Mưa lũ tàn phá Trung Quốc; Buồn của ngành than nước Nga; Đông Nam Á thở phào với thuế quan; Xung đột Israel-Palestine

MƯA LŨ TÀN PHÁ MIỀN BẮC TRUNG QUỐC, ÍT NHẤT 60 NGƯỜI THIỆT MẠNG

Thời tiết khắc nghiệt đã khiến ít nhất 60 người ở miền bắc Trung Quốc thiệt mạng trong tuần qua, bao gồm 31 người tử vong tại một viện dưỡng lão vì nước lũ.

Tại Bắc Kinh, 44 người đã thiệt mạng và 9 người mất tích, tính đến trưa 31/7, Phó Thị trưởng Xia Linmao cho biết.

Trong số đó, có 31 người thiệt mạng tại một viện dưỡng lão ở ngoại ô Bắc Kinh. Các cảnh quay lan truyền trên mạng cho thấy, đội cứu hộ lội qua dòng nước cao ngang ngực để cố gắng giải cứu những người bị mắc kẹt. Nhiều người trong số đó được cho là không thể tự di chuyển.

Theo truyền thông Trung Quốc, vào thời điểm nước dâng, có khoảng 77 người cao tuổi đang ở trong viện dưỡng lão. Khoảng 40 người sau đó bị mắc kẹt khi mực nước dâng lên gần 2m.

Tại tỉnh Hà Bắc lân cận, 16 người đã thiệt mạng.

Trước đó, từ ngày 23 đến ngày 29/7, Bắc Kinh đã hứng chịu mưa lớn liên tiếp, gây thiệt hại nặng nề cho các khu vực miền núi như Mật Vân, Hoài Nhu, Diên Khánh và Bình Cốc.

Chỉ trong vài ngày, lượng mưa tại huyện Mật Vân lên tới 573,5mm - mức mà truyền thông địa phương mô tả là "tàn phá". Để so sánh, lượng mưa trung bình hằng năm của Bắc Kinh là khoảng 600mm.

Hồ chứa Mật Vân - hồ chứa nước lớn nhất miền bắc Trung Quốc - đã ghi nhận mực nước kỷ lục do mưa lớn. Ngày 27/7, có tới 6.550 mét khối nước - tương đương khoảng 2,5 hồ bơi cỡ Olympic - tràn vào hồ chứa này mỗi giây.

Chính quyền Trung Quốc hồi đầu tháng cho biết, thiên tai trong nửa đầu năm 2025 đã gây thiệt hại 54,11 tỷ nhân dân tệ. Trong đó, 90% là do lũ lụt.

 

 

BUỒN CỦA NGÀNH THAN NƯỚC NGA: TỪNG 'BỎ TÚI' GẦN 10 TỶ USD NAY LỖ NẶNG, LỢI NHUẬN RƠI XUỐNG MỨC ÂM

Giá than toàn cầu giảm mạnh kết hợp với các lệnh trừng phạt từ phương Tây đã đẩy ngành này đến sát bờ vực sụp đổ, buộc chính phủ Nga phải nhanh chóng can thiệp để cứu vãn tình hình.

Thời kỳ thăng hoa kết thúc

Khủng hoảng bắt đầu sau thời kỳ bùng nổ giá than giai đoạn 2021-2023. Sau đại dịch và giữa bối cảnh chiến sự tại Ukraine làm gián đoạn chuỗi cung ứng năng lượng toàn cầu, giá than nhiệt dùng cho sản xuất điện và than luyện kim sử dụng trong công nghiệp thép đều tăng vọt, có lúc chạm mốc 400 USD/tấn.

Cơn sốt này đã kết thúc đột ngột khi sản lượng toàn cầu gia tăng, đặc biệt từ Trung Quốc, Ấn Độ và Indonesia, trong khi nhu cầu lại chững lại. Tốc độ tăng trưởng tiêu thụ than toàn cầu giảm từ 4,7% năm 2022 xuống chỉ còn 1% trong năm 2024, khiến giá lao dốc còn khoảng 100 USD/tấn vào tháng 5/2025.

