- Tư vấn

Bồi thường về đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất của diện tích đất thu hồi cho người có đất thu hồi. Đáp ứng điều kiện gì mới được bồi thường về đất khi bị thu hồi đất?
Bồi thường về đất là gì?
Tại Điều 3 Luật Đất đai 2024 nêu rõ, bồi thường về đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất của diện tích đất thu hồi cho người có đất thu hồi.
Điều kiện được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất
Các trường hợp được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng:
Tại Điều 95 Luật Đất đai 2024 quy định điều kiện được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng bao gồm:
- Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không phải là đất thuê trả tiền thuê đất hằng năm;
- Cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có công trình là chùa, đình, đền, miếu, am, nhà thờ họ, công trình tín ngưỡng khác; đất nông nghiệp quy định tại khoản 4 Điều 178 của Luật này và đất đó không có tranh chấp, được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận là đất sử dụng chung cho cộng đồng;
- Người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài quy định tại khoản 1 Điều 44 của Luật này;
- Tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc được Nhà nước cho phép hoạt động đang sử dụng đất mà không phải là đất do Nhà nước giao, cho thuê; không phải là đất nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho từ ngày 01 tháng 7 năm 2004 trở về sau;
- Người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê; nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế;
- Tổ chức được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê; nhận thừa kế quyền sử dụng đất, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất;
- Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao được Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê;
- Tổ chức kinh tế, người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở để bán hoặc để bán kết hợp cho thuê; cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê.
Điều kiện bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất
Các trường hợp quy định nêu trên được bồi thường về đất khi có một trong các điều kiện sau đây:
- Có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất;
- Có quyết định giao đất hoặc quyết định cho thuê đất hoặc quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
- Có một trong các giấy tờ về quyền sử dụng đất làm căn cứ để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định tại Điều 137 của Luật này;
- Nhận chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật từ người có quyền sử dụng đất hợp pháp nhưng chưa hoàn thành thủ tục đăng ký đất đai;
- Được sử dụng đất theo thỏa thuận trong hợp đồng thế chấp để xử lý nợ; văn bản công nhận kết quả đấu giá quyền sử dụng đất mà người trúng đấu giá đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật.
Tại khoản 2 Điều 3 Nghị quyết số 254/2025/QH15 bổ sung trường hợp Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng, bao gồm:
- Thực hiện dự án trong khu thương mại tự do, dự án trong trung tâm tài chính quốc tế;
- Trường hợp sử dụng đất để thực hiện dự án thông qua thỏa thuận về nhận quyền sử dụng đất đã hết thời hạn phải hoàn thành việc thỏa thuận hoặc hết thời gian gia hạn phải hoàn thành việc thỏa thuận mà đã thoả thuận được trên 75% diện tích đất và trên 75% số lượng người sử dụng đất thì Hội đồng nhân dân cấp tỉnh xem xét, thông qua việc thu hồi phần diện tích đất còn lại để giao đất, cho thuê đất cho chủ đầu tư;
- Tạo quỹ đất để thanh toán dự án theo hợp đồng xây dựng - chuyển giao (hợp đồng BT), để cho thuê đất tiếp tục sản xuất, kinh doanh đối với trường hợp tổ chức đang sử dụng đất mà Nhà nước thu hồi đất quy định tại Điều 78, Điều 79 của Luật Đất đai, khoản 1 Điều này và điểm a khoản này.
Điều kiện thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng là phải hoàn thành việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và việc bố trí tái định cư theo quy định của Luật Đất đai, trừ các trường hợp sau đây:
- Thu hồi đất trong trường hợp phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư không bố trí tái định cư đã được niêm yết công khai nhưng chưa được phê duyệt đối với các dự án quan trọng quốc gia, dự án đầu tư công khẩn cấp theo quy định của pháp luật về đầu tư công, đối với dự án khác nếu được trên 75% người sử dụng đất đồng ý thu hồi đất trước khi phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư;
- Thu hồi đất trước khi hoàn thành việc bố trí tái định cư đối với trường hợp dự án đầu tư công khẩn cấp theo quy định của pháp luật về đầu tư công, dự án thực hiện tái định cư tại chỗ, dự án mà việc bố trí tái định cư theo tuyến công trình chính;
- Chính phủ quy định chi tiết việc thu hồi đất trước khi phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và thu hồi đất trước khi hoàn thành việc bố trí tái định cư.
