Luật về tài chính đối với vợ chồng có hôn thú và không hôn thú ở Đức, người Việt cần biết: Mười quan niệm sai lầm phổ biến nhất 

Nhiều cặp vợ chồng lựa chọn hôn nhân như một hình thức chung sống vì luật gia đình quy định khuôn khổ pháp lý cho hình thức chung sống này và một số quyền, trách nhiệm nhất định đương nhiên gắn liền với hôn nhân. Những quy định này, nhằm đảm bảo sự chắc chắn về mặt pháp lý trong suốt thời gian tồn tại của cuộc hôn nhân. Trên hết, nếu mối quan hệ hôn nhân kết thúc - dù qua đời hay ly hôn - thì những rủi ro về pháp lý và tài chính của vợ chồng đều được pháp luật bảo vệ.

Những cặp vợ chồng không hôn thú, họ nghĩ khác. Họ muốn tránh các trách nhiệm pháp lý và trong hầu hết các trường hợp, cuối cùng thậm chí còn từ chối các điều khoản trong hợp đồng hôn nhân cho phép họ cấu trúc lại mối quan hệ vợ chồng của mình một cách hợp pháp ở một mức độ nhất định. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là liệu hai bên không hôn thú có nhận thức được đầy đủ chi tiết rằng trong trường hợp xung đột, họ thường bị từ chối sự bảo vệ của luật gia đình, điều này rốt cuộc ảnh hưởng nặng tới cả hai bên về mặt kinh tế.

10 quan niệm sai lầm lớn nhất về mặt tài chính trong trường hợp chung sống có hôn thú

Sai lầm thứ 1: Nếu một bên bị nợ trong thời kỳ hôn nhân thì bên kia cũng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.

Về nguyên tắc, chỉ có người bị nợ mới phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ. Người phối ngẫu kia không phải chịu trách nhiệm. Đối với khoản vay mà một người đã vay từ ngân hàng, thì chỉ người đó chứ không phải người phối ngẫu kia phải chịu trách nhiệm. Chỉ khi người phối ngẫu kia cũng đã ký kết hợp đồng thì người đó cũng phải chịu trách nhiệm pháp lý. Một ngoại lệ áp dụng cho những giao dịch vay mượn nhằm trang trải đầy đủ nhu cầu sinh hoạt của gia đình: Trong các giao dịch như vậy, cả hai vợ chồng đều có quyền và nghĩa vụ (ví dụ: mua sắm hàng ngày cho gia đình hoặc khi thuê thợ sửa chữa). Trong những trường hợp này, cả hai vợ chồng đều phải chịu trách nhiệm liên đới.

Thứ 2. Tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân thuộc sở hữu chung của cả hai vợ chồng.

Chỉ khi cả hai vợ chồng ký kết hợp đồng tài sản của chung và có được tài sản đó trong hôn nhân thì mới trở thành tài sản chung của vợ chồng (ví dụ: Mỗi người có 1/2 cổ phần sở hữu chung của một tài sản). Tuy nhiên, nếu hợp đồng chỉ được ký kết bởi một người phối ngẫu thì họ cũng trở thành chủ sở hữu duy nhất của tài sản đó. Điều này cũng áp dụng ngay cả khi vợ chồng thỏa thuận thực hiện luật về lợi tức chung về tài sản trong quá trình sống là của cả hai (bởi luật này không liên quan tới tài sản ban đầu).

3. Vợ chồng có thể đại diện cho nhau trong thời kỳ hôn nhân.

Vợ chồng không thể dễ dàng đại diện cho nhau. Đúng hơn, về cơ bản mỗi người phối ngẫu chịu trách nhiệm quản lý công việc của mình. Có những ngoại lệ cho nguyên tắc này. Có quyền đại diện pháp lý chung cho các giao dịch nhằm đáp ứng đầy đủ nhu cầu sinh hoạt của gia đình (ví dụ: mua thực phẩm, đồ gia dụng hoặc quần áo). Hơn nữa, trong các tình huống bệnh cấp tính, quyền đại diện khẩn cấp theo luật định được giới hạn tối đa sáu tháng nếu một trong hai người phối ngẫu vì các vấn đề sức khỏe không còn khả năng đưa ra quyết định.

4. Mỗi người phối ngẫu có quyền quyết định xem họ có muốn bán tài sản của mình trong thời kỳ hôn nhân hay không.

Mặc dù mỗi người phối ngẫu quản lý tài sản của mình một cách độc lập nhưng vẫn có những trường hợp ngoại lệ đối với nguyên tắc này. Vợ, chồng chỉ được định đoạt toàn bộ tài sản của mình hiện đang nằm trong tài sản chung khi có sự đồng ý của người phối ngẫu. Điều này không áp dụng với tài sản trị giá nhỏ, nếu người phối ngẫu chỉ chiếm ít hơn 15% tổng tài sản chung, và với tài sản lớn nếu chỉ chiếm ít hơn 10%. Vợ/chồng cũng chỉ có thể định đoạt những đồ vật thuộc về gia đình dùng chung như đồ đạc trong căn hộ chung, nếu người phối ngẫu kia đồng ý.

5. Thông qua hợp đồng hôn nhân, vợ chồng có thể dễ dàng hạn chế hoặc loại trừ việc cân bằng lương hưu (cùng hưởng chung lương hưu của nhau) trong trường hợp ly hôn.

Mặc dù việc cân bằng lương hưu có thể bị hạn chế hoặc loại trừ hoàn toàn bởi hợp đồng hôn nhân giữa vợ chồng, nhưng quy định tương ứng phải được tòa án gia đình xem xét nội dung và tính hiệu quả, nếu xảy ra tranh chấp kiện cáo. Ví dụ, thỏa thuận loại trừ sự cân bằng lương hưu khi sống chung, nhưng một người phải hy sinh công việc chỉ chăm lo việc nhà để phục vụ cho người phối ngẫu tập trung làm việc kiếm tiền nên lương hưu người này cao, trong khi người làm việc nhà không có hoặc ít lương hưu. Vì vậy lương hưu trong trường hợp này phải chia cho cả vợ và chồng.

6. Nếu vợ chồng, mỗi người quản lý tài sản riêng, nợ riêng và giữ tài khoản riêng thì được coi là tình trạng tài sản riêng Gütertrennung.

Ngay cả trong luật lợi tức chung về tài sản, vợ chồng vẫn tự quản lý tài sản của mình một cách riêng biệt và mỗi người chịu trách nhiệm về các các khoản nợ của mình. Và vợ, chồng có tài khoản ngân hàng riêng cũng không có ý nghĩa gì đối với tình trạng tài sản chung hay riêng. Việc mỗi người được coi có tài sản riêng chỉ xảy ra, khi vợ chồng có thỏa thuận rõ ràng về quy đinh tài sản riêng trong hợp đồng hôn nhân có công chứng. Hơn nữa, quy định tài sản riêng chỉ được áp dụng nếu vợ chồng thỏa thuận loại trừ cách phân chia lợi tức chung không tính đến những tài sản khác.

7. Nếu vợ chồng có hợp đồng hôn nhân quy định tài sản riêng, thì quyền đòi hỏi cấp dưỡng gia đình không còn được áp dụng.

Theo luật, vợ chồng có trách nhiệm lẫn nhau bằng công việc và tài sản của mình để chi phí cần thiết cho gia đình. Nếu một người phối ngẫu được giao quản lý việc gia đình, người đó sẽ hoàn thành trách nhiệm đóng góp vào việc duy trì gia đình thông qua công việc điều hành gia đình. Mặc dù các vấn đề về cấp dưỡng có thể được quy định riêng lẻ trong khuôn khổ hợp đồng hôn nhân, nhưng vợ/chồng không thể từ bỏ việc cấp dưỡng cho nhau trong tương lai một cách hiệu quả. Như vậy chỉ với mỗi thỏa thuận tài sản riêng, thì quyền cấp dưỡng vợ/chồng vẫn tồn tại.

8. Ai chủ động ly hôn thì phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ của người phối ngẫu trong thời kỳ hôn nhân.

Theo pháp luật, một bên vợ hoặc chồng không phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ của bên kia, kể cả khi vợ chồng cùng hưởng lợi tức kiếm được từ tài sản. Sau khi ly hôn, mỗi người phối ngẫu phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ của họ phát sinh trong thời kỳ hôn nhân. Điều này chỉ không áp dụng nếu cả hai vợ chồng đều đã cam kết bằng hợp đồng khác đi, ví dụ theo hợp đồng vay, cả hai vợ chồng đều là người vay và cả hai đều cam kết trả nợ, mặc dù khoản vay chỉ do một người phối ngẫu trả. Và khi một người đã đưa ra bảo lãnh tự trả cho người cho vay, thì người phối ngẫu vẫn phải chịu trách nhiệm liên đới.

9. Trường hợp một bên vợ hoặc chồng chết thì người kia được thừa kế toàn bộ tài sản.

Trong trường hợp người thừa kế bậc một (con, cháu, chắt) hoặc người thừa kế bậc hai (như cha mẹ, anh chị em, cháu gái, cháu trai) của người lập di chúc còn sống thì vợ hoặc chồng chỉ được thừa kế một phần di sản. Người phối ngẫu sống lâu hơn chỉ là người thừa kế duy nhất nếu không còn người thừa kế bậc nhất, bậc hai nêu trên.

10. Nếu vợ chồng sống ly thân thì không còn quyền thừa kế.

Quyền thừa kế hợp pháp của vợ/chồng chỉ chấm dứt áp dụng sau khi đơn ly hôn đã được nộp lên tòa án và đơn đó đã được tống đạt cho người phối ngẫu kia. Việc ly thân không làm mất đi quyền thừa kế hợp pháp của vợ chồng.

Còn tiếp

Đức Việt Online

Về trang trước

Chủ đề:

Bình luận và đánh giá
Gửi nhận xét đánh giá

Luật Pháp

Nhập cư

Người Việt ở Đức

Chính trị - Xã hội

Lên đầu trang