Đối với than Nga, tình hình còn ảm đạm hơn khi giá bán phải chịu chiết khấu lớn do lệnh cấm vận từ châu Âu. Trước năm 2022, khoảng 22,6% lượng than xuất khẩu của Nga được tiêu thụ tại EU. Nhưng sau khi bị "chặn đường" sang phương Tây, các doanh nghiệp Nga buộc phải chuyển hướng sang thị trường châu Á, nơi người mua đã tận dụng cơ hội để ép giá xuống mức thấp nhất trong nhiều năm qua.

Theo nhật báo kinh tế Vedomosti, giá FOB tại các cảng Viễn Đông Nga vào cuối tháng 6 chỉ còn 69 USD/tấn - mức thấp nhất kể từ năm 2020. Theo điều khoản FOB, người bán chịu trách nhiệm vận chuyển hàng hóa đến một cảng xuất khẩu nhất định và giao hàng lên tàu do người mua chỉ định. Sau khi hàng hóa được chất lên tàu, trách nhiệm đối với hàng hóa sẽ chuyển sang người mua.

Trong bối cảnh đồng rúp mạnh, chi phí sản xuất và vận chuyển một tấn than nhiệt từ vùng Kuzbass, trung tâm khai thác than lớn nhất nước Nga, ra cảng phía đông ước tính lên tới 6.000 - 6.500 rúp, trong khi giá bán chỉ tương đương 5.500 rúp/tấn. Điều này khiến việc khai thác than tại khu vực này trở nên hoàn toàn thua lỗ.

Roman Golovin, Giám đốc chiến lược của Tập đoàn Năng lượng Than Siberia (SUEK), đơn vị khai thác than lớn nhất Nga, cho biết 4 trong số 10 cơ sở của công ty đã cắt giảm hoạt động hoặc đang xem xét đóng cửa hoàn toàn.

Tình trạng thua lỗ lan rộng khắp ngành, với tỷ lệ doanh nghiệp khai thác than thua lỗ tăng từ 31,5% năm 2023 lên 53,3% trong năm 2024. Đây là dấu hiệu rõ ràng cho thấy ngành than Nga đang chìm sâu trong khủng hoảng.

Mặc dù vậy, giới chức Nga sẽ không để ngành than sụp đổ. Một nửa sản lượng than hàng năm vẫn được tiêu thụ nội địa, đóng góp 12-13% sản lượng điện quốc gia trong năm 2023 và có vai trò đặc biệt quan trọng tại các khu vực như Viễn Đông hay vùng Kemerovo (Kuzbass) ở Tây Siberia - nơi than chiếm tới 50% nguồn điện.

Theo hãng tư vấn Yakov & Partners có trụ sở tại Moscow, tỷ trọng của than trong cơ cấu năng lượng Nga có thể vẫn giữ ở mức 10% đến năm 2050. Về mặt xuất khẩu, nhu cầu với than Nga có thể hồi phục nếu thế giới đối mặt với khủng hoảng khí đốt do bất ổn địa chính trị, hoặc khi sản xuất công nghiệp tại các quốc gia như Ấn Độ  tăng mạnh.

Vấn đề không chỉ là khó khăn về tài chính

Tuy nhiên, ảnh hưởng xã hội của ngành than mới thực sự là mối quan tâm lớn nhất. Khoảng 146.500 lao động đang làm việc trong ngành than tại Nga. Ngoài ra, hơn 30 thị trấn, chủ yếu tại Kuzbass, phụ thuộc hoàn toàn vào hoạt động khai thác than. Một cuộc sụp đổ toàn diện sẽ là thảm họa kinh tế - xã hội đối với các cộng đồng này.

Để ngăn chặn nguy cơ đó, chính phủ Nga đã tung gói hỗ trợ tài chính bao gồm trợ cấp và miễn giảm thuế. Hồi tháng 5/2025, Tổng thống Vladimir Putin đã phê duyệt kế hoạch cứu trợ từ Bộ Năng lượng nhằm ổn định hoạt động xuất khẩu.

Theo ước tính, ngành than cần tới 178 tỷ rúp (khoảng 2,2 tỷ USD) hỗ trợ trong năm nay - cao hơn mức thua lỗ 112 tỷ rúp (1,4 tỷ USD) của năm 2024. Dự kiến, tổng khoản lỗ năm 2025 có thể dao động từ 300 đến 500 tỷ rúp (3,7 đến 6,2 tỷ USD), trong khi tổng nợ toàn ngành được dự báo chạm ngưỡng 1.500 tỷ rúp (18,6 tỷ USD) vào cuối năm.

