn, dự kiến so với năm 2025, tổng số thuế các hộ và cá nhân kinh doanh không phải nộp là trên 16.000 tỷ đồng, còn với doanh nghiệp là trên 2.000 tỷ đồng. Số tiền này sẽ được để lại cho cá nhân và doanh nghiệp đầu tư, sản xuất kinh doanh, tạo công ăn việc làm, cải thiện thu nhập nên dư luận rất phấn khởi.

Từ 1/7/2026, 10 hành vi bị coi là trốn thuế theo Luật Quản lý thuế mới

Từ ngày 1/7/2026, Luật Quản lý thuế 2025 chính thức có hiệu lực, trong đó quy định rõ 10 nhóm hành vi bị coi là trốn thuế nếu làm thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc làm tăng số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn.

Theo quy định tại khoản 4 Điều 45 của luật, việc nhận diện rõ các hành vi vi phạm sẽ giúp doanh nghiệp, hộ kinh doanh và cá nhân chủ động tuân thủ pháp luật, hạn chế rủi ro pháp lý cũng như các mức xử phạt liên quan.

10 hành vi bị xác định là trốn thuế

Thứ nhất, không nộp hồ sơ đăng ký thuế; không nộp hồ sơ khai thuế; hoặc nộp hồ sơ khai thuế sau 90 ngày kể từ ngày hết hạn, kể cả thời gian gia hạn, dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số thuế được miễn, giảm, hoàn.

Thứ hai, không ghi chép hoặc ghi nhận trong sổ kế toán các khoản thu liên quan đến việc xác định số tiền thuế phải nộp.

Thứ ba, không lập hóa đơn khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ theo quy định; không kê khai thuế; hoặc ghi giá trị trên hóa đơn thấp hơn giá trị thanh toán thực tế nhằm giảm số thuế phải nộp.

Thứ tư, sử dụng hóa đơn, chứng từ không hợp pháp hoặc sử dụng không hợp pháp hóa đơn, chứng từ để hạch toán hàng hóa, dịch vụ mua vào, qua đó làm giảm số thuế phải nộp hoặc làm tăng số tiền được miễn, giảm, khấu trừ, hoàn thuế.

Thứ năm, sử dụng chứng từ, tài liệu không phản ánh đúng bản chất hoặc giá trị giao dịch thực tế để xác định sai số tiền thuế phải nộp hay số thuế được miễn, giảm, hoàn.

Thứ sáu, khai sai thực tế hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu nhưng không tự nguyện khắc phục hậu quả bằng việc nộp đủ số tiền thuế theo quy định.

Thứ bảy, cố ý không kê khai hoặc kê khai sai về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.

Thứ tám, cấu kết với người gửi hàng để nhập khẩu hàng hóa nhằm mục đích trốn thuế.

Thứ chín, sử dụng hàng hóa thuộc diện không chịu thuế, miễn thuế hoặc xét miễn thuế sai mục đích mà không khai báo việc chuyển đổi mục đích sử dụng với cơ quan quản lý thuế.

Thứ mười, người nộp thuế vẫn có hoạt động kinh doanh trong thời gian đã thông báo ngừng hoặc tạm ngừng kinh doanh nhưng không thông báo với cơ quan thuế.

Một số trường hợp không bị xử phạt về hành vi trốn thuế

Theo thông tin từ cơ quan thuế địa phương, người nộp thuế trong một số trường hợp sẽ không bị xử phạt về hành vi trốn thuế mà chỉ bị xử phạt vi phạm thủ tục thuế.

Các trường hợp này gồm: không nộp hồ sơ đăng ký thuế; không nộp hồ sơ khai thuế; nộp hồ sơ khai thuế sau 90 ngày nhưng không phát sinh số thuế phải nộp; hoặc có phát sinh nghĩa vụ thuế nhưng đã nộp đủ tiền thuế và tiền chậm nộp trước thời điểm cơ quan thuế công bố quyết định thanh tra, kiểm tra.

Cơ quan thuế khuyến nghị doanh nghiệp, hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh cần chủ động rà soát hoạt động sản xuất, kinh doanh; quản lý chặt chẽ hóa đơn, chứng từ; thực hiện kê khai và nộp thuế trung thực, chính xác nhằm tránh các rủi ro pháp lý phát sinh khi luật mới có hiệu lực.

Ngoài ra, người nộp thuế được khuyến cáo tự giác khắc phục sai sót nếu có, đồng thời nâng cao ý thức chấp hành pháp luật để góp phần xây dựng môi trường kinh doanh minh bạch và công bằng.

Nguồn: Lao Động; Dân Trí; Thời Báo Tài Chính; Thương hiệu & Công luận

Xem thêm:
Về trang trước

Chủ đề:

Bình luận và đánh giá
Gửi nhận xét đánh giá

Đọc nhiều nhất

Cấp nhầm sổ đất cho dân; Gỡ tạm hoãn xuất cảnh vì nợ thuế; Đánh thuế 0,2% đất bỏ hoang; Lưu ý mới từ cơ quan Thuế; Tháo gỡ vướng mắc đất đai, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

Người có bất động sản chú ý; VNeID thay đổi mới; Lưu ý dùng camera, TV, máy giặt, tủ lạnh kết nối Internet; Nộp thuế đất phi nông nghiệp; Định danh tài khoản MXH trên VNeID

Chú ý mức phạt khai báo tạm trú; Quy định cấp đổi sổ đỏ ghi đất “thổ cư”; Gỡ khó cho 4.000 trường hợp bị mạo danh; Điều kiện giảm 50% tiền sử dụng đất; Lỗ hổng thừa kế

Tạo chữ ký số trên VneID; Điều tra giao dịch chuyển khoản sau; Cấp sổ đỏ đất không phù hợp quy hoạch; Quy định đất bỏ hoang, bị đánh thuế; Quy định mới xuất, nhập khẩu gạo

Dừng cấp sổ do hàng xóm không ký giáp ranh; Người đi hát karaoke chú ý; Quy định mới đặt cọc mua nhà đất; Nên chọn chung cư sơ cấp hay thứ cấp; Quy định hạn mức đất đai

Các loại tài khoản phải liên kết VNeID; VNeID tích hợp tính năng mới; Ký giáp ranh cấp sổ hồng; Hoang mang thuế đất phi nông nghiệp; Lời khuyên gửi tiết kiệm online

Trợ cấp hưu trí xã hội; Điều tra giao dịch chuyển tiền; Các loại giấy tờ tích hợp trên VNeID; Điều chỉnh diện tích sổ đỏ; Chuyển đất ao sang đất ở

Hàng ngàn đất nền, biệt thự được cấp sổ; Cấp hộ chiếu sau phẫu thuật thẩm mỹ khuôn mặt; Sửa Luật Xử lý vi phạm hành chính; Gỡ điểm nghẽn đất đai không chỉ bằng sửa luật

Lên đầu trang