- Tư vấn
.jpg)
Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa trả lời thắc mắc của công dân về việc cấp đổi Giấy chứng nhận (sổ đỏ) khi hàng xóm không ký giáp ranh.
Trên Cổng thông tin Chính phủ, một công dân tại Nghệ An thắc mắc:
"Ông T.Đ.H chuyển đổi sổ đỏ cũ được cấp ngày 12.4.1995 sang sổ hồng theo quy định pháp luật hiện nay. Nhưng do hàng xóm gây khó dễ không ký giáp ranh nên hiện không thể làm sổ đỏ được.
Trong lúc đó, hàng xóm đã chuyển đổi được mà ông H chưa bao giờ ký giáp ranh cho họ. Ông H hỏi, nếu trong trường hợp làm chuyển đổi sổ, đo đạc lại mà hàng xóm không ký giáp ranh thì nhà ông có thể làm sổ đỏ được hay không?".
Bộ Nông nghiệp và Môi trường trả lời vấn đề này như sau:
Do nội dung phản ánh của ông không đầy đủ các thông tin liên quan đến việc cấp đổi Giấy chứng nhận do đo đạc lại nên Bộ Nông nghiệp và Môi trường không có cơ sở để trả lời cụ thể.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường xin cung cấp một số quy định của pháp luật liên quan đến việc cấp đổi Giấy chứng nhận do đo đạc lại như sau:
Tại khoản 6 Điều 135 Luật Đất đai đã quy định nguyên tắc cấp đổi Giấy chứng nhận trong trường hợp đo đạc lại mà ranh giới có thay đổi hoặc không có thay đổi so với thời điểm cấp Giấy chứng nhận trước đây.
Tại khoản 1 Điều 15 Nghị định số 49/2026/NĐ-CP ngày 31.1.2026 của Chính phủ đã giao UBND cấp tỉnh quy định trình tự, thủ tục hành chính về đất đai để thực hiện các trường hợp quy định tại Điều 14 của Nghị định này chậm nhất đến ngày 1.7.2026, bảo đảm cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính theo quy định.
Xem tiếp tại đường Link =>
https://share.google/46TZF2UC1m6qV54Pm
Nghị định 58/2026 của Chính phủ đã sửa đổi, bổ sung quy định về trình tự, thủ tục thu hồi thẻ căn cước đối với một số trường hợp.
Thủ tục cấp, cấp đổi, cấp lại thẻ căn cước theo quy định mới
Nghị định 58/2026 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung quy định liên quan đến Luật Căn cước nêu rõ trình tự, thủ tục cấp, cấp đổi, cấp lại thẻ căn cước thông qua Cổng dịch vụ công quốc gia hoặc Ứng dụng định danh quốc gia (VNeID).
Theo đó, công dân lựa chọn thủ tục, kiểm tra thông tin của mình được khai thác trong cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.
Trường hợp thông tin chính xác thì đăng ký thời gian và cơ quan quản lý căn cước để thực hiện thủ tục, hệ thống sẽ xác nhận và tự động chuyển đề nghị của công dân đến cơ quan quản lý căn cước nơi công dân đề nghị cấp, cấp đổi, cấp lại thẻ căn cước.
Công dân đến cơ quan quản lý căn cước theo thời gian, địa điểm đã đăng ký để thực hiện thủ tục cấp, cấp đổi, cấp lại thẻ căn cước theo trình tự, thủ tục đã quy định.
Trường hợp bị mất thẻ căn cước hoặc thẻ căn cước bị hư hỏng không sử dụng được hoặc cấp đổi thẻ căn cước do có thay đổi về địa giới hành chính thì lựa chọn thủ tục cấp lại, kiểm tra thông tin của mình được khai thác trong cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.
Trường hợp thông tin chính xác thì xác nhận chuyển hồ sơ đề nghị cấp lại thẻ căn cước đến cơ quan quản lý căn cước xem xét, giải quyết việc cấp lại thẻ căn cước theo quy định tại khoản 4 điều 25 Luật Căn cước.
