Ngày đã sang; Đồng tiền mình kiếm ra; Tìm lại tuổi xuân

NGÀY ĐÃ SANG

“Ngày đã sang đêm còn khép mắt”
Tia nắng rón rén lay gọi người
Gió chen ngang níu giấc mơ trôi
Giao thoa tối sáng
chần chừ chẳng vội.

Choàng tỉnh thức quờ ngỡ còn bên gối
Mằn mặn nơi gò má lạnh chút cay
Vết lõm in hằn mộng mị đau say
Giật mình đêm rời dần
lặng lẽ.

Đêm uể oải đêm
nhớ một thời tuổi trẻ
Dẫu canh tàn chỉ còn ta với ta
Hương Ngọc Lan dìu dịu thoảng nhẹ qua
Ngày đã sang sao đêm còn khép mắt…!

Nguồn: FB Hang Nguyen - Plauen

 


ĐỒNG TIỀN MÌNH KIẾM RA

Xưa, có vợ chồng nọ
Sinh được người con trai,
Chiều chuộng và yêu lắm,
Mong sau này thành tài.

Nhưng nhà giàu, chiều quá
Nên cậu chàng rất lười.
Lớn lên, chẳng chịu học,
Mà chỉ thích ăn chơi.

Ông bố trước khi chết
Nói với vợ: “Thằng con
Là thằng vô tích sự,
Tôi quả rất đau buồn.

Vậy sau khi tôi chết,
Bao của cải trong nhà
Đem cho ai cũng được,
Miễn đừng cho hắn ta.”

“Ấy, ông đừng nói thế.
Mình giàu nên nó lười.
Khi cần, nó có thể
Kiếm tiền như mọi người.”

“Thì bà hãy bảo nó
Kiếm một đồng xem nào.
Kiếm được, tôi cho nó
Cả gia tài chẳng sao.”

Chồng bà tính nghiêm khắc,
Và bà rất sợ ông.
Sợ cả việc ông chết,
Con trai bà tay không.

Bà đưa tiền cho cậu,
Dặn tối đến về nhà,
Bảo làm thuê mà có,
Rồi đưa tiền cho cha.

Xem đồng tiền tối ấy,
Ông bố liền vung tay
Vứt ngang qua cửa sổ:
“Không phải tiền của mày!”

Anh con nhìn, không đáp,
Lẳng lặng ra khỏi nhà.
Sáng hôm sau, bà mẹ
Đưa tiền cho anh ta:

“Lần này con phải nhớ
Chạy nhiều trước khi về,
Sao cho quần áo ướt,
Mặt mồ hôi dầm dề.”

Tối đến, anh con nói
Phải làm việc suốt ngày
Kiếm được đồng tiền ấy,
Nên áo ướt thế này.

Ông bố xem, nhíu mặt,
Lại lần nữa vung tay
Vứt tiền qua cửa sổ:
“Đây không phải tiền mày!”

Anh con, cả lần ấy,
Cũng chẳng nói năng gì.
Không ra vườn nhặt lại.
Khinh khỉnh cười, bỏ đi.

Giờ thì bà mẹ hiểu
Con cứ lười thế này
Thì sau khi bố chết
Nhất định sẽ trắng tay.

Nên bà bảo cu cậu:
“Kiểu này khó lừa ai.
Con chịu khó lao động
Mới được nhận gia tài.”

Anh con nghe, sau đó
Liên tục suốt bảy ngày
Đi làm thuê vất vả,
Đến sưng rộp hai tay.

Cuối cùng cũng kiếm được
Một đồng bạc, về nhà,
Áo quần bẩn, nhem nhuốc,
Anh đưa nó cho cha.

Ông bố nhìn, im lặng,
Rồi lần nữa vung tay
Ném tiền vào bếp lửa:
“Nó không phải của mày!”

Anh con ngay lập tức
Chạy đến bếp tìm tiền,
Bất chấp tro đang nóng,
Dùng hai tay moi lên.

Ông bố liền bảo vợ,
Giờ tôi tin con bà
Kiếm ra đồng tiền ấy.
Thật là phúc cho ta.

Rồi ông làm di chúc
Toàn bộ gia tài mình
Cho con, trước lười biếng,
Nay chăm làm, thông minh. 

