Mùa Đông và mẹ; Chào tháng Mười Hai; Xuân Diệu – Một khoảng trời thơ

MÙA ĐÔNG VÀ MẸ

Ngày xưa gió bấc cũng gầy
Mẹ ngồi khâu áo, khâu ngày mùa đông
Ngoài kia, sương phủ trắng đồng
Lời ru trôi giữa mênh mông khuông chiều

Ngày xưa, giấc ngủ trong veo
Trong mơ con cũng mang theo cánh cò
Cây bàng đứng rét co ro
Bến sông đói khách sang đò chợ hôm

Mẹ ngồi khâu áo cho con
Ngọn đèn hiu hắt, mưa buồn ngõ xa
Chuột đu màn rách sang nhà
Đêm đêm tiếng chó cắn ma cuối làng

Mẹ ơi, giờ gió lang thang
Gió buồn nhớ ngọn đèn vàng ngày xưa
Để con với những đêm mưa
Con ngồi nhớ mẹ, bao giờ nguôi ngoai

Con đi ngày rộng tháng dài
Mang lời ru với sương mai ngọt ngào
Từng đêm trở giấc chiêm bao
Chạy theo bóng mẹ, những chiều hư vô...

Nguồn: FB Kiên Duyên

 

 

CHÀO THÁNG MƯỜI HAI


Tháng Mười hai vừa mới về gõ cửa
Chạm cây bàng lá đỏ đứng ngẩn ngơ
Gió heo may phiêu lãng tự bao giờ
Bỏ mặc phố hững hờ trong se lạnh

Tháng Mười hai chẳng có anh bên cạnh
Nhắc nhở em nhớ mặc ấm, choàng khăn
Khi ra ngoài chớ có mặc phong phanh
Kẻo lại ốm biết không .!? Anh lo lắng

Cúc họa mi vì ai mà nở trắng
Cả khoảng trời như nỗi nhớ mênh mông
Thạch thảo thương ai mà tím biếc từng bông
Sắc hoa nói hộ em nỗi nhớ mong vô tận

Ở nơi em trời bắt đầu chuyển lạnh
Giá bây giờ có anh ở cạnh bên
Em sẽ chẳng ngại ngần kể anh nghe những câu chuyện không tên
Xà vào lòng anh cho quên lúc yếu mềm em khóc

Anh có nghe tháng Mười hai thầm nhắc
Vòng tay anh xa lắc đã từ lâu
Tháng Mười hai nắng dỗi bỏ đi đâu
Về anh nhé…Nhớ mang theo nắng ấm

Nguồn: FB Gia Bảo
 


XUÂN DIỆU – MỘT KHOẢNG TRỜI THƠ

Trong nền thi ca Việt Nam hiện đại, Xuân Diệu là một hiện tượng độc đáo, một “ngôi sao sáng” không thể trộn lẫn. Hoài Thanh từng khẳng định: “Xuân Diệu là nhà thơ mới nhất trong các nhà Thơ Mới”. Bởi lẽ, thơ ông không chỉ cách tân về hình thức, mà còn mới mẻ tận gốc rễ của cảm xúc, quan niệm sống và cái nhìn về con người.
Nhắc đến Xuân Diệu là nhắc đến tình yêu, tuổi trẻ, thời gian và nỗi khát khao sống mãnh liệt. Thơ ông mở ra một khoảng trời riêng của cảm xúc cá nhân, nơi con người ý thức sâu sắc về sự hữu hạn của kiếp sống để từ đó yêu hơn, sống gấp hơn và cháy hết mình hơn.
Xuân Diệu bước vào làng thơ đúng thời điểm thơ ca Việt Nam đang chuyển mình mạnh mẽ từ trung đại sang hiện đại. Ngay từ tập Thơ thơ (1938), ông đã khẳng định vị trí tiên phong của mình.

Nếu thơ trung đại thường đề cao thiên mệnh, vô thường, thì Xuân Diệu lại đặt con người cá nhân vào trung tâm vũ trụ. Trong bài “Vội vàng”, ông thẳng thắn bộc lộ ước muốn phi thường:
Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi...
Đó không phải là sự ngông cuồng, mà là khát vọng giữ lại vẻ đẹp của trần thế, giữ lại thanh sắc của đời sống trước bước đi tàn nhẫn của thời gian.

Với Xuân Diệu, sống là để tận hưởng, để yêu, để hiến dâng trọn vẹn:
Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều...
(Vội vàng)

Tình yêu trong thơ Xuân Diệu không thanh đạm, ước lệ như thơ cũ, mà nồng nàn, da diết, táo bạo và đầy khát khao chiếm hữu:
Hãy sát đôi đầu! Hãy kề đôi ngực!
Hãy trộn nhau đôi mái tóc ngắn dài!
Những cánh tay! Hãy quấn riết đôi vai!
Hãy dâng cả tình yêu lên sóng mắt!
Hãy khăng khít những cặp môi gắn chặt
Cho anh nghe đôi hàm ngọc của răng;
Trong say sưa anh bảo với em rằng:
- Gần thêm nữa thế hãy còn xa quá !

Tình yêu ấy vừa rạo rực hạnh phúc, vừa phảng phất lo âu, vì Xuân Diệu luôn ý thức sâu sắc rằng hạnh phúc mong manh và ngắn ngủi:
Nắng mọc - chưa tin, hoa rụng- ai ngờ
Tình yêu đến tình yêu đi ai biết
Yêu là chết ở trong lòng một ít.
Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu
(Yêu)

Chính tâm thế ấy khiến thơ Xuân Diệu luôn mang nhịp điệu gấp gáp, nồng nhiệt, như thể trái tim nhà thơ luôn đang chạy đua với thời gian.
Mau với chứ! vội vàng lên với chứ!
Em, em ơi! Tình non sắp già rồi...
...Gấp đi em, anh rất sợ ngày mai
Đời trôi chảy lòng ta không vĩnh viễn
(Giục giã)

Thời gian trong thơ Xuân Diệu không phải vòng tuần hoàn như trong thơ cổ, mà là dòng chảy một đi không trở lại. Chính vì thế, con người buộc phải “vội vàng”, phải sống gấp để không lãng phí tuổi xuân.
Xuân đang tới, nghĩa là xuân đang qua,
Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già,
Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất.
Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật,
Không cho dài thời trẻ của nhân gian,
Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,
Nếu đến nữa, không phải rằng gặp lại!
Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi,
Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời.

Trong thơ Xuân Diệu, thiên nhiên không đứng ngoài con người, mà hòa nhập với tâm trạng con người. Cảnh vật mang hồn người.Thiên nhiên Xuân Diệu luôn trẻ trung, gợi cảm, giàu sinh khí:

Anh không xứng là biển xanh
Nhưng anh muốn em là bờ cát trắng
Bờ cát dài phẳng lặng
Soi ánh nắng pha lê...

Bờ đẹp đẽ cát vàng
- Thoai thoải hàng thông đứng
Như lặng lẽ mơ màng
Suốt ngàn năm bên sóng...

Anh xin làm sóng biếc
Hôn mãi cát vàng em
Hôn thật khẽ, thật êm
Hôn êm đềm mãi mãi.

Đã hôn rồi, hôn lại
Cho đến mãi muôn đời
Đến tan cả đất trời
Anh mới thôi dào dạt...
( Biển)

Với Xuân Diệu, thời gian, không gian và tạo vật như hòa quyện vào nhau bởi một chữ "yêu":
Của ong bướm này đây tuần tháng mật;
Này đây hoa của đồng nội xanh rì;
Này đây lá của cành tơ phơ phất;
Của yến anh này đây khúc tình si.
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi.
Mỗi sáng sớm, thần Vui hằng gõ cửa;
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần;
Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa...

(Vội vàng)

Trong “Đây mùa thu tới”, mùa thu không chỉ là biến chuyển của đất trời, mà là sự đổi thay trong lòng người:
Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang,
Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng.

Liễu không chỉ buồn, mà là cái buồn của chính thi sĩ trước sự tàn phai của thời gian và tuổi trẻ. Cảnh thu vì thế mang vẻ u sầu, mất mát, chia ly, chứ không thanh nhã như thu trong thơ cổ:
Hơn một loài hoa đã rụng cành
Trong vườn sắc đỏ rũa màu xanh;
Những luồng run rẩy rung rinh lá
Đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh.

Thiên nhiên không còn là chốn ẩn dật, mà là bữa tiệc trần gian, nơi con người được mời gọi tận hưởng, yêu thương và sống trọn vẹn.
Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa.
Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm,
Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều
Và non nước, và cây, và cỏ rạng,
Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng,
Cho no nê thanh sắc của thời tươi;
- Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!

Sau năm 1945, Xuân Diệu không dừng lại ở thế giới tình yêu cá nhân, mà hòa mình vào dòng chảy lớn của dân tộc. Thơ ông chuyển từ “cái tôi lãng mạn” sang “cái ta cộng đồng”.
Trong những bài thơ viết về Tổ quốc, cách mạng, nhân dân, ta vẫn thấy chất Xuân Diệu nồng nàn, nhưng nay được mở rộng thành tình yêu đất nước:
Tôi yêu Tổ quốc tôi
Như yêu người tôi yêu tha thiết.

Dù đề tài thay đổi, nhưng cốt lõi vẫn là tình yêu và khát vọng sống – chỉ khác ở chỗ tình yêu ấy nay đã gắn với vận mệnh dân tộc.
Tình yêu Tổ quốc là ngọn núi dòng sông
Đến tột cùng là dòng huyết chảy
(Tổ quốc)

Ôi người yêu, yêu hơn cả ái tình
Người rất mực xa xanh và đỏ thắm
Người gần gũi và bao la vạn dặm
Người một người và ức triệu con người
(Gánh)

Xuân Diệu là nhà thơ của tuổi trẻ, của tình yêu và khát vọng sống. Thơ ông là tiếng nói của một trái tim luôn nồng nàn, rạo rực và không ngừng kiếm tìm hạnh phúc. Dù trước hay sau Cách mạng, thơ Xuân Diệu vẫn tỏa sáng bởi nguồn sinh lực dồi dào và cảm xúc chân thành.
Có thể nói, Xuân Diệu đã mở ra một khoảng trời riêng trong thi ca Việt Nam – khoảng trời của đam mê, của yêu thương, của nỗi ám ảnh thời gian và vẻ đẹp trần thế. Khoảng trời ấy, cho đến hôm nay, vẫn còn nguyên sức lay động.

Nguồn: FB Ngô Trọng Kim

Đức Việt Online

Xem thêm:
Về trang trước

Chủ đề:

Bình luận và đánh giá
Gửi nhận xét đánh giá
Lên đầu trang