Trường hợp khác được bồi thường về đất khi bị thu hồi đất
Tại Điều 5 Nghị định 88/2024/NĐ-CP (được sửa đổi bởi Nghị định 49/2026/NĐ-CP) các trường hợp khác được bồi thường về đất bao gồm:
1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có giấy tờ về quyền sử dụng đất mà đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất (sau đây gọi là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5 và 6 Điều 138 của Luật Đất đai.
2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có vi phạm pháp luật về đất đai trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 mà đã sử dụng đất ổn định, thuộc các trường hợp được xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 1, điểm a và điểm c khoản 2, khoản 3, khoản 4 Điều 139 của Luật Đất đai mà không phải đáp ứng điều kiện phù hợp với quy hoạch.
3. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất được giao không đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật về đất đai tại thời điểm được giao hoặc sử dụng đất do mua, nhận thanh lý, hóa giá, phân phối nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với đất không đúng quy định của pháp luật nhưng đã sử dụng đất ổn định trước ngày ngày 01 tháng 7 năm 2014.
Đối với trường hợp đất được giao không đúng thẩm quyền từ ngày 01 tháng 7 năm 2014 đến trước ngày Luật Đất đai có hiệu lực thi hành có giấy tờ chứng minh đã nộp tiền để được sử dụng đất.
4. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có giấy tờ về quyền sử dụng đất mà loại đất xác định trên giấy tờ đã cấp khác với phân loại đất theo quy định tại Điều 9 của Luật Đất đai hoặc khác với hiện trạng sử dụng đất thì bồi thường theo loại đất sau khi được xác định lại theo quy định tại khoản 2 Điều 10 của Luật Đất đai.
5. Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp đang sử dụng đất nông nghiệp mà đất đó đã sử dụng ổn định trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 nhưng không đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Xem tiếp tại đường Link =>https://share.google/WyTI42wln615cct9n
Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa hướng dẫn nguyên tắc xử lý vướng mắc khi thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ).
Trên Cổng thông tin Chính phủ, công dân thắc mắc:
"Từ năm 1996 đến năm 2000, bà T.T.A.N (TPHCM) nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ 5 hộ dân (đã có xác nhận của UBND xã Long Phước, tỉnh Đồng Nai tại thời điểm đó).
Năm 2006, thực hiện chủ trương tổng đăng ký đất đai, bà N đã kê khai và diện tích này được hợp nhất thành thửa đất số 200, tờ bản đồ số 67 (tài liệu đo đạc năm 2016). Hiện nay, thông tin người sử dụng đất trên Bản đồ địa chính xã Long Phước, thành phố Đồng Nai đã cập nhật tên T.T.A.N.
Gia đình bà quản lý, sử dụng đất ổn định, liên tục từ năm 1996 đến nay, không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất tại địa phương theo Văn bản xác nhận số 180/UBND ngày 24.6.2025 của UBND xã.
Hiện nay, bà N có nhu cầu thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng gặp trở ngại khách quan do các chủ sử dụng đất cũ đã qua đời, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gốc của các chủ cũ đã bị thất lạc và do thời gian trôi qua đã lâu nên bà không có thông tin về hàng thừa kế của các chủ cũ để phối hợp thực hiện thủ tục thu hồi sổ hoặc ký các văn bản liên quan.
Để bảo đảm quyền lợi hợp pháp của công dân theo quy định của Luật Đất đai hiện hành, bà N đề nghị cơ quan chức năng hướng dẫn các nội dung sau:
Đối với trường hợp sử dụng đất ổn định lâu năm, không có tranh chấp và phù hợp với quy hoạch sử dụng đất tại địa phương; đồng thời có giấy tờ chuyển nhượng thực tế đã được UBND xã xác nhận, nhưng hiện nay chủ cũ đã mất và Giấy chứng nhận gốc đã bị thất lạc như nêu trên, bà có đủ điều kiện để nộp hồ sơ theo diện "Cấp Giấy chứng nhận lần đầu cho người đang sử dụng đất" theo quy định của Luật Đất đai hiện hành hay không?