Nguồn: FB Thái Bá Tân

 

 

TÌM LẠI TUỔI XUÂN

Chị quay trở lại Liên Xô khi chị đã xấp xỉ tứ tuần. Chị xin sang làm đội trưởng cho công nhân lao động. Chật vật mãi chị mới qua hết được các khâu thủ tục để lên đường. Lúc chị sang đến nơi, tình hình Liên Xô đã lộn xộn lắm rồi, không còn là thiên đường của người nhà ta nữa. Lúc đầu chị khá cạu cọ với mọi người, nghiêm khắc với các em, khó gần với các đội trưởng và phiên dịch khác. Mọi người cũng ngại va chạm với chị, trừ phi có việc của đơn vị cần trao đổi. Người Việt mình, khi mới làm quen với nhau, câu cửa miệng hay hỏi là bao nhiêu tuổi, có gia đình chưa? Những người khác thì vui vẻ trả lời, nhưng riêng với chị, ai hỏi thế chị cộc lốc “Rồi!”. Nếu ai đó có việc mà vào phòng chị, sẽ thấy ngay một khung ảnh rất đẹp đặt trên bàn. Ảnh chị và một cậu bé trai khôi ngô, chừng 12, 13 tuổi. Ai có trót dại tò mò hỏi, có phải con trai chị không, chị trả lời cụt lủn “Phải!”
Chả ai dám gần chị, nếu không có việc liên quan. Ai cũng bận việc của mình. Bẵng đi cả nửa năm, đột nhiên, có một ngày tuyết rơi trắng xóa đường, một anh tây to cao lừng lững đến tìm chị. Trông anh này trạc 40 tuổi. Chị Nina trực nhật của Ký túc xá (quân ta quen gọi là ốp), cứ thấy trai đẹp là mặt long lanh, hấp háy, nhiệt tình cho vào, chỉ lên tận phòng. Thế là kể từ ngày đó cứ hai tuần một lần anh ta lại mò đến. Lúc đầu vì sợ, bọn trẻ con chả ai dám nói gì. Sau rồi bọn chúng thì thầm đầy bí hiểm với mấy cô mấy chị phiên dịch đội trưởng ở tầng dưới. Thời điểm đó, việc khách nam ra vào phòng nữ cũng không lấy gì làm đẹp mắt với những người xung quanh. Đơn vị trưởng có nhắc nhở, nhưng chị nín thinh, không một lời giải thích.
Chị không có phiên dịch, lúc đầu chị kiêm hết, nhưng như thế khá vất vả. Hơn nữa chị cũng chật vật khi vấp phải các tình huống mà cần thuật ngữ về y tế, và máy dệt, chị đi tìm phiên dịch đội khác, sẽ sàng có ý muốn nhờ giúp. Tôi là đứa ở tầng dưới, chung cầu thang, nên hay gặp chị nhất. Chả phải bàn, bản tính tôi vốn vô duyên, hay sẵng bõ như mõ làng, nhưng thân thiện và vui vẻ, làm chị bớt e ngại. Với lị, vì tôi ở đó đã lâu, nên thuật ngữ chỉ là chuyện nhỏ! Cứ thế, chị dần dà cởi mở hơn với tôi. Cho đến khi tôi sắp về nước, chị có ý nhờ tôi mang quà cho gia đình chị. Chị hỏi tôi có rảnh không, lên phòng chị chơi. Chị bảo:
- Chị thấy tính em cởi mở, thoải mái, không nhiều chuyện, mà thấy em có vẻ văn thơ lai láng, chị sẽ kể cho em câu chuyện của mình. Chị có một thời thanh xuân đầy tươi đẹp, nhưng vô cùng đau khổ. Sau này nếu em có thời gian, em viết lại nhé. Giờ chị chẳng ngại ngần để thiên hạ biết chuyện của chị.
Chị bảo chị chưa lấy chồng. Thằng bé trong ảnh là cháu ruột của chị. Để ảnh ở đây, mọi người đỡ phải hỏi và thắc mắc. Chị bảo mối tình đầu và là mối tình duy nhất của chị thấm đẫm nước mắt. Nếu có thể đong đếm được, có lẽ nước mắt của chị chảy thành sông.

Cuối những năm 60 của thế kỷ trước, chị học hết cấp ba, với học lực xuất sắc, chị được nhà nước cử đi học Liên Xô. Lúc ấy chị và các bạn đồng trang lứa phải đi tàu liên vận hết cả tháng trời mới đến được đất nước trong mơ của bao người ở nhà. Kỷ luật học hành và sinh hoạt là vô cùng nghiêm ngặt. Trong khi cả nước còn có chiến tranh, các anh các chị được cử đi học là một đặc ân, cần phải học cho tốt. Yêu đương luyến ái là cấm chỉ. Trót dại mà yêu người của nước bạn là chỉ có lên đường về nước. Đơn vị trưởng mà phát hiện ra là cả cuộc đời và tương lai ở phía trước sẽ bị đóng sập lại phũ phàng. Chị cũng phải ép mình theo guồng đó. Được cái chị học rất giỏi, lại cởi mở nên các bạn rất thích chị, thường hay rủ chị đi chơi. Nếu có đi chơi cũng phải đi ba người trở lên, cấm được đi chơi tay đôi với bạn khác giới. Tuổi mười chín đôi mươi, hừng hực sức xuân, chị cũng chẳng kìm lòng được khi có người bạn cùng lớp theo đuổi chị. Lúc đầu chị rất sợ, sợ bị kỷ luật. Sang đây để học, chứ không phải để nam nữ luyến ái. Chị thì bé như cái nắm cơm, còn anh bạn tóc vàng kia thì cao to đẹp trai lúc nào cũng muốn săn đón chị ở mọi nơi. Chị lảng tránh, bởi nếu biết được, ‘tình ngay lý gian’, đơn vị trưởng báo cáo lên các bác Sứ là chị tiêu đời. Nhưng càng tránh, gã trai càng xông vào. Nhưng gã cũng khôn khéo hơn, không lộ diện nữa, sợ ảnh hưởng tới chị, sau khi chị ngầm báo là nếu gã cứ ‘xồng xộc’ kiểu như thế, chị sẽ bị kỷ luật. Gã ớ ra, ngạc nhiên hết sức rồi chấp hành. Mọi việc từ thư từ, tin nhắn, đi chơi giữa hai người đều qua một người thứ ba, đó là cô bạn thân của chị. Cô bạn chị luôn làm bình phong cho hai người. Nếu chị hẹn hò đi chơi với chàng, chị và bạn gái khoác vai nhau ra khỏi ốp, nhưng đến rạp chiếu phim hoặc điểm hẹn, người bạn gái kia chuồn đi cửa hàng, hoặc đi đâu đó, khi đến giờ quay về, họ hẹn nhau ở ga tàu điện ngầm, hoặc bến tàu, xe buýt. Hai người lại đoàng hoàng trở về Ốp. Cứ thế, tình yêu đầu đời bùng lên như ngọn núi lửa mà không gì có thể dập tắt. Với cái bài đi chơi kiểu như thế, chị bao lần thoát hiểm đến nhà chàng. Mẹ chàng quý chị vô cùng, bởi chị luôn tỏ ra thân thiện, khéo léo nấu ăn. Có hôm bà mặc kệ cho hai đứa ở nhà thoải mái. Với bà, chị đã là con dâu quý hóa, chẳng qua vì luật pháp không cho phép. Nhiều lúc bà thấy hai đứa ríu rít bên nhau, bà nhìn thở dài đầy thương cảm. Bà lo lắng cho tương lai của chị và của chính con trai bà. Nhưng bà luôn tạo điều kiện cho hai đứa ở một mình bên nhau, bà cứ kiếm cớ đi ra khỏi nhà cả ngày, đến chiều tối mới về. Chuyện gì đến cũng sẽ đến. Tình yêu đầu đời, họ cũng chẳng kìm chế được những khác vọng thanh xuân của con người. Chỉ có điều chàng và nàng đều biết cách gìn giữ để chị có thể yên ổn học hành. Tình yêu của họ cứ lớn dần theo năm tháng, vụng trộm nhưng nồng nàn và mãnh liệt. Năm năm học trôi qua thật nhanh, đến ngày chị tốt nghiệp về nước. Chàng khóc như mưa như gió, gào lên thảm thiết, quỳ gối xin chị ở lại. Chị bảo như thế là ‘phản bội’ người nhà, làm bố mẹ xấu mặt và đất nước đang còn chiến tranh. Lúc này mọi người ở trường và Đơn vị cũng láng máng biết chuyện của hai người. Những lời răn đe cảnh cáo bắt đầu đến với chị. Học xong rồi, bảo vệ tốt nghiệp rồi, nhưng đừng có mà lơ tơ mơ. Vớ vẩn là về nhà không được phân công công tác.
Chị chia tay người yêu lên đường về nước. Sinh viên về nước chật kín hai toa tàu. Những toa khác thì toàn người Nga, người thì đi tới Xi bia, Thành phố giữa hai con sông (Mezdu), I a cút, Hồ Bai Kan, Viễn đông….. Tàu liên vận bao giờ cũng đi qua các vùng này. Tàu đi hết chiều ngang của nước Nga cũng phải hơn một tuần.
Cán bộ quản lý lưu học sinh cũng được cắt cử về nước, theo tinh thần quản lý đến phút chót. Chàng của chị cũng leo lên tàu, dù không ngồi chung toa, nhưng tàu cứ đỗ ga nào là hai người lại tranh thủ gặp nhau. Họ chỉ nhìn nhau, nước mắt lưng tròng, không ai dám nói với ai lời nào. Những hành vi này của họ không thoát khỏi con mắt dò xét của những vị quản lý đi theo đoàn. Tàu khi tàu đến biên giới Mông cổ, chàng buộc phải dừng lại, xuống tàu. Lúc này chàng khóc to như đứa trẻ, thiết tha nói chị ở lại với một hy vọng mong manh có thể chị đổi ý. Tình yêu Tổ quốc, nỗi lo gia đình, bố mẹ anh chị em bị ảnh hưởng, chị chỉ biết khóc không dám nghe theo tiếng gọi của con tim. Ôm nhau quyếnh quàng, nước mắt rơi chan chứa, chị vội vã lên tàu. Tàu chuyển bánh, chàng đứng giữa sân ga, khóc to như đứa trẻ. Chị vẫn nghe thấy chàng gọi tên mình cho đến khi tàu tăng tốc ra khỏi sân ga.

Đó là năm 72, chị về nước được vài tháng thì giặc Mỹ leo thang ném bom miền Bắc lần thứ hai. Vì bị ghi sổ ‘đen’ do có quan hệ thiếu lành mạnh với người nước ngoài, nên chị là người được phân công công tác muộn nhất. Các bạn chị hầu hết được phân công vào những Bộ, ngành, cơ quan Trung ương, còn chị thì mãi mới được phân công đến thành phố cảng. Chị làm việc và ở ngay trong khu nhà một tầng dành cho cán bộ độc thân của cơ quan. Cơm niêu nước lọ, sinh ra và lớn lên ở Thủ đô, quen sướng từ bé, với chị như thế là cực hình. Ngoài công việc chị chỉ dành thời gian viết thư. Thư chàng liên tục, gần như tuần nào chị cũng có thư, có tuần có tới hai thư. Việc nhận được nhiều thư cũng làm ‘ngứa mắt’ cán bộ tổ chức. Đận ấy, thành phố cảng bị đánh bom khá nhiều. Việc thư từ với người nước ngoài là việc không nên! Có người có ý kiến với chị rằng không nên thư từ như thế, rồi chẳng đi đến đâu cả. Thế là chị cũng không dám viết thư nữa. Chị không còn hồi âm những bức thư nóng bỏng tình yêu, thấm đẫm nước mắt của chàng. Chị không viết cho chàng cả năm trời, chàng trách cứ chị. Thư chàng thưa dần, thưa dần rồi lịm hẳn. Chị sống như cái bóng, chả buồn để ý tới ai. Chị khép lòng mình lại, ngày đi làm, đêm về lại gặm nhấm quá khứ.
Sang đầu những năm 80, nhà nước ký kết hợp tác lao động với các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu. Cách nhìn của mọi người có phần cởi mở hơn, việc lấy người nước ngoài không còn khó khăn hay bị cấm cản như trước, đặc biệt là sau chính sách mở cửa. Chị lại viết thư cho chàng. Nhưng tất cả thư đều bị trả lại, không có người nhận. Chầy trật mãi chị mới xoay được một xuất đi làm Đội trưởng, quản lý nữ công nhân lao động. Sau 17 năm chị mới có dịp quay lại Nga. Thời buổi lao động đi thì đông, phiên dịch thiếu trầm trọng, chị chấp nhận làm đội trưởng kiêm phiên dịch và chờ được bổ sung người khi sang đấy. Chẳng gì chị cũng từng học ở Nga, chỉ có 17 năm không dùng tiếng đó thôi mà. Sang sẽ nhớ lại tất. Chị tự động viên mình. Nhưng đi học khác quản lý lao động. Trăm thứ bà rằn liên quan tới công nhân đều một mình chị giải quyết, từ việc ốm đau, đến dịch trên máy hướng dẫn kỹ thuật, vất vả kinh khủng. Vì thế chị hay nhờ phiên dịch đội khác ‘cứu viện’. Khi công nhân của chị bắt đầu tự điều khiển được máy, chị viết thư cho chàng với hy vọng mong manh. Thư lại bị trả lại, trên phong bì có ghi rõ “Không có người nhận”. Buồn chán nhưng không thất vọng. Chị gặp bà Anna phụ trách ốp người Việt hỏi xem có cách nào tìm ra địa chỉ của chàng không. Tốt bụng và tận tụy là bản tính vốn có của người Nga, bà Anna xăng sái đi hỏi cơ quan hành chính xem có cách nào tìm người. Mấy hôm sau, bà tất tả tìm chị hướng dẫn chị viết thư lên phòng hộ tịch của quận nơi mà chàng trước kia từng ở, hỏi xem người này đã từng ở đây vào những năm đó, giờ anh ta đi đâu? Chị làm theo hướng dẫn, chỉ một tuần sau, chị nhận được thư trả lời. Thư là công văn phúc đáp hẳn hoi, nói rõ người này từng ở đây, sau đó đã chuyển sang khu phố khác. Trong thư phúc đáp cũng ghi rõ địa chỉ mới của chàng. Chị mừng rơi nước mắt. Chị viết một bức thư cực ngắn, chưa đầy nửa trang, và có kèm vài từ mà trước kia hai người hay nói lóng, đầy ẩn ý, chỉ có hai người mới hiểu được. Chị không dám viết dài, sợ chàng giờ đã là người khác, sợ rằng vợ chàng (nếu có) sẽ ghen tuông và làm hỏng hạnh phúc đang có của chàng. Chưa đầy ba ngày sau, chị nhận được bức điện cực ngắn như ra lệnh “Em đến chỗ anh nhé. Anh chờ!”. Chị khá băn khoăn, sau chàng không đến tìm mình, mà bảo mình đến nhỉ? Nhưng chị gạt cái kiểu đỏng đảnh thời con gái, mình cứ đến, hẳn chàng phải có lý do. Chị nhờ bà Anna làm visa (ngày đấy người nước ngoài đi sang thành phố khác đều phải xin visa), chị lên kế hoạch đi vào hai ngày nghỉ cuối tuần. Chị đánh điện bảo chàng ra đón.

Gặp nhau ở sân ga, trời mưa tuyết, hai người nhìn thấy nhau. Chàng và nàng như muốn chạy thật nhanh đến với nhau. Nhưng chỉ còn cách nhau chưa đầy hai bước chân, cả hai cùng khựng lại. Bốn cánh tay đang định ôm quàng lấy nhau bỗng dưng thõng xuống. Họ cứ đứng nhìn nhau trân trối như thế trong vài phút, không ai nói với ai câu nào. Tuyết rơi dày, nước ước mắt chị chảy dài trên má, buốt cóng. Cả hai đều không biết, 17 năm xa nhau, những biến cố nào đã xảy ra với người mình yêu.
- Lấy vợ rồi chứ? – Chị hỏi
- Đã lấy vợ, đã có con, và đã li dị. – Chàng khẽ đáp. Chàng hỏi lại – Thế còn em?
- Chưa từng! – Chị òa khóc như con nít bị đòn đau – Thế mà bảo là chung thủy, thế mà bảo sẽ chẳng yêu ai ngoài em!
Hành khách đã ra khỏi sân ga, vậy mà họ cứ đứng ôm nhau, khóc ròng. Như sực tỉnh, chàng đưa chị về nhà. Chàng giải thích là chàng chưa đến thành phố chị ở ngay được, dù rằng muốn bay đến ngay lập tức. Mẹ chàng đang ốm.
Chị về gặp bà, bà đã già đi nhiều, mái tóc bạc phơ. Bà ôm chị khóc “Ôi con của ta. Nó nhắc tới con mỗi ngày!”
Họ hàn huyên thâu đêm suốt sáng, chuyện không dứt. Bao cay đắng, đau khổ, chị trút hờn lên chàng, chàng chỉ biết lặp đi lặp lại một câu “Cho anh xin lỗi, mình bắt đầu lại nhé?”
Chàng kể, từ ngày bặt tin chị, chàng nghĩ chị đã đi lấy chồng. Ngày xưa có cô bạn cùng lớp đeo đuổi chàng, nhưng lúc đó chàng đã có chị rồi. Cô bạn ấy vẫn không thôi hy vọng, bởi cô ấy nghĩ sẽ chẳng bao giờ chàng có thể gặp lại chị. Họ lấy nhau và có một cậu con trai. Ở với nhau vài năm, cô vợ không chịu nổi chàng và chủ động đòi ly hôn. Cô biết là chồng cô không yêu cô, chấp nhận lấy vợ theo kiểu thụ động khi bị bị tấn công. Có những lần vợ chồng gần gũi nhau, chàng toàn thì thào vào tai vợ tên của chị. Thời gian đầu cô vợ khó chịu, nhưng cho qua, nghĩ rằng thời gian sẽ xóa nhòa ký ức mối tình đầu của chồng. Nhưng không, tình hình càng ngày càng tệ hơn. Con trai lớn đến 5 tuổi, chàng vẫn không chừa cái hành vi bất nhã ấy. Ngủ mê chàng gọi tên chị. Làm tình với vợ, khi đến cao trào, chàng cũng gọi tên chị. Thử hỏi, như thế bố ai mà chịu nổi? Ly dị, chàng chả còn ý định muốn lấy ai. Mối tình đầu với chị tan vỡ do khoảng cách không gian và thời gian đã làm trái tim chàng đông cứng lại rồi. Cô vợ cũng ở gần đấy, nên việc chia nhau chăm con cũng chẳng khó khăn gì. Thằng con ở với mẹ, nhưng cuối tuần lại sang với bố. Họ đối với nhau như bạn.
Chị nằm trong vòng tay chàng, thổn thức, nghe chàng xưng tội. Chàng không quên chị. Và chị không quên chàng. Thế là đủ.
Hai ngày nghỉ qua nhanh. Cả chị và chàng mong ngóng tới ngày nghỉ tới. Từ giờ trở đi chàng sẽ đến với chị. Cái gã đàn ông to lớn kia hay đến ốp và ở lại vào ngày nghỉ chính là chàng.
Số chị cũng nhọ, những năm cuối của thập kỷ 80, các nước xã hội chủ nghĩa bắt đầu tan rã. Liên Xô lâm vào tình cảnh khó khăn, lương thực thiếu trầm trọng, gạo cũng không còn được mua thoải mái ở cửa hàng như trước. Năm 91 sau khi chị sang chưa được hai năm thì Liên xô sụp đổ. Thiếu thốn trăm bề. Người Nga quen sống trong bao cấp, giờ thấy khổ ghê gớm, cái gì cũng thiếu, bởi họ có tích trữ bao giờ đâu. Chị lại là người tiếp tế cho gia đình chàng. Đi đi về về như con thoi, người đã bé nhỏ lại càng bé nhỏ hơn. Hết đợt lao động, chị làm thủ tục kết hôn với chàng và chuyển về ở hẳn nhà chàng. Bà mẹ chàng đã già yếu, nằm một chỗ, chị làm nàng dâu hiếu thảo chăm sóc bà chu đáo. Chị yêu thương bà như yêu mẹ đẻ của mình.
Có lần người quen nhìn thấy chị trên vô tuyến, trong chương trình người Việt ở Nga, mái đầu chị bạc trắng. Vượt qua bao gian khổ khó khăn, chị và chàng đã viết tiếp tình yêu dang dở của mình. Tình yêu của họ đã bất chấp cả thời gian lẫn không gian. Họ lại tìm được nhau, tìm lại mùa xuân của chính mình.

Tác giả: Nguyễn Thị Thuý (FB HỒI ỨC)

Đức Việt Online

Xem thêm:
Về trang trước

Chủ đề:

Bình luận và đánh giá
Gửi nhận xét đánh giá
Lên đầu trang