Các chuyên gia kinh tế cho rằng dù có thể giúp ngành sống sót, các khoản cứu trợ này không giải quyết được gốc rễ vấn đề, đó là sự cạnh tranh khốc liệt trên thị trường quốc tế và xu hướng chuyển dịch sang năng lượng tái tạo. Điều này đồng nghĩa với việc chính phủ sẽ phải tiếp tục rót tiền hỗ trợ trong nhiều năm tới nếu muốn giữ ngành than tồn tại.

Diễn biến này không đe dọa trực tiếp tới ngân sách liên bang, do ngành than không đóng góp lớn về thu ngân sách. Dẫu vậy, các địa phương như Kuzbass và Khakassia có thể gặp khó khăn nghiêm trọng, bởi nguồn thu từ thuế than chiếm tới hơn 1/3 ngân sách địa phương.

Chuyên gia kinh tế Vladimir Inozemtsev nhận định, đây là vấn đề xã hội chứ không hẳn là tài chính. Ông cho rằng chính phủ Nga có thể chi 300 tỷ rúp mỗi năm mà không làm vỡ ngân sách, nhưng thách thức thực sự là tìm ra hướng phát triển kinh tế mới cho vùng Kemerovo.

Trong khi đó, chuyên gia kinh tế Alexandra Prokopenko lưu ý rằng khủng hoảng ngành than đến vào thời điểm rất bất lợi với chính phủ Nga. Ngân sách nhà nước đang chịu sức ép lớn. Quỹ Tài sản Quốc gia bị rút mạnh trong ba năm qua, doanh thu ngân sách sụt giảm, trong khi chi tiêu lại tăng vọt 20% trong nửa đầu năm 2025. Tính đến giữa năm, thâm hụt ngân sách đã lên tới 3.700 tỷ rúp (45,8 tỷ USD) và dự báo cả năm sẽ chạm mốc 4.400 tỷ rúp (55 tỷ USD), tương đương 2% GDP.

Các lãnh đạo cấp cao như Chủ tịch Hội đồng Liên bang Valentina Matviyenko và Chủ tịch Ủy ban Ngân sách Duma Anatoly Artamonov đều đã lên tiếng kêu gọi chính phủ thắt chặt chi tiêu và kỷ luật tài khóa để tránh thâm hụt vượt tầm kiểm soát.

 

 

ĐÔNG NAM Á THỞ PHÀO VỚI MỨC THUẾ CỦA MỸ

Các nước Đông Nam Á thở phào nhẹ nhõm sau khi Mỹ công bố mức thuế với hàng xuất khẩu của họ thấp hơn so với mức đe dọa và san bằng sân chơi.

Thái Lan, Malaysia, Campuchia, Indonesia và Philippines đều chịu mức thuế 19%.

Trong thời gian qua, Đông Nam Á, nơi có tổng giá trị nền kinh tế hơn 3,8 nghìn tỷ USD, đã chạy đua để vận động Mỹ hạ thuế và đổi lại là nhượng bộ với hàng hoá Mỹ.

Nỗ lực đó được triển khai để ngăn chặn viễn cảnh mất thị phần và các công ty đa quốc gia chuyển hoạt động và đơn đặt hàng sang nơi khác.

Bộ Thương mại Malaysia cho biết, mức thuế suất 19% - giảm từ mức 25% mà Mỹ đe dọa, là một kết quả tích cực mà không ảnh hưởng đến những điều khoản mà họ coi là "ranh giới đỏ".

Bộ trưởng Tài chính Thái Lan Pichai Chunhavajira cho biết, việc Mỹ giảm từ 36% xuống 19% sẽ giúp nền kinh tế đang gặp khó khăn của họ đương đầu với những thách thức toàn cầu phía trước.

"Điều này giúp duy trì khả năng cạnh tranh của Thái Lan trên trường quốc tế, thúc đẩy niềm tin của nhà đầu tư và mở ra cánh cửa cho tăng trưởng kinh tế, tăng thu nhập và những cơ hội mới", ông Pichai Chunhavajira khẳng định.