Đối với trường hợp người đại diện hợp pháp thực hiện thủ tục cấp, cấp đổi, cấp lại thẻ căn cước cho người dưới 6 tuổi thì lựa chọn thủ tục, kiểm tra thông tin của người dưới 6 tuổi trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.
Trường hợp thông tin chính xác thì người đại diện hợp pháp xác nhận chuyển hồ sơ đề nghị đến cơ quan quản lý căn cước xem xét, giải quyết việc cấp, cấp đổi, cấp lại thẻ căn cước.
Các trường hợp bị thu hồi thẻ căn cước
Nghị định 58/2026 cũng sửa đổi, bổ sung quy định về trình tự, thủ tục thu hồi thẻ căn cước đối với các trường hợp sau:
Theo đó, cơ quan tiếp nhận, trả kết quả khi thực hiện một trong các thủ tục nêu trên tiến hành lập biên bản về việc thu hồi thẻ căn cước đối với người bị tước quốc tịch Việt Nam, cho thôi quốc tịch Việt Nam, bị hủy bỏ quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam hoặc bị hủy bỏ quyết định cho trở lại quốc tịch Việt Nam.
Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày có quyết định, Bộ Tư pháp gửi văn bản thông báo kèm thẻ căn cước đã bị thu hồi đến cơ quan quản lý căn cước của Bộ Công an.
Xem tiếp tại đường Link =>
https://share.google/7jWdyI1XBLoxadofx
Căn cứ theo Điều 1 Nghị định 63/2024/NĐ-CP được sửa đổi bởi Điều 1 Nghị định 301/2026/NĐ-CP quy định về phạm vi điều chỉnh như sau:
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Nghị định này quy định việc thực hiện liên thông điện tử 02 nhóm thủ tục hành chính: đăng ký khai sinh, đăng ký thường trú, cấp thẻ bảo hiểm y tế, cấp thẻ căn cước cho trẻ em dưới 6 tuổi; đăng ký khai tử, xóa đăng ký thường trú, giải quyết mai táng phí, tử tuất (sau đây gọi tắt là 02 nhóm thủ tục hành chính liên thông điện tử); trách nhiệm của các bộ, ngành, cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện 02 nhóm thủ tục hành chính liên thông điện tử.
Như vậy, từ 01/9/2026, trẻ em dưới 6 tuổi được cấp thẻ Căn cước ngay khi thực hiện nhóm thủ tục liên thông gồm đăng ký khai sinh, đăng ký thường trú và cấp thẻ bảo hiểm y tế.
Ngoài ra, căn cứ theo khoản 2 Điều 18 Luật Căn cước 2023 quy định như sau:
Điều 18. Nội dung thể hiện trên thẻ căn cước
[...]
2. Thông tin được in trên thẻ căn cước bao gồm:
a) Hình Quốc huy nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
b) Dòng chữ “CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM, Độc lập - Tự do - Hạnh phúc”;
c) Dòng chữ “CĂN CƯỚC”;
d) Ảnh khuôn mặt;
đ) Số định danh cá nhân;
e) Họ, chữ đệm và tên khai sinh;
g) Ngày, tháng, năm sinh;
h) Giới tính;
i) Nơi đăng ký khai sinh;
k) Quốc tịch;
l) Nơi cư trú;
m) Ngày, tháng, năm cấp thẻ; ngày, tháng, năm hết hạn sử dụng;
n) Nơi cấp: Bộ Công an.
3. Thông tin được mã hóa, lưu trữ trong bộ phận lưu trữ trên thẻ căn cước gồm thông tin về ảnh khuôn mặt, vân tay, mống mắt của công dân, các thông tin quy định từ khoản 1 đến khoản 18 Điều 9, khoản 2 Điều 15 và khoản 2 Điều 22 của Luật này.
[...]
Theo đó, thông tin được in trên thẻ căn cước bao gồm những thông tin sau:
- Hình Quốc huy nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
- Dòng chữ “CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM, Độc lập - Tự do - Hạnh phúc”;
- Dòng chữ “CĂN CƯỚC”;
- Ảnh khuôn mặt;
- Số định danh cá nhân;
- Họ, chữ đệm và tên khai sinh;
- Ngày, tháng, năm sinh;
Xem tiếp tại đường Link =>
https://share.google/LY441ucR0Ei4robNi
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 301/2026/NĐ-CP ngày 30/7/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 63/2024/NĐ-CP ngày 10/6/2024 của Chính phủ quy định việc thực hiện liên thông điện tử 02 nhóm thủ tục hành chính: đăng ký khai sinh, đăng ký thường trú, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi, xóa đăng ký thường trú, tử tuất...