Nếu thuộc diện "Cấp Giấy chứng nhận lần đầu cho người đang sử dụng đất", bà đề nghị được hướng dẫn chi tiết danh mục hồ sơ cần chuẩn bị, và quy trình phối hợp với UBND xã theo đúng trình tự pháp luật. Trường hợp không thể thực hiện theo diện cấp lần đầu, bà N đề nghị được hướng dẫn mã thủ tục hành chính hoặc quy trình xử lý phù hợp đối với trường hợp nhận chuyển nhượng mà không liên lạc được với chủ cũ để bà có cơ sở thực hiện".
Bộ Nông nghiệp và Môi trường trả lời vấn đề này như sau:
Nội dung bà phản ánh liên quan đến quá trình sử dụng đất, nguồn gốc nhận chuyển nhượng, tình trạng thất lạc Giấy chứng nhận của chủ sử dụng đất trước đây và nhu cầu đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đây là vụ việc cụ thể, thuộc thẩm quyền xem xét, xác minh và giải quyết của cơ quan quản lý đất đai tại địa phương trên cơ sở hồ sơ, tài liệu và tình hình quản lý đất đai thực tế. Bộ không có đủ hồ sơ và không có thẩm quyền giải quyết trực tiếp nên không thể trả lời cụ thể cho từng tình huống.
Tuy nhiên, Bộ xin nêu một số nguyên tắc pháp luật có liên quan để bà tham khảo và làm việc với cơ quan địa phương:
Theo quy định tại Điều 135 Luật Đất đai thì Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất được cấp theo từng thửa đất cho người có quyền sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất có nhu cầu và đủ điều kiện theo quy định.
Theo quy định tại Điều 133 Luật Đất đai thì trường hợp thửa đất đã được cấp Giấy chứng nhận mà bị mất mà người sử dụng đất có nhu cầu thì được cấp lại.
Xem tiếp tại đường Link =>https://share.google/KFN6rjJSEI67QuuRw
Chỉ sau bốn năm, tư duy về giá đất đã chuyển từ niềm tin vào cơ chế thị trường sang tăng cường vai trò điều tiết của Nhà nước, sau khi thực tiễn triển khai Luật Đất đai 2024 tồn tại một số điều ngoài dự kiến.
Nghị quyết 18 và cái bẫy của "giá thị trường"
Điểm đột phá nhất của Nghị quyết 18 nằm ở chính sách giá đất. Nghị quyết yêu cầu: "Bỏ khung giá đất. Có cơ chế, phương pháp xác định giá đất theo nguyên tắc thị trường."
Tinh thần này được thể chế hóa trong Luật Đất đai 2024 bằng quy định xây dựng bảng giá đất sát giá thị trường.
Đây là một hướng đi hợp lý về mặt lý thuyết, nhưng lại dựa trên một giả định quan trọng: giá thị trường phản ánh đúng giá trị của đất.
Thực tế sau đó cho thấy, trong một thị trường vẫn còn đầu cơ, đấu giá không hợp lí, kỳ vọng quy hoạch và giao dịch chưa đủ minh bạch, giả định ấy không phải lúc nào cũng đúng.
Trong không ít trường hợp, "giá thị trường" không phản ánh giá trị kinh tế thực của đất, do đó đã mặc nhiên coi giá thị trường luôn là giá đúng.
Khi bảng giá đất được xây dựng trên những mức giá ấy, hệ quả xuất hiện nhanh. Bảng giá đất ở nhiều địa phương tăng mạnh. Tiền sử dụng đất và tiền thuê đất tăng. Giá nhà tiếp tục leo thang. Người trẻ ngày càng khó tiếp cận nhà ở, trong khi nhiều doanh nghiệp sản xuất không còn đủ khả năng mở rộng mặt bằng.
