.jpg)
CẬP NHẬT THƯƠNG MẠI TOÀN CẦU: XUẤT KHẨU CỦA TRUNG QUỐC TĂNG VƯỢT DỰ ĐOÁN; ĐỨC GHI NHẬN SỤT GIẢM MẠNH; HÀN QUỐC GẶP RỦI RO LỚN DO CĂNG THẲNG TRUNG ĐÔNG
Dưới đây là thông tin cập nhật nhất về tình hình xuất khẩu của các nước Trung Quốc, Đức, Hàn Quốc.
Ngày 11/3, Tổng cục Hải quan Trung Quốc đã công bố số liệu ngoại thương của nước này, theo đó các nhà phân tích dự đoán rằng, thặng dư thương mại của nền kinh tế lớn thứ hai thế giới năm nay có khả năng vượt mức năm ngoái.
Cụ thể, trong tháng 1 và tháng 2, xuất khẩu của Trung Quốc, tính bằng USD, đã tăng 21,8% so với cùng kỳ, vượt kỳ vọng và cao hơn nhiều so với mức tăng 6,6% trong tháng 12. Nhập khẩu cũng tăng 19,8% so với cùng kỳ, tốt hơn dự báo của thị trường là 6,3%.
Thặng dư thương mại trong hai tháng qua đạt 213,6 tỷ USD, tăng 26% so với cùng kỳ và lập kỷ lục mới trong cùng thời gian.
Trung Quốc thường gộp số liệu thương mại của hai tháng đầu năm để loại bỏ những biến động của kỳ nghỉ Tết Nguyên đán. Tuy nhiên, năm nay, số liệu tổng kim ngạch thương mại tháng 2 được công bố riêng. Bloomberg tính toán rằng, xuất khẩu của Trung Quốc trong tháng 1 đạt gần 357 tỷ Nhân dân tệ, mức cao thứ hai trong lịch sử.
Xét theo từng loại hàng hóa, xuất khẩu máy móc và sản phẩm điện tử đã tăng hơn 27% trong hai tháng đầu năm, trong đó mạch tích hợp tăng gần 73%. Các nhà phân tích cho rằng, sự tăng vọt nhu cầu đối với các sản phẩm điện tử do sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo (AI) là nguyên nhân chính dẫn đến sự tăng trưởng xuất khẩu này.
Ông Hồ Vĩ Tuấn, chuyên gia kinh tế trưởng tại Ngân hàng Macquarie, cho rằng sự tăng mạnh xuất khẩu của Trung Quốc vào đầu năm phản ánh nhu cầu toàn cầu mạnh mẽ đối với các sản phẩm công nghệ. Liệu đà tăng trưởng này có thể được duy trì hay không phần lớn phụ thuộc vào việc sự bùng nổ công nghệ dựa trên AI có thể tiếp tục kéo dài bao lâu.
Mặc dù cuộc chiến thuế quan đã dẫn đến sự sụt giảm liên tục trong xuất khẩu của Trung Quốc sang Mỹ, nhưng điều này đã được bù đắp nhờ sự tăng trưởng đáng kể ở các thị trường như Đông Nam Á và châu Phi.
Số liệu cho thấy, trong hai tháng đầu năm nay, xuất khẩu của Trung Quốc sang Mỹ giảm 11% so với cùng kỳ, trong khi xuất khẩu sang ASEAN tăng 29,4% và xuất khẩu sang Liên minh châu Âu (EU) tăng 27,8%. Xuất khẩu sang châu Phi chứng kiến mức tăng trưởng mạnh nhất, tăng gần 50% trong hai tháng qua sau khi tăng 21,8% vào tháng 12/2025.
Ông Tommy Xie, Trưởng bộ phận nghiên cứu vĩ mô châu Á của Ngân hàng OCBC cho rằng, bất chấp những tác động tiềm tàng của biến động giá dầu do tình hình Trung Đông gây ra đối với ngành sản xuất, trữ lượng dầu thô dồi dào của Trung Quốc và sự phụ thuộc thấp hơn vào các nguồn năng lượng truyền thống như dầu mỏ so với nhiều quốc gia khác giúp ngành xuất khẩu của nước này kiên cường hơn. Ngay cả trong những tháng có khối lượng xuất khẩu thấp như tháng 1 và tháng 2, thặng dư thương mại vẫn đạt mức cao mới, với tốc độ này, thặng dư thương mại năm nay có thể vượt qua năm ngoái.
Thặng dư thương mại của Trung Quốc đạt 1.200 tỷ Nhân dân tệ vào năm 2025, trở thành nền kinh tế đầu tiên trên thế giới vượt mốc thặng dư thương mại hàng năm 1.000 tỷ Nhân dân tệ. Điều này đã khiến một số đối tác thương mại lo lắng, trong đó Mexico đã tăng thuế quan đối với hàng hóa Trung Quốc.
Tuy nhiên, ông Trương Trí Uy, nhà kinh tế trưởng tại Pinpoint, cho rằng với hiệu quả xuất khẩu mạnh mẽ hiện tại và việc điều chỉnh giảm mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm nay, các nhà hoạch định chính sách khó có thể đưa ra thêm các biện pháp kích thích nhu cầu nội địa trong ngắn hạn.
Trong khi đó, các nhà xuất khẩu Đức đã khởi đầu năm 2026 không mấy tốt đẹp do nhu cầu của Trung Quốc và châu Âu đều giảm.
Theo số liệu do Cơ quan Thống kê liên bang Đức (Destatis) công bố, xuất khẩu của Đức giảm 2,3% trong tháng 1/2026 so với tháng trước đó, xuống còn 130,5 tỷ Euro (151,86 tỷ USD), giảm mạnh hơn dự báo. Đây là mức giảm mạnh nhất kể từ tháng 5/2024. Để so sánh, trong tháng 12/2025, xuất khẩu của Đức vẫn tăng mạnh 3,9%.
Cũng trong tháng 1/2026, nhập khẩu của Đức thậm chí còn giảm mạnh hơn, giảm 5,9% so với tháng trước đó, xuống còn 109,2 tỷ Euro. Đây là mức giảm lớn nhất kể từ tháng 4/2020.
Phần lớn hàng xuất khẩu trong tháng 1/2026 tiếp tục hướng đến Mỹ, với giá trị xuất khẩu đạt 13,2 tỷ Euro, tăng 11,7% so với tháng 12/2025, mặc dù thuế quan của Tổng thống Donald Trump đang làm giảm nhu cầu đối với hàng hóa "sản xuất tại Đức".
Ngược lại, hoạt động thương mại của Đức với Trung Quốc sụt giảm mạnh với xuất khẩu giảm 13,2% xuống còn 6,3 tỷ Euro. Trong khi đó, xuất khẩu của Đức sang các nước Liên minh châu Âu (EU) giảm 4,8% xuống còn 71,6 tỷ Euro.
Theo các chuyên gia, mặc dù tình hình trong tháng 1/2026 không mấy khả quan nhưng có triển vọng được cải thiện trong ngắn hạn.
Viện Ifo có trụ sở tại Munich công bố kết quả khảo sát cho thấy, tâm lý của các nhà xuất khẩu Đức đã chuyển biến tích cực trong tháng 2. Chỉ số kỳ vọng xuất khẩu tăng lên 2,6 điểm phần trăm, từ mức âm 0,8 điểm phần trăm trong tháng 1/2026. Chỉ số này ở mức cao hơn lần cuối cùng là vào tháng 9/2025, còn trước đó, con số liên tục ghi nhận ở mức âm kể từ tháng 5/2023.
Ông Timo Wollmershäuser, Trưởng bộ phận nghiên cứu kinh tế của Viện Ifo, cho biết: “Ngành xuất khẩu bắt đầu năm mới với một số tín hiệu tích cực. Tuy nhiên, vẫn chưa có dấu hiệu nào cho thấy sự phục hồi mạnh mẽ”.
Về phần mình, căng thẳng tại Trung Đông đã khiến các tuyến vận tải biển quan trọng quanh eo biển Hormuz bị gián đoạn nghiêm trọng, buộc nhiều hãng tàu lớn trên thế giới phải tạm dừng nhận đơn vận chuyển hàng hóa đến khu vực này. Diễn biến này đang gây áp lực lớn lên các doanh nghiệp xuất khẩu Hàn Quốc, vốn có kim ngạch xuất khẩu sang Trung Đông lên tới khoảng 20 nghìn tỷ Won (13,68 tỷ USD) mỗi năm.
Theo dữ liệu từ Tổ chức hàng hải quốc tế (IMO), việc phong tỏa các tuyến đường biển gần eo biển Hormuz đã khiến hàng chục nghìn hành khách và thuyền viên bị mắc kẹt, đồng thời làm gián đoạn hoạt động vận tải hàng hải trong khu vực. Đây là một trong những tuyến đường vận tải quan trọng nhất thế giới, đặc biệt đối với thương mại năng lượng và hàng hóa giữa châu Á, Trung Đông và châu Âu.
Trước tình hình này, nhiều hãng vận tải biển lớn đã bắt đầu hạn chế hoặc tạm dừng nhận đơn vận chuyển hàng hóa đến Trung Đông. Trong đó có Maersk, tập đoàn vận tải biển lớn thứ hai thế giới, cùng một số hãng tàu lớn khác như MSC, Hapag-Lloyd, CMA CGM nhằm giảm thiểu rủi ro an ninh đối với tàu và thủy thủ đoàn.
Báo chí Hàn Quốc cho biết, sự gián đoạn này đã khiến cước vận chuyển container trên các tuyến Trung Đông tăng vọt 72% chỉ trong vòng một tuần, trong khi các hãng tàu áp thêm phụ phí lên tới 4.000 USD cho mỗi container để bù đắp chi phí rủi ro và nhiên liệu. Các chuyên gia cho rằng, chi phí logistics có thể tiếp tục tăng nếu tình hình chiến sự kéo dài.
Không chỉ vận tải đường biển, vận tải hàng không cũng chịu ảnh hưởng đáng kể. Theo công ty tư vấn logistics hàng không toàn cầu Aevean, công suất vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không toàn cầu trong giai đoạn cuối tháng 2 đến đầu tháng 3 đã giảm 22% so với giữa tháng trước, phản ánh sự gián đoạn ngày càng lan rộng trong chuỗi cung ứng.
Những biến động này đang khiến các doanh nghiệp Hàn Quốc gặp nhiều khó khăn trong việc đảm bảo tiến độ giao hàng. Các ngành chịu ảnh hưởng lớn bao gồm điện tử gia dụng, ô tô và thiết bị công nghiệp, vốn phụ thuộc nhiều vào thị trường Trung Đông.
Một số doanh nghiệp Hàn Quốc đang tìm cách chuyển hướng vận tải sang các cảng lân cận hoặc kết hợp vận chuyển đường bộ để tránh khu vực xung đột. Tuy nhiên, các giải pháp thay thế này thường kéo dài thời gian vận chuyển và làm tăng đáng kể chi phí logistics.
Các chuyên gia cảnh báo rằng, nếu tình hình tiếp tục leo thang, các doanh nghiệp xuất khẩu Hàn Quốc có thể phải đối mặt với nguy cơ chậm giao hàng, chi phí vận chuyển tăng cao và suy giảm sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
EO BIỂN HORMUZ BIẾN ĐỘNG, THỊ TRƯỜNG LNG TOÀN CẦU ĐỨNG TRƯỚC NHIỀU SỨC ÉP
Khoảng 20% nguồn cung LNG toàn cầu đi qua eo biển Hormuz. Nếu tuyến vận tải này bị tê liệt, thị trường khí đốt thế giới có thể đối mặt với nhiều khó khăn.
Về lâu dài, việc đóng cửa eo biển Hormuz có thể gây tác động nghiêm trọng đối với thị trường khí tự nhiên hóa lỏng (LNG). Khoảng 20% lượng LNG toàn cầu đi qua eo biển Hormuz (phần lớn được xuất khẩu từ Qatar) và giá khí đốt toàn cầu đang tăng mạnh sau khi quốc gia này phải dừng sản xuất vào tuần trước do một cuộc tấn công bằng máy bay không người lái của Iran.
Giá khí đốt tự nhiên tại châu Âu đã tăng 63% trong tuần qua, mức tăng theo tỉ lệ phần trăm lớn nhất kể từ tháng 3/2022.
Giá khí tại châu Á thậm chí còn cao hơn do phần lớn LNG của Qatar được xuất sang khu vực này. Các quốc gia châu Á đang tìm cách bù đắp lượng hàng thiếu hụt, và khi chênh lệch giá khí giữa châu Âu và châu Á ngày càng mở rộng, một số tàu LNG ban đầu hướng tới châu Âu đã quay đầu để chuyển sang châu Á.
Một phần dầu thô của Saudi Arabia và UAE đã được chuyển hướng qua hệ thống đường ống, nhưng hạ tầng tương tự gần như không tồn tại đối với khí đốt. Nói cách khác, để vận chuyển khí đi xa bắt buộc phải dùng tàu chuyên dụng.
Trong khi nhiều quốc gia Trung Đông sản xuất dầu mỏ, hoạt động sản xuất khí đốt lại tập trung tại một khu công nghiệp khổng lồ ở Qatar. Điều này khiến thị trường LNG trở nên dễ tổn thương hơn nhiều trong thời gian tới, theo nhận định của Alex Munton, Giám đốc nghiên cứu khí đốt và LNG toàn cầu tại Tập đoàn Rapidan Energy.
Nguy cơ lớn nằm ở việc khởi động lại sản xuất LNG
Theo ông Munton, rủi ro thực sự nằm ở việc khởi động lại hoạt động sản xuất LNG của Qatar tại Tổ hợp công nghiệp Ras Laffan sau khi giao thông hàng hải qua eo Hormuz được nối lại.
Do quy trình làm lạnh khí đốt cực kỳ phức tạp nên việc khởi động lại sẽ mất nhiều thời gian hơn đáng kể so với sản xuất dầu.
Rapidan dự đoán xuất khẩu LNG từ khu vực này sẽ không thể nối lại cho đến khi có 100% chắc chắn rằng tàu thuyền có thể đi qua eo Hormuz an toàn.
Bảo hiểm cũng là một yếu tố quan trọng, một tàu chở LNG có thể trị giá tới 250 triệu USD.
Theo Rapidan, phải mất vài tuần thay vì vài ngày để khởi động lại hoàn toàn hoạt động sản xuất. Công ty này cũng lưu ý rằng toàn bộ tổ hợp LNG tại Ras Laffan chưa từng bị dừng hoạt động hoàn toàn trước đây.
Nguy cơ dài hạn nếu xung đột leo thang
Hiện Mỹ là nước xuất khẩu LNG lớn nhất thế giới, nhưng sản lượng gần như đã đạt tối đa công suất. Trong khi nguồn cung bổ sung trên toàn cầu rất hạn chế, cách duy nhất để cân bằng thị trường có thể là giảm nhu cầu, chẳng hạn chuyển sang sử dụng than - loại nhiên liệu hiện rẻ hơn.
Tuy nhiên, ông Munton cảnh báo rằng nếu xung đột leo thang, đặc biệt là các cuộc tấn công bổ sung nhằm vào cơ sở hạ tầng LNG của Qatar, hậu quả dài hạn có thể nghiêm trọng hơn nhiều.
Rapidan cho rằng các cuộc tấn công trước đây của Iran nhằm vào Ras Laffan chỉ là "phát súng cảnh báo, chưa phải đòn thật sự".
"Đó là một mục tiêu gần như đứng yên", ông Munton nói về khu công nghiệp này. "Nếu Iran muốn gây thiệt hại lớn cho năng lực LNG của Qatar, họ hoàn toàn có thể làm được… Không có cách nào phòng thủ tuyệt đối trước một cuộc tấn công của Iran nếu họ thực sự quyết tâm phá hủy nhà máy".
Ông cũng nhấn mạnh rằng với dầu mỏ, không có một điểm nào có thể khiến toàn bộ sản lượng Trung Đông sụp đổ, vì có quá nhiều mỏ dầu, quá nhiều quốc gia và cơ sở sản xuất.
"Nhưng với LNG thì khác, gần như chỉ có một cơ sở. Đó là một tổ hợp khổng lồ, nhưng vẫn chỉ là một địa điểm duy nhất".
Theo Bloomberg, công ty năng lượng quốc gia QatarEnergy hiện đã trì hoãn kế hoạch mở rộng các cơ sở khí đốt của mình đến năm 2027.
XUNG ĐỘT TRUNG ĐÔNG VẪN BẾ TẮC, CÁC DỰ BÁO NĂM 2026 ĐẢO CHIỀU
(1).jpg)
Cuộc chiến leo thang tại Trung Đông đang khiến giới đầu tư phải xem xét lại một số chiến lược và chủ đề đầu tư phổ biến nhất của năm 2026. Thị trường cổ phiếu toàn cầu lao dốc, đồng USD tăng mạnh và các nhà giao dịch cũng giảm bớt kỳ vọng về việc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ cắt giảm lãi suất.
“Trong năm nay, nhà đầu tư đã đặt cược vào tăng trưởng. Một cú sốc lạm phát đình trệ hoàn toàn không nằm trong kế hoạch,” ông Chris Turner, Giám đốc thị trường toàn cầu tại ING, cho biết.
“Các nhà đầu tư đang nhìn nhận mọi thứ một cách thận trọng hơn và vẫn còn nhiều vị thế phải tháo gỡ.”
Dưới đây là 5 chủ đề đầu tư phổ biến đã bị đảo lộn bởi xung đột ở Trung Đông.
1. Vị thế bán khống USD bị “siết chặt”
Theo dữ liệu hàng tuần từ cơ quan quản lý thị trường Mỹ, cho đến tận tháng trước, các nhà đầu tư vẫn đang nắm giữ vị thế đặt cược đồng USD giảm mạnh nhất kể từ năm 2021.
Kỳ vọng Fed sẽ cắt giảm lãi suất khiến việc mua vào đồng USD trở nên kém hấp dẫn.
Tuy nhiên, sau khi xung đột nổ ra, đồng USD đã tăng lên mức mạnh nhất kể từ tháng 11 năm ngoái, phản ánh làn sóng tìm kiếm tài sản an toàn.
“Đồng USD đang nổi lên là bên hưởng lợi lớn nhất từ cuộc xung đột Trung Đông,” Ipek Ozkardeskaya, nhà phân tích cấp cao tại Swissquote, nhận định. “Nền kinh tế Mỹ nhiều khả năng chống chịu tốt hơn trước các cú sốc năng lượng.”
Hiện nay, Mỹ là quốc gia xuất khẩu năng lượng ròng và chỉ nhập khẩu khoảng 17% nhu cầu năng lượng, mức thấp nhất trong 40 năm, theo ông Jean-François Robin, Trưởng bộ phận nghiên cứu toàn cầu tại Natixis CIB.
2. Chứng khoán toàn cầu ngoài Mỹ suy yếu
Thị trường cổ phiếu toàn cầu, vốn bước vào năm 2026 với đồng thuận mạnh mẽ về chiến lược “mua cổ phiếu”, hiện đã giảm mạnh.
Chỉ số MSCI World ex-US lao dốc sau các cuộc không kích của Mỹ và Israel nhằm vào Iran, trong khi S&P 500 tỏ ra vững vàng hơn khi nhà đầu tư ưu tiên thị trường Mỹ - nơi nền kinh tế ít phụ thuộc vào nhập khẩu năng lượng.
“Xung đột không phá vỡ hoàn toàn luận điểm đầu tư cổ phiếu năm 2026, nhưng khiến nó phụ thuộc nhiều hơn vào lãi suất và giá dầu,” Lale Akoner, chiến lược gia thị trường toàn cầu tại eToro, cho biết. Bà nói thêm rằng nếu giá năng lượng khiến lạm phát dai dẳng, định giá cổ phiếu (P/E) - chứ không phải lợi nhuận doanh nghiệp - sẽ là điểm yếu.
Bà cũng cho rằng những dấu hiệu trước đó cho thấy dòng tiền đầu tư đang mở rộng ra ngoài Mỹ đã mờ dần, khi nhà đầu tư quay lại với sự đa dạng và tính thanh khoản của thị trường Mỹ.
Các bộ trưởng tài chính G7 và Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) dự kiến sẽ thảo luận về khả năng cùng giải phóng kho dự trữ dầu khẩn cấp.
Theo Ozkardeskaya của Swissquote, cú sốc này có thể khiến dòng vốn chuyển sang các thị trường giàu tài nguyên năng lượng và gây áp lực lên các nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào năng lượng, đồng thời có thể làm chậm quá trình dịch chuyển dòng vốn từ Mỹ sang châu Âu và châu Á.
3. Thị trường mới nổi chao đảo
Cổ phiếu và tiền tệ của các thị trường mới nổi từng là nhóm tăng mạnh đầu năm.
Chỉ số cổ phiếu thị trường mới nổi của MSCI tăng hơn 15%, trong khi chỉ số tiền tệ thị trường mới nổi tăng 1,9% tính đến thứ Sáu tuần trước.
Tuy nhiên, chỉ trong tuần qua, hai chỉ số này giảm lần lượt 7% và 1,5%, với những cú giảm mạnh ở các thị trường từng tăng tốt trước đó như Kospi của Hàn Quốc.
Goldman Sachs nhận định trong một báo cáo gửi khách hàng rằng:
“Những đồng tiền giảm mạnh nhất tuần này chính là những đồng từng tăng tốt nhất trong giai đoạn tháng 1–2.”
Công ty môi giới này cho biết quá trình giảm rủi ro (de-risking) diễn ra mạnh nhất tại các thị trường chịu ảnh hưởng lớn từ Trung Đông và cú sốc dầu mỏ như Ai Cập, UAE và Thái Lan, cũng như các thị trường từng tăng mạnh năm ngoái như Hàn Quốc, Brazil và Nam Phi.
Các nhà phân tích tại JPMorgan đã hạ đánh giá tiền tệ thị trường mới nổi khu vực EMEA xuống mức “marketweight”, đồng thời đưa zloty của Ba Lan vào danh sách “underweight”, do khu vực Trung và Đông Âu đặc biệt nhạy cảm với giá năng lượng.
4. Kỳ vọng Fed cắt giảm lãi suất bị nghi ngờ
Giá năng lượng tăng vọt làm dấy lên lo ngại về lạm phát và khiến nhà giao dịch giảm kỳ vọng về việc Fed cắt giảm lãi suất.
Trước khi xung đột nổ ra, thị trường dự đoán khoảng 50% khả năng Fed sẽ cắt giảm lãi suất trong cuộc họp tháng 6 - lần đầu tiên dưới thời Chủ tịch mới.
Hiện nay, xác suất này đã giảm xuống khoảng 25%.
Cú sốc năng lượng gần đây cũng khiến thị trường giảm kỳ vọng cắt giảm lãi suất của Ngân hàng Anh, trong khi các nhà giao dịch thậm chí bắt đầu định giá khả năng Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) sẽ tăng lãi suất trong năm nay thay vì giảm.
Goldman Sachs cho biết:
“Một số thay đổi lớn nhất trong định giá chính sách tiền tệ của các ngân hàng trung ương G10 năm 2026 xảy ra ở những nền kinh tế trước đó được kỳ vọng sẽ tiếp tục nới lỏng trong năm nay.”
5. Cổ phiếu ngân hàng chịu áp lực
Cổ phiếu ngân hàng - vốn chỉ tăng nhẹ trong đầu năm 2026 - đã giảm khi nhà đầu tư đánh giá lại tác động kinh tế từ sự gián đoạn vận chuyển dầu tại eo biển Hormuz.
Nguy cơ chi phí năng lượng cao hơn làm dấy lên lo ngại lạm phát quay trở lại, kéo theo khả năng tăng trưởng tín dụng chậm lại và nhu cầu vay vốn suy yếu, ngay cả khi lãi suất vẫn ở mức cao.
Mặc dù lãi suất cao thường hỗ trợ biên lợi nhuận của ngân hàng, nhưng lo ngại lạm phát tái bùng phát có thể kìm hãm hoạt động vay mượn và đầu tư.
Theo bà Akoner của eToro:
“Rủi ro quan trọng cần theo dõi là chênh lệch tín dụng (credit spreads) và thanh khoản trên thị trường tư nhân. Các tin tức địa chính trị chỉ thực sự quan trọng khi chúng khiến điều kiện tài chính thắt chặt hơn.”
ĐIỀU MỸ KHÔNG NGỜ TỪ IRAN VÀ NGA
Xung đột Mỹ - Israel và Iran đã bước sang tuần thứ 2, lan rộng tới ít nhất 12 quốc gia, kéo theo những cú sốc kinh tế và chính trị lan khắp các châu lục. Dù vậy, không bên nào đạt được mục tiêu chiến lược và cả hai đều tuyên bố có thể “trụ lâu hơn” đối thủ.
Khi nguy cơ chiến sự kéo dài thành một cuộc chiến tiêu hao, Nga nổi lên như bên hưởng lợi rõ rệt, nhờ giá dầu và khí tự nhiên tăng vọt. Ngược lại, kinh tế phương Tây, các quốc gia vùng Vịnh và thậm chí cả Trung Quốc đều đang cảm nhận sức ép ngày càng lớn.
Sai lầm tính toán từ cả hai phía
Theo giới phân tích, cả Washington và Tehran đều đã đánh giá sai phản ứng của đối phương, khiến xung đột không ngừng leo thang và chưa có lối thoát rõ ràng.
Tổng thống Mỹ Donald Trump, người vừa điện đàm với Tổng thống Nga Vladimir Putin hôm 9/3, tuyên bố chiến tranh sẽ “kết thúc rất sớm”, nhưng lại nhấn mạnh Mỹ “sẽ đi xa hơn nữa”. Cùng ngày, Iran phóng hàng trăm tên lửa và UAV khắp Trung Đông.
Ông Trump tin rằng cuộc không kích ngày 28/2, khiến thủ lĩnh tối cao Iran, Đại giáo chủ Ali Khamenei qua đời , sẽ khiến chế độ Iran sụp đổ hoặc xuất hiện một “phương án Venezuela”, mà khi đó giới chức ôn hòa đứng lên hợp tác với Mỹ.
Dẫu vậy, mọi kỳ vọng ấy đều không xảy ra. Con trai ông Khamenei, Mojtaba Khamenei, lập tức tiếp quản quyền lực và tuyên bố sẽ đáp trả. Điều khiến Mỹ bất ngờ hơn là không có cuộc nổi dậy nội bộ nào xuất hiện.
Iran vẫn duy trì năng lực tấn công bằng tên lửa đạn đạo và UAV vào các căn cứ Mỹ, Israel, cũng như vào những thành phố trọng yếu của các nước vùng Vịnh. Đồng thời, họ đã phong tỏa eo biển Hormuz - tuyến đường mà khoảng 1/5 lượng dầu và khí tự nhiên hóa lỏng của thế giới phụ thuộc.
Chiến lược của Tehran là tấn công dồn dập vào sân bay, khách sạn, cơ sở năng lượng, cảng biển và trung tâm dữ liệu tại UAE, Bahrain, Kuwait, Qatar và Saudi Arabia nhằm buộc các nền quân chủ này gây sức ép buộc Mỹ chấm dứt chiến dịch theo điều kiện của Iran.
Trong khi đó, điều Iran không ngờ đến là sự kiên cường của các nước vùng Vịnh. Hệ thống phòng không của họ, với sự hỗ trợ của Mỹ, đã bắn hạ phần lớn UAV và tên lửa, giảm thiểu thiệt hại.
Nhà sử học Bader al-Saif đến từ Đại học Kuwait nói: “Điều gây hại cho chúng tôi cũng gây hại cho Iran và khả năng chịu đựng của họ kém hơn chúng tôi nhiều. Chúng tôi có thể xoay xở, còn họ thì khó có thể trụ lâu.”
Với các nước vùng Vịnh, một Iran “bị thương nhưng không gục ngã” là kịch bản tồi tệ nhất. Tehran vẫn có thể đe dọa các thành phố như Doha hay Dubai bằng UAV, đồng thời tiếp tục bóp nghẹt tuyến Hormuz.
Chính quyền Trump đang mô tả viễn cảnh “chiến thắng hoàn toàn”. Ông Trump cũng tuyên bố: “Chúng tôi sẽ không dừng lại cho đến khi kẻ thù bị đánh bại hoàn toàn.”
Nhưng thực tế, không chuyên gia nào tin rằng Iran có thể bị khuất phục dễ dàng.
Chuyên gia về Iran - Ellie Geranmayeh (ECFR), nhận định, Iran có lãnh thổ rộng, năng lực quân sự đáng kể và bộ máy thể chế vững chắc. Không có chiến thắng dứt điểm nào trong một cuộc chiến với Iran.
Theo bà, Iran đang tìm cách khiến Nhà Trắng cảm nhận cái giá kinh tế của cuộc chiến. “Cứ mỗi ngày chiến tranh tiếp tục, họ tin mình càng gây áp lực mạnh hơn.”
Nga - người hưởng lợi lớn từ sự xáo trộn
Giá dầu và khí đốt tăng vọt là tin vui hiếm hoi cho Moscow sau 1 năm doanh thu năng lượng giảm mạnh vì trừng phạt.
Phát ngôn viên Dmitri Peskov nói: “Kremlin đang chứng kiến nhu cầu tăng lên rõ rệt đối với năng lượng Nga do chiến sự ở Iran.”
Giới chuyên gia dự báo, nếu xung đột kéo dài vài tháng, Nga sẽ hưởng lợi lớn khi dầu duy trì ở mức cao. Một cuộc chiến khiến phương Tây hao hụt kho vũ khí, mất tập trung khỏi Ukraine và phụ thuộc trở lại vào năng lượng Nga là “phần thưởng chiến lược” cho ông Putin.
Theo chuyên gia Ali Vaez, trưởng dự án Iran tại tổ chức giải quyết xung đột International Crisis Group, Iran tin rằng Mỹ và Israel sẽ sớm cạn kiệt năng lực đánh chặn, giúp Tehran “gây tổn thất lớn hơn nhiều” lên các nước vùng Vịnh, qua đó buộc Trump phải cầu hòa theo điều kiện của Iran.
Ông nhận định: “Đó là suy nghĩ có phần ảo tưởng. Vì dù năng lực phòng thủ có suy giảm, Mỹ vẫn còn dư sức tấn công và có thể gây tổn thất nặng nề hơn cho Iran.”
Nếu Iran tiếp tục tấn công, các nước Arab có thể bị buộc phải tham chiến.
Trong khi đó, nhóm Houthi ở Yemen cho thấy chỉ cần vài UAV và tên lửa chống hạm là đủ để làm tê liệt tuyến vận tải biển quốc tế. Iran hoàn toàn có thể làm tương tự trong thời gian dài, trừ khi Mỹ và đồng minh mở chiến dịch đánh chiếm bờ biển Iran, điều mà các chuyên gia đánh giá là “rủi ro cực cao”.
Vaez cho rằng người kế nhiệm Mojtaba Khamenei, khi gia đình vừa thiệt mạng, không thể nào ngồi vào bàn đàm phán với Tổng thống Trump. Ông nhận định, nếu có lệnh ngừng bắn, Tehran sẽ lợi dụng quãng nghỉ này để đẩy nhanh chương trình vũ khí hạt nhân.
Nguồn: Báo Quốc Tế; Người Đưa Tin; Soha; CafeF
Bình luận và đánh giá
Gửi nhận xét đánh giá