Cụ thể, Nghị định số 301/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 1, khoản 3, khoản 5 và khoản 7 Điều 4 Nghị định số 63/2024/NĐ-CP về nguyên tắc thực hiện quy trình liên thông điện tử theo hướng quy định rõ ràng những vấn đề bảo đảm an toàn trong thực hiện kết nối, chia sẻ dữ liệu; quy định trường hợp khi xảy ra sự cố kỹ thuật do việc thực hiện liên thông điện tử.
Đồng thời, quy định việc trả ngay kết quả giải quyết thủ tục hành chính sau khi hoàn thành việc giải quyết từng thủ tục hành chính, không chờ đến khi kết thúc việc giải quyết toàn bộ các thủ tục trong quy trình liên thông mới trả kết quả để đảm bảo thuận lợi cho người dân, tổ chức.
Nghị định số 301/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 1, khoản 2 Điều 8 Nghị định số 63/2024/NĐ-CP về giải quyết hồ sơ đăng ký khai sinh, đăng ký thường trú cho trẻ em dưới 6 tuổi theo hướng hoàn thiện quy định về quy trình giải quyết hồ sơ nhằm bảo đảm đồng bộ với việc triển khai trên môi trường điện tử thông qua Cổng Dịch vụ công quốc gia và ứng dụng VNeID.
Sửa đổi thủ tục giải quyết hồ sơ đăng ký khai sinh
Theo đó, việc giải quyết hồ sơ đăng ký khai sinh (tại khoản 1) được thực hiện như sau:
Sau khi hồ sơ đăng ký khai sinh điện tử được Cổng Dịch vụ công quốc gia chuyển tới Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của Bộ Tư pháp và được Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của Bộ Tư pháp đồng bộ hồ sơ về Hệ thống đăng ký, quản lý hộ tịch điện tử của Bộ Tư pháp thì người thực hiện công tác hộ tịch tại Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện nghiệp vụ đăng ký khai sinh trên Hệ thống đăng ký, quản lý hộ tịch điện tử của Bộ Tư pháp.
Trường hợp hồ sơ đầy đủ, hợp lệ: Người thực hiện công tác hộ tịch tại Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện nghiệp vụ đăng ký khai sinh trên Hệ thống đăng ký, quản lý hộ tịch điện tử của Bộ Tư pháp và chuyển thông tin đến Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để cấp Số định danh cá nhân. Thời gian giải quyết đăng ký khai sinh trong 24 giờ kể từ khi Hệ thống đăng ký, quản lý hộ tịch điện tử của Bộ Tư pháp nhận đủ hồ sơ hợp lệ.
Sau khi có kết quả đăng ký khai sinh, Hệ thống đăng ký, quản lý hộ tịch điện tử của Bộ Tư pháp tự động chuyển bản điện tử Giấy khai sinh đến Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của Bộ Tư pháp, sau đó Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của Bộ Tư pháp đồng bộ với Cổng Dịch vụ công quốc gia để hoàn thiện và chuyển hồ sơ điện tử của các thủ tục hành chính tiếp theo trong quy trình liên thông và gửi kết quả cho người yêu cầu.
Trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ hoặc không đủ điều kiện giải quyết: Người thực hiện công tác hộ tịch tại Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện thao tác trên Hệ thống đăng ký, quản lý hộ tịch điện tử của Bộ Tư pháp để gửi thông tin trạng thái hồ sơ đến Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của Bộ Tư pháp.
Sau đó Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của Bộ Tư pháp thông báo cho người yêu cầu qua Cổng Dịch vụ công quốc gia hoặc ứng dụng VNeID hoặc gửi tin nhắn điện thoại tự động của Cổng Dịch vụ công quốc gia.
Trong đó nêu rõ lý do đối với các trường hợp hồ sơ bị từ chối giải quyết hoặc nêu rõ loại giấy tờ, nội dung cần bổ sung trong thời gian không quá 24 giờ kể từ thời điểm nhận được hồ sơ điện tử trên hệ thống.
Trường hợp cần bổ sung thành phần hồ sơ thì người yêu cầu có trách nhiệm hoàn thiện hồ sơ trong 07 ngày làm việc, nếu quá thời hạn này không bổ sung thì người thực hiện công tác hộ tịch tại Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện thao tác trên Hệ thống đăng ký, quản lý hộ tịch điện tử của Bộ Tư pháp để dừng xử lý do không bổ sung theo quy định.
Thông tin về việc dừng xử lý được gửi đến Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của Bộ Tư pháp để thông báo cho người yêu cầu qua Cổng Dịch vụ công quốc gia hoặc ứng dụng VNeID hoặc gửi tin nhắn điện thoại tự động của Cổng Dịch vụ công quốc gia.
Việc liên thông điện tử giữa Cơ sở dữ liệu hộ tịch và Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để cấp số định danh cá nhân, thực hiện trên các hệ thống, phần mềm nghiệp vụ của Bộ Tư pháp, Bộ Công an.
Trong quá trình thực hiện có vướng mắc phát sinh liên quan đến cấp số định danh cá nhân, Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp, Bộ Khoa học và Công nghệ kiểm tra, xử lý và trả kết quả xử lý trong thời gian không quá 01 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận các vướng mắc từ Bộ Tư pháp, cơ quan đăng ký hộ tịch.
Trả kết quả ngay sau khi hoàn thành từng thủ tục
Nghị định số 301/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung các quy định về nguyên tắc thực hiện quy trình liên thông điện tử theo hướng làm rõ yêu cầu bảo đảm an toàn trong kết nối, chia sẻ dữ liệu và xử lý khi phát sinh sự cố kỹ thuật.
Một trong những nội dung đáng chú ý là quy định trả kết quả giải quyết ngay sau khi từng thủ tục hành chính được hoàn thành, thay vì chờ đến khi kết thúc toàn bộ quy trình liên thông như trước đây. Quy định này giúp người dân nhận kết quả sớm hơn, giảm thời gian chờ đợi và nâng cao hiệu quả giải quyết thủ tục hành chính.
Trẻ dưới 6 tuổi được làm thẻ căn cước ngay trong quy trình khai sinh liên thông
Bên cạnh đó, Nghị định số 301/2026/NĐ-CP cũng đã bổ sung khoản 3a trước khoản 3 về việc giải quyết hồ sơ cấp thẻ căn cước cho trẻ em dưới 6 tuổi.
Cụ thể, việc cấp thẻ căn cước cho trẻ em dưới 6 tuổi trong quy trình liên thông điện tử chỉ thực hiện khi người đại diện hợp pháp có đề nghị cấp thẻ căn cước cho trẻ tại bước nộp hồ sơ trực tuyến theo quy định tại Điều 7 Nghị định này.
Sau khi Hệ thống thông tin quản lý cư trú của Bộ Công an chuyển bản điện tử Thông báo kết quả giải quyết đăng ký thường trú sang Cổng Dịch vụ công quốc gia, sau đó Cổng Dịch vụ công quốc gia phân tách, chuyển hồ sơ điện tử (biểu mẫu, tờ khai người yêu cầu đã kê khai) đến Hệ thống sản xuất, cấp và quản lý căn cước của Bộ Công an để thực hiện cấp thẻ căn cước theo quy định của Luật Căn cước số 26/2023/QH15.
Ngay sau khi hồ sơ điện tử được chuyển đến Hệ thống sản xuất, cấp, quản lý căn cước, cán bộ công an tiếp nhận, thực hiện nghiệp vụ cấp thẻ căn cước; thực hiện trích xuất dữ liệu điện tử khai sinh và thẻ Bảo hiểm y tế đã được cấp trong quy trình liên thông để tích hợp thông tin vào thẻ căn cước và tài khoản định danh điện tử của trẻ em theo quy định của pháp luật về căn cước trên Hệ thống sản xuất, cấp và quản lý căn cước.
Đối với trẻ em dưới 6 tuổi, cơ quan quản lý căn cước không thu nhận thông tin nhân dạng và thông tin sinh trắc học theo quy định tại khoản 2 Điều 23 Luật Căn cước số 26/2023/QH15. Thời gian giải quyết cấp thẻ căn cước không quá 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ điện tử trên hệ thống.
Hỗ trợ tài chính cho phụ nữ khi sinh con
Đáng chú ý, Nghị định cũng bổ sung điểm d sau điểm c khoản 1 quy định thực hiện hỗ trợ tài chính cho phụ nữ khi sinh con. Theo đó, sau khi tiếp nhận hồ sơ đăng ký khai sinh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã đồng thời xem xét, quyết định việc hỗ trợ tài chính khi sinh con và thực hiện chi trả cho phụ nữ sinh con theo quy định pháp luật dân số.
Xem tiếp tại đường Link =>
https://baomoi.com/tu-1-9-mot-so-thay-doi-quan-trong-ve-cap-the-can-cuoc-c55817336.epi
Hệ thống của Ngân hàng Nhà nước đã cảnh báo hơn 4,6 triệu lượt khách hàng về nguy cơ gian lận. Trong đó, hơn 1,5 triệu lượt khách hàng tạm dừng hoặc hủy giao dịch, với tổng giá trị gần 5.200 tỷ đồng.
Cảnh báo gian lận giúp khách hàng tránh mất gần 5.200 tỷ đồng
Thông tin tại họp báo công bố sự kiện Chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2026 ngày 11/8, ông Hoàng Minh Tiến, Phó Cục trưởng Cục Công nghệ thông tin (Ngân hàng Nhà nước) cho biết hệ thống thông tin hỗ trợ quản lý, giám sát và phòng ngừa rủi ro gian lận trong hoạt động thanh toán (SIMO) đã triển khai từ năm 2025.
Đến tháng 7, đã có hơn 4,6 triệu lượt khách hàng nhận được cảnh báo, trong đó có hơn 1,5 triệu lượt khách hàng đã tạm dừng/hủy bỏ giao dịch sau khi nhận cảnh báo với tổng số tiền giao dịch tương ứng là gần 5.200 tỷ đồng. Việc phối hợp chặt chẽ với Bộ Công an và các cơ quan chức năng trong công tác truy vết, phòng chống tội phạm công nghệ cao luôn được duy trì thường xuyên và hiệu quả.
Tốc độ tăng trưởng giao dịch thanh toán không dùng tiền mặt liên tục duy trì ở mức cao; tính riêng 6 tháng đầu năm, khối lượng giao dịch đã tăng hơn 34% so với cùng kỳ năm trước, đưa tổng giá trị thanh toán không dùng tiền mặt gấp hơn 28 lần quy mô GDP của đất nước.
Nhiều tổ chức tín dụng tại Việt Nam có tỷ lệ trên 95% giao dịch thực hiện qua kênh số. Đến nay, có hơn 89% người dân Việt Nam từ 15 tuổi trở lên sở hữu tài khoản thanh toán.
Ngân hàng dùng AI “đọc vị” khách hàng, ngăn tài khoản ảo và lừa đảo
Liên quan đến việc sử dụng AI, ông Bùi Quang Cương, Phó Tổng giám đốc kiêm Giám đốc Khối công nghệ TPBank, cho rằng AI không đơn thuần là công nghệ mới mà còn là năng lực mới của ngân hàng. Theo ông, AI giúp ngân hàng hiểu nhu cầu và hành vi từng khách hàng để đưa ra sản phẩm, hạn mức, ưu đãi và cách thức tương tác phù hợp.
Ông Cương phân tích, trước đây, các ngân hàng thường xây dựng các tệp sản phẩm cho khách hàng theo hướng hầu hết khách hàng đều giống nhau. Tuy nhiên, hiện nay, với việc phân tích giao dịch và hành vi khách hàng, AI có thể hỗ trợ ngân hàng xây dựng sản phẩm cho từng cá nhân. Điều này giúp khách hàng nhanh chóng tiếp cận đúng sản phẩm theo nhu cầu và đúng thời điểm họ cần.
Đơn cử, AI có thể hỗ trợ ngân hàng trong quản lý tài chính cá nhân, tư vấn đầu tư, quản lý gia sản, phát triển các trợ lý tài chính AI...
Ngoài cá nhân hóa sản phẩm, AI còn được ứng dụng để giúp hoạt động tín dụng và các dịch vụ tài chính trở nên thông minh hơn, nâng cao trải nghiệm khách hàng, đồng thời tăng cường an toàn giao dịch và phòng, chống gian lận.
“Mục tiêu cuối cùng không phải là ngân hàng sử dụng được bao nhiêu mô hình AI, mà là AI có giúp khách hàng được phục vụ tốt hơn, doanh nghiệp tiếp cận dịch vụ tài chính thuận lợi hơn, giao dịch an toàn hơn và ngân hàng vận hành hiệu quả hơn hay không. Vì vậy, song song với việc đẩy nhanh ứng dụng AI, chúng tôi đặc biệt coi trọng quản trị dữ liệu, an toàn bảo mật, quản trị rủi ro AI và nguyên tắc AI có trách nhiệm”, ông nhấn mạnh.
Điểm lại một số kết quả nổi bật của ngành ngân hàng thời gian qua, ông Lê Anh Dũng, Phó Vụ trưởng Vụ Thanh toán (Ngân hàng Nhà nước), cho biết thời gian qua ngành ngân hàng tích cực triển khai Đề án 06. Thời gian tới, ngành tiếp tục làm sạch dữ liệu khách hàng, qua đó, loại bỏ các tài khoản ảo, tài khoản không chính chủ và ngăn ngừa hiệu quả tội phạm mạo danh mở tài khoản hoặc cho thuê, mượn tài khoản phục vụ các mục đích vi phạm pháp luật.
Xem tiếp tại đường Link =>
https://share.google/rQbGNonWn0YkGK4pP
Nguồn: Lao Động; CafeF; Góc Nhìn Pháp Lý; Báo Mới; Dân Trí
Bất động sản thay đổi lớn; Chia đất đai thừa kế; Hỗ trợ thu hồi đất nông nghiệp; Chính sách đặc thù; Quy định mới về thẻ căn cước
Cấp sổ đỏ từng phần đất nghĩa trang; Đính chính sổ đỏ & đăng ký biến động; Cấp đổi sổ đỏ và sang tên thừa kế; Xác định lại hạn sử dụng đất ao sổ đỏ cũ; Luật Báo chí
Cấp sổ đất có nguồn gốc lấn, chiếm; Giảm tiềm sử dụng đất tặng con; Giao dịch online bị ngân hàng từ chối; Điều kiện lối đi tách thửa; Mất tiền cọc vì một yêu cầu
Chính sách mới có hiệu lực; Cấp sổ đỏ đất giao khoán; Xây nhà trên đất nông nghiệp; Thông báo giao dịch nội dung sau; Phạt tiền các giao dịch nhận/chuyển tiền sau
Dự thảo Luật Đất đai mới; Lưu ý thuê người giúp việc; Gỡ điểm nghẽn sửa Luật Đất đai; Đất nông nghiệp bị thu hồi; Căn cứ công nhận đất khi cấp sổ đỏ
Xử lý nhà dân xây trên đất nông nghiệp thuộc thẩm quyền cấp xã; Quy định mới cấp thẻ Căn cước; Xây nhà cấp 4 không phép bị đình chỉ; Doanh nghiệp bị thu hồi đất vì không sử dụng
3 việc nên làm Rằm tháng 7; Chính sách thu hồi đất đô thị đặc biệt; Cấp sổ đỏ đất mua bằng giấy viết tay; Lưu ý người sở hữu bất động sản; Chuyển đất nông nghiệp lên thổ cư
Thuê đất tầng hầm chung cư vượt diện tích; Giao dịch tiền số sai bị phạt; Chia tài sản thừa kế; Chuyển đất nông nghiệp lên đất thổ cư; Cấp sổ đỏ đất khai phá
Bình luận và đánh giá
Gửi nhận xét đánh giá