Tại cuộc gặp giữa Thủ tướng với cộng đồng doanh nghiệp mới đây, ông Đặng Hồng Anh, Chủ tịch Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam, cho biết có doanh nghiệp có tiền thuê đất tăng từ khoảng 600 triệu đồng trong giai đoạn 2016-2020 lên 20,8 tỷ đồng trong giai đoạn 2026-2030, tức gấp khoảng 35 lần so với thời điểm ký hợp đồng thuê đất ban đầu. Riêng năm 2025, tiền thuê đất đã chiếm tới 50% doanh thu thuần.
Đó không còn là câu chuyện của riêng thị trường bất động sản.
Khi chi phí đất tăng nhanh hơn khả năng tạo ra doanh thu, đất đai từ chỗ là đầu vào của sản xuất dần trở thành một loại tài sản tài chính. Người có đất giữ đất để chờ tăng giá hoặc cho thuê với giá cao. Người không có đất ngày càng khó tiếp cận nguồn lực phát triển, dù để ở hay để sản xuất, kinh doanh.
Đất đai từ nền tảng của tăng trưởng dần trở thành công cụ kinh doanh của hầu hết các chủ thể trên thị trường. Khi đất trở thành tài sản tài chính nhiều hơn là tư liệu sản xuất, nền kinh tế tất yếu phải gánh một mặt bằng chi phí cao hơn, còn đầu tư sản xuất dần lép vế.
Một hệ quả khác cũng dần bộc lộ.
Khi bảng giá đất được xây dựng theo sát diễn biến của thị trường, dư địa để Nhà nước chủ động điều tiết mặt bằng giá đất cũng thu hẹp hơn. Chính sách định giá từ chỗ mang tính dẫn dắt có xu hướng phải bám sát những biến động của thị trường, kể cả khi những biến động đó chịu tác động của đầu cơ hoặc kỳ vọng ngắn hạn.
Điều này đồng thời đặt ra một bài toán về thể chế. Nhà nước vừa là đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai, vừa quyết định giá đất, giao đất, cho thuê đất, thu tiền sử dụng đất và quản lý nguồn thu từ đất. Khi nhiều chức năng cùng tập trung vào một chủ thể, yêu cầu về tính minh bạch, cơ chế giám sát và kiểm soát quyền lực càng trở nên quan trọng để bảo đảm các quyết định về giá đất hướng tới lợi ích chung.
Ở góc độ tài khóa, mặt bằng giá đất cao hơn có thể giúp tăng nguồn thu ngân sách. Tuy nhiên, nếu giá đất tăng nhanh hơn năng lực tạo ra giá trị của nền kinh tế, chi phí đầu tư, sản xuất, kinh doanh và nhà ở cũng sẽ tăng theo, làm giảm sức cạnh tranh của doanh nghiệp và khả năng tiếp cận đất đai của người dân.
Đó là bài toán mà cách tiếp cận định giá đất theo thị trường đã đặt ra trong thực tiễn: Làm thế nào để vừa phản ánh tín hiệu của thị trường, vừa giữ được vai trò điều tiết của Nhà nước và bảo đảm đất đai tiếp tục là nguồn lực cho phát triển, thay vì trở thành động lực làm gia tăng chi phí của toàn bộ nền kinh tế.
Và đó cũng là bối cảnh để Nghị quyết 21 lựa chọn một cách tiếp cận khác đối với chính sách giá đất.
Nghị quyết 21 và sự trở lại của vai trò Nhà nước điều tiết
Sau khi chỉ ra những bất cập trong quản lý, sử dụng đất đai và thực tiễn thi hành pháp luật, Nghị quyết 21 lựa chọn một cách tiếp cận mới đối với chính sách giá đất.
Nghị quyết quy định: "Nhà nước điều tiết, kiểm soát và quyết định giá đất khi đưa vào sử dụng, không để hình thành cơ chế nhiều giá."
Điều đáng chú ý là Nghị quyết không chỉ nhấn mạnh vai trò điều tiết của Nhà nước mà còn đặt mục tiêu "không để hình thành cơ chế nhiều giá". Điều đó cho thấy mục tiêu không đơn thuần là xác định một mức giá đất, mà hướng tới xây dựng một hệ thống giá minh bạch, thống nhất hơn, hạn chế những chênh lệch giá tạo ra cơ hội trục lợi, khiếu kiện và méo mó trong phân bổ nguồn lực.
Nhìn rộng hơn, đây là sự thay đổi trong cách nhìn về giá đất. Giá đất không còn chỉ được xem là kết quả của quan hệ cung - cầu trên thị trường, mà còn là một công cụ để thực hiện các mục tiêu phát triển.
Một mức giá hợp lý không chỉ phản ánh giá trị của đất, mà còn phải bảo đảm người dân có thể tiếp cận nhà ở, doanh nghiệp có thể đầu tư sản xuất và Nhà nước có đủ nguồn lực để phát triển hạ tầng.
Nếu thực hiện tốt, Nhà nước có thể chủ động ổn định mặt bằng giá đất, hạn chế những cơn sốt đầu cơ và đưa đất đai trở lại đúng vai trò là đầu vào của sản xuất.
Lợi ích của chính sách không chỉ dừng lại ở thị trường bất động sản. Khi giá đất được kiểm soát ở mức hợp lý, chi phí giải phóng mặt bằng cho các dự án hạ tầng, khu công nghiệp, nhà ở xã hội, đường sắt hay các công trình công cộng cũng có điều kiện giảm xuống. Chi phí đầu tư của doanh nghiệp giảm, khả năng tiếp cận nhà ở của người dân được cải thiện và sức cạnh tranh của cả nền kinh tế có cơ hội được nâng lên.
Một mặt bằng giá đất hợp lý hơn cũng góp phần hạn chế thu hẹp khoảng cách giữa người có đất và người không có đất, đồng thời đưa đất đai trở lại là nguồn lực phục vụ phát triển thay vì chủ yếu là công cụ tích trữ tài sản.
Tuy nhiên, cơ chế mới cũng đặt ra một bài toán thể chế không kém phần khó khăn.
Khi Nhà nước được trao quyền điều tiết và quyết định giá đất lớn hơn, yêu cầu kiểm soát quyền lực cũng phải lớn hơn tương ứng.
Trên thực tế, Nhà nước vẫn đồng thời là đại diện chủ sở hữu đất đai, quyết định giá đất, giao đất, cho thuê đất, thu tiền sử dụng đất và sử dụng nguồn thu đó cho ngân sách. Nếu không đi kèm những thiết chế kiểm soát quyền lực hiệu quả thì bảng giá đất rất có thể bị chi phối bởi mục tiêu tăng thu ngân sách hoặc các mục tiêu hành chính ngắn hạn thay vì mục tiêu phát triển.
Một rủi ro khác cũng cần được tính đến là nguy cơ chuyển từ định giá theo thị trường sang định giá hành chính. Nếu thiếu dữ liệu đầy đủ, phương pháp định giá khoa học và đội ngũ định giá độc lập, giá đất có thể không phản ánh đúng điều kiện phát triển của từng địa phương, vừa gây thiệt cho người dân khi thu hồi đất, vừa làm tăng chi phí của doanh nghiệp khi tiếp cận đất đai.
Xem tiếp tại đường Link =>https://share.google/5AiGx7C7hdt6e81yV
Một ngân hàng có thông báo quan trọng liên quan đến các giao dịch rút/chuyển tiền của khách hàng.
Mới đây, TPBank đã phát đi thông báo triển khai chương trình cập nhật thông tin nhận biết khách hàng (KYC) năm 2026 từ ngày 1/8 đến hết 31/8.
Theo thông báo, TPBank yêu cầu khách hàng rà soát và cập nhật các thông tin nhận biết đã đăng ký khi mở tài khoản hoặc trong quá trình sử dụng dịch vụ nếu có thay đổi. Đặc biệt, những khách hàng đã được cấp đổi, cấp lại thẻ Căn cước/CCCD, hộ chiếu hoặc các giấy tờ tùy thân khác cần sớm cập nhật thông tin với ngân hàng.
Ngân hàng cũng lưu ý những khách hàng thuộc diện phải đổi thẻ Căn cước theo quy định của Luật Căn cước 2023, trong đó có người sinh các năm 2001, 1986 và 1966 , cần hoàn tất việc đổi giấy tờ và cập nhật với TPBank ngay sau khi được cấp thẻ mới.
Theo TPBank, nếu phát hiện giấy tờ tùy thân của khách hàng đã hết thời hạn sử dụng, hết hiệu lực hoặc có thay đổi nhưng chưa được cập nhật, ngân hàng có quyền từ chối cung cấp dịch vụ, thực hiện giao dịch cho đến khi khách hàng hoàn thành việc cập nhật thông tin theo quy định.
Thời gian triển khai chương trình cập nhật thông tin tại TPBank kéo dài đến hết ngày 31/8/2026 . Sau thời điểm này, nếu khách hàng không phản hồi, ngân hàng sẽ hiểu thông tin nhận biết không có thay đổi, trừ trường hợp đã xác định được thông tin của khách hàng thay đổi theo quy định pháp luật.
Khách hàng có thể cập nhật thông tin trực tiếp tại chi nhánh, phòng giao dịch hoặc điểm LiveBank của TPBank. Đối với người sử dụng dịch vụ ngân hàng số, một số thông tin như địa chỉ hoặc email có thể được cập nhật ngay trên ứng dụng TPBank hoặc hệ thống ngân hàng điện tử.
TPBank cho biết việc cập nhật KYC trong đợt này được thực hiện hoàn toàn miễn phí. Ngân hàng khuyến nghị khách hàng chủ động rà soát và cập nhật thông tin kịp thời để tránh ảnh hưởng đến quá trình sử dụng dịch vụ và thực hiện các giao dịch tài chính.
Đáng chú ý, đây không phải quy định chỉ áp dụng tại TPBank. Theo Thông tư 17/2024/TT-NHNN về mở và sử dụng tài khoản thanh toán (được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư 25/2025/TT-NHNN), các ngân hàng có trách nhiệm theo dõi thời hạn hiệu lực giấy tờ tùy thân của khách hàng, thông báo trước khi giấy tờ hết hạn và có thể tạm dừng giao dịch thanh toán, rút tiền trên tài khoản đối với trường hợp giấy tờ tùy thân hết hiệu lực hoặc hết thời hạn sử dụng nhưng chưa được cập nhật.
Để tránh bị gián đoạn giao dịch, khách hàng nên chủ động kiểm tra thời hạn của CCCD, thẻ Căn cước, hộ chiếu hoặc các giấy tờ tùy thân đã đăng ký với ngân hàng. Trường hợp đã được cấp đổi, cấp lại hoặc có thay đổi thông tin cá nhân (họ tên, địa chỉ, giấy tờ tùy thân...), cần cập nhật ngay với ngân hàng thông qua ứng dụng ngân hàng số (nếu được hỗ trợ) hoặc đến chi nhánh, phòng giao dịch gần nhất.
Xem tiếp tại đường Link =>https://share.google/sDXApy2t9kJRB7Gyf
Theo quy định hiện hành, một số người đã nộp 100% tiền sử dụng đất khi chuyển đất nông nghiệp sang đất ở có thể được xem xét hoàn tiền.
Trên Cổng Thông tin Bộ Tài chính, bạn đọc Đ.T.N.T ở An Giang phản ánh: "Vào năm 2008, tôi có nhận chuyển nhượng miếng đất 66,7m² (trong đó đất ở 26,9m² và đất CLN 39,8m²).
Sau khi có sổ đỏ tôi làm hồ sơ xin chuyển mục đích sử dụng đất vào tháng 6.2025, cơ quan thuế đã tính tiền sử dụng đất 100% chênh lệch giá đất và tôi đã nộp đủ tiền sử dụng đất 100% theo Nghị quyết 254/2025/QH15".
Từ thông tin này, bạn đọc hỏi, hồ sơ của bạn đọc có được tính lại tiền sử dụng đất không?
Trả lời câu hỏi của độc giả, Thuế tỉnh An Giang có ý kiến như sau:
Căn cứ Điều 6 và khoản 2 Điều 12 Nghị định 50/2026/NĐ-CP ngày 31.1.2026 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Nghị quyết số 254/2025/QH15.
Căn cứ Công văn số 7713/BTC-QLCS ngày 8.6.2026 của Bộ Tài chính hướng dẫn về việc tính tiền sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân khi chuyển mục đích sử dụng đất từ đất vườn, ao, đất nông nghiệp sang đất ở.
Căn cứ các quy định trên, các trường hợp được áp dụng quy định về mức thu tiền sử dụng đất theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 10 Nghị quyết số 254/2025/QH15 bao gồm:
Đất vườn, ao, đất nông nghiệp trong cùng thửa có đất ở được xác định khi công nhận quyền sử dụng đất.
Đất có nguồn gốc là đất vườn, ao, gắn liền với đất ở nhưng người sử dụng đất tách ra để chuyển quyền sử dụng đất.
Đất có nguồn gốc là đất vườn, ao gắn liền đất ở do đơn vị đo đạc khi đo vẽ bản đồ địa chính trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 đã tự đo đạc tách thành các thửa riêng.
Trường hợp đáp ứng điều kiện nêu trên, quy trình giải quyết được thực hiện như sau:
Nộp văn bản đề nghị: Người sử dụng đất nộp văn bản đề nghị tính lại tiền sử dụng đất chậm nhất trước ngày 01 tháng 01 năm 2027 đến Bộ phận một cửa liên thông.
Tiếp nhận & Chuyển hồ sơ: Bộ phận một cửa liên thông cấp giấy tiếp nhận và hẹn trả kết quả; chuyển văn bản này đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất.
Xác định hạn mức: Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện việc xác định hạn mức giao đất ở của thửa đất được lựa chọn để tính hoặc tính lại tiền sử dụng đất.
Cơ quan Thuế xử lý: UBND cấp xã chuyển thông tin đến cơ quan thuế để xem xét, xử lý tính lại.
Xem tiếp tại đường Link => https://share.google/ROzM3hbPVoaY13pFc
Nguồn: 24h; Lao Động; Vietnamnet; CafeF
Cấp nhầm sổ đất cho dân; Gỡ tạm hoãn xuất cảnh vì nợ thuế; Đánh thuế 0,2% đất bỏ hoang; Lưu ý mới từ cơ quan Thuế; Tháo gỡ vướng mắc đất đai, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
Người có bất động sản chú ý; VNeID thay đổi mới; Lưu ý dùng camera, TV, máy giặt, tủ lạnh kết nối Internet; Nộp thuế đất phi nông nghiệp; Định danh tài khoản MXH trên VNeID
Chú ý mức phạt khai báo tạm trú; Quy định cấp đổi sổ đỏ ghi đất “thổ cư”; Gỡ khó cho 4.000 trường hợp bị mạo danh; Điều kiện giảm 50% tiền sử dụng đất; Lỗ hổng thừa kế
Tạo chữ ký số trên VneID; Điều tra giao dịch chuyển khoản sau; Cấp sổ đỏ đất không phù hợp quy hoạch; Quy định đất bỏ hoang, bị đánh thuế; Quy định mới xuất, nhập khẩu gạo
Dừng cấp sổ do hàng xóm không ký giáp ranh; Người đi hát karaoke chú ý; Quy định mới đặt cọc mua nhà đất; Nên chọn chung cư sơ cấp hay thứ cấp; Quy định hạn mức đất đai
Các loại tài khoản phải liên kết VNeID; VNeID tích hợp tính năng mới; Ký giáp ranh cấp sổ hồng; Hoang mang thuế đất phi nông nghiệp; Lời khuyên gửi tiết kiệm online
Trợ cấp hưu trí xã hội; Điều tra giao dịch chuyển tiền; Các loại giấy tờ tích hợp trên VNeID; Điều chỉnh diện tích sổ đỏ; Chuyển đất ao sang đất ở
Hàng ngàn đất nền, biệt thự được cấp sổ; Cấp hộ chiếu sau phẫu thuật thẩm mỹ khuôn mặt; Sửa Luật Xử lý vi phạm hành chính; Gỡ điểm nghẽn đất đai không chỉ bằng sửa luật
Bình luận và đánh giá
Gửi nhận xét đánh giá