Ông cho biết thêm rằng Thái Lan đã đi được khoảng 1/3 chặng đường trong đàm phán với Mỹ.

Ngày 1/8, Mỹ giảm thuế với Campuchia xuống còn 19%, từ mức thuế 49% đe doạ trước đó. Mức này được coi là tín hiệu tốt cho ngành may mặc vốn là động lực kinh tế lớn nhất và tạo ra khoảng 1 triệu việc làm trong ngành sản xuất của Campuchia.

"Nếu Mỹ duy trì mức thuế 49% hoặc 36%, tôi cho rằng ngành công nghiệp đó sẽ sụp đổ", Phó Thủ tướng kiêm trưởng đoàn đàm phán thương mại Campuchia Sun Chanthol nói với Reuters .

Tại Thái Lan và Malaysia, các nhóm doanh nghiệp hoan nghênh mức thuế quan mới, cho rằng điều này giữ nguyên trạng giữa các đối thủ trên thị trường, trong đó có những nước được hưởng lợi từ chính sách "Trung Quốc + 1”.

"Tôi không thấy các công ty có động thái gì đặc biệt. Mọi việc sẽ diễn ra như thường lệ cho đến khi họ tìm ra được động thái tốt nhất tiếp theo", ông Siew Hai, chủ tịch Hiệp hội ngành công nghiệp bán dẫn Malaysia cho biết.

Chính quyền của Tổng thống Mỹ Donald Trump vẫn còn nhiều việc phải giải quyết, bao gồm các vấn đề về rào cản phi thuế quan, quy tắc xuất xứ và những yếu tố liên quan đến hàng hoá trung chuyển.

Nhà nghiên cứu Andrew Sheng, công tác tại Viện Toàn cầu châu Á thuộc Đại học Hong Kong (Trung Quốc), cho rằng mức thuế quan như hiện nay giúp các nước Đông Nam Á yên tâm, rằng sự bất ổn chính sách đã tạm thời qua đi.

 

 

BẢN CHẤT XUNG ĐỘT ISRAEL-PALESTINE: GIẢI PHÁP HAI NHÀ NƯỚC LÀ GÌ VÀ VÌ SAO CHƯA BAO GIỜ ĐƯỢC THỰC HIỆN?

Ả Rập Xê Út và Pháp đã đồng chủ trì một hội nghị cấp cao tại Liên Hợp Quốc nhằm khôi phục giải pháp hai nhà nước cho cuộc xung đột Ả Rập – Israel kéo dài hàng thập kỷ. Cuộc họp được tổ chức với mục đích đặt nền móng cho việc thành lập một nhà nước Palestine.

Kể từ sau các cuộc tấn công chết người do Hamas phát động vào ngày 7/10/2022 nhằm vào Israel, và cuộc chiến sau đó giữa Israel và Gaza, giải pháp hai nhà nước ngày càng trở nên xa vời.

Tuy nhiên, cả các quốc gia Ả Rập và châu Âu gần đây đều đang nỗ lực thúc đẩy khôi phục ý tưởng này, trong bối cảnh tình hình ở Gaza ngày càng thảm khốc.

Sau Pháp và Vương Quốc Anh, Canada đã trở thành quốc gia phương Tây gần đây nhất tuyên bố sẽ công nhận một nhà nước Palestine.

Cả Israel và đồng minh toàn cầu thân cận nhất của nước này là Hoa Kỳ đều đã tẩy chay hội nghị kéo dài hai ngày, trong đó Washington mô tả hội nghị này là "phản tác dụng" đối với những nỗ lực chấm dứt chiến tranh của họ.

Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc Antonio Guterres tuyên bố cuộc họp "phải đóng vai trò như một bước ngoặt mang tính quyết định – thúc đẩy tiến trình không thể đảo ngược nhằm chấm dứt sự chiếm đóng và hiện thực hóa khát vọng chung của chúng ta về một giải pháp hai nhà nước khả thi."

Giải pháp hai nhà nước là gì?

Giải pháp hai nhà nước dựa trên việc thành lập một nhà nước Palestine với các đường biên giới an toàn và được quốc tế công nhận, cùng tồn tại bên cạnh một nhà nước Israel.

Người Palestine mong muốn có một nhà nước bao gồm Bờ Tây, Đông Jerusalem và Dải Gaza – những khu vực mà Israel đã chiếm đóng sau cuộc chiến năm 1967.

Tuy nhiên, chính phủ hiện tại của Israel phản đối việc thành lập một nhà nước Palestine có chủ quyền.

Quan điểm của Israel

Thủ tướng Israel, ông Benjamin Netanyahu, kiên quyết phản đối nền độc lập của Palestine và đã bác bỏ giải pháp hai nhà nước trong suốt sự nghiệp chính trị của mình.

Hai tuần trước các cuộc tấn công ngày 7/10, ông Netanyahu đã phát biểu tại Đại hội đồng Liên Hợp Quốc, tuyên bố về "bình minh của một kỷ nguyên hòa bình mới" giữa Israel và các nước láng giềng Ả Rập.

Ông Netanyahu cho rằng một phần tư thế kỷ qua, cách "tiếp cận" chủ đạo của "những người được cho là chuyên gia" về đàm phán một giải pháp hai nhà nước, nơi Israel và một nhà nước Palestine tương lai cùng chia sẻ vùng đất giữa sông Jordan và Địa Trung Hải – đã không mang lại "một hiệp ước hòa bình nào":

"Năm 2020, theo cách tiếp cận mà tôi đề xuất… lập tức, chúng tôi đã đạt được một đột phá đáng kinh ngạc. Bốn hiệp ước hòa bình trong bốn tháng với bốn quốc gia Ả Rập."

Đó là các Hiệp ước Abraham, do Mỹ làm trung gian trong nhiệm kỳ đầu của chính quyền Trump.

Ông Netanyahu nói rằng đà tiến của các Hiệp ước Abraham sẽ thuyết phục người Palestine từ bỏ "ảo tưởng về việc tiêu diệt Israel và cuối cùng chấp nhận con đường hòa bình thực sự".

Sau đó, ông giơ lên một tấm bản đồ về "Trung Đông Mới", ám chỉ sự chấm dứt của giải pháp hai nhà nước.

Nhưng giải pháp hai nhà nước đã xuất hiện như một lựa chọn cho hòa bình như thế nào?

Và quan điểm đối với giải pháp này đã thay đổi ra sao qua các năm?

Các hi vọng hoà bình thất bại ra sao?

Ý tưởng về giải pháp hai nhà nước bắt nguồn từ Kế hoạch Phân chia của Liên Hợp Quốc năm 1947.

Kế hoạch này đề xuất chia lãnh thổ Palestine dưới quyền ủy trị của Anh thành hai nhà nước riêng biệt.

Đến năm 1993, một khuôn khổ cho thỏa thuận hai nhà nước được thiết lập, sau khi Israel và Tổ chức Giải phóng Palestine (PLO), do phe Fatah của Yasser Arafat lãnh đạo, công nhận lẫn nhau sau các cuộc đàm phán bí mật do Na Uy làm trung gian.

Tuy nhiên, cái gọi là tiến trình Oslo chưa bao giờ đi đến đích như mong đợi, và để lại một loạt vấn đề thậm chí còn khó giải quyết hơn trước.

Các thỏa thuận "đất đai đổi lấy hòa bình" đã thiết lập quyền tự trị cho Chính quyền Palestine (PA) trên những vùng lãnh thổ mà Israel chiếm đóng sau cuộc chiến năm 1967.

Nhưng việc chiếm đóng quân sự và xây dựng các khu định cư của người Do Thái vẫn tiếp tục, trong khi cái gọi là "các vấn đề cốt lõi" bị gác lại cho các vòng đàm phán sau này.

Những vấn đề này bao gồm số phận của người tị nạn Palestine rời bỏ quê hương - nơi trở thành nhà nước Israel sau cuộc chiến Ả Rập - Israel đầu tiên năm 1948, và sau khi Liên Hiệp Quốc bỏ phiếu thông qua Kế hoạch Phân chia năm 1947.

Israel đã sáp nhập Đông Jerusalem vào năm 1967, và đây là một bài toán hóc búa khác, bởi các địa điểm linh thiêng tại đây được cả hai phía xem là quá quan trọng để nhượng lại.

Sau những năm lấy lòng về mặt ngoại giao, những vấn đề này cuối cùng đã được đưa ra để giải quyết trong cuộc họp thượng đỉnh kín tại Trại David hồi năm 2000, với sự chủ trì của Tổng thống Mỹ Bill Clinton, nhưng Thủ tướng Israel Ehud Barak và Tổng thống Chính quyền Palestine (PA) Arafat lại không thể xóa được cách biệt.

Ai cũng đổ lỗi cho nhau về thất bại này. Giới chức Israel và Mỹ nói ông Arafat đã từ chối một thỏa thuận hào phóng nhất mà ông ta từng có được. Người Palestine thì gọi đây là sự sỉ nhục, không đáp ứng đủ yêu cầu của họ, chẳng hạn yêu cầu về một thủ đô đặt tại Đông Jerusalem.

Phong trào Kháng chiến Hồi giáo (Hamas), được thành lập ở Gaza vào năm 1987, không đồng tình với các nhượng bộ vì hòa bình của phe đối lập Fatah và thấy có cơ hội lớn để phá vỡ các cuộc đàm phán bằng cách tiến hành đánh bom liều chết kể từ năm 1994.

Những người định cư Do Thái sùng đạo theo cũng tận dụng sự nới lỏng của chính quyền Israel để mở rộng và củng cố sự hiện diện của người Do Thái trên mảnh đất mà họ tin rằng Chúa đã hứa ban cho họ.

Diễn biến sau tiến trình hòa bình Oslo là gì?

Năm 2000, khi cuộc nổi dậy của người Palestine, được gọi là cuộc 'Khởi nghĩa lần hai' (Second Intifada) nổ ra, trọng tâm chính trị của Israel đã dịch chuyển đáng kể sang cánh hữu.

Công đảng Israel – lực lượng chủ chốt đứng sau tiến trình Oslo – dần mất đi sức ảnh hưởng, trong khi các phiên bản khác nhau của phe cánh hữu ủng hộ việc xây dựng khu định cư Do Thái trở nên chiếm ưu thế.

Người Palestine nổi dậy đã phải đối mặt với sức mạnh quân sự của Israel, trong khi nội các của ông Sharon triển khai hàng rào ngăn cách người Palestine với Israel và với một số khu định cư nằm bên trong Bờ Tây.

Ông Arafat bị cô lập tại Ramallah cho đến gần thời điểm qua đời vào năm 2004.

Ông Sharon đã rút vài ngàn người định cư Do Thái sống giữa 1,5 triệu cư dân Palestine ở Dải Gaza và điều quân đội về các khu vực vành đai. Bốn khu định cư biệt lập ở Bờ Tây cũng đã được sơ tán.

Kế hoạch "rút lui đơn phương" (disengagement) đã gây ra những hệ quả to lớn, với mục tiêu là bảo vệ đa số người Do Thái trên lãnh thổ Israel bằng cách tách ra một khu vực có dân số Palestine đông đúc.

Cố vấn hàng đầu của ông Sharon từng nói với một nhà báo rằng kế hoạch này đã cung cấp "lượng formaldehyde cần thiết" để kết thúc các cuộc đàm phán chính trị.

Tuy nhiên, động thái này đã làm chia rẽ đảng Likud và khiến những người ủng hộ các khu định cư Do Thái cảm thấy bị phản bội.

Không nao núng, ông Sharon thành lập một đảng mới để tranh cử trong cuộc bầu cử năm 2006.

Tuy nhiên, một cơn xuất huyết não vài tuần trước ngày bầu cử đã khiến người ta không bao giờ biết liệu ông có một kế hoạch tương tự cho Bờ Tây hay không.

Bị người kế nhiệm ông Arafat là ông Mahmoud Abbas lên án là một sự phản bội các nguyên tắc của Thỏa thuận Oslo, kế hoạch rút lui đơn phương lại được các lãnh đạo Hamas ở Gaza ca ngợi như một chiến thắng của phong trào kháng chiến.

Tuy nhiên, với sự hợp tác của Ai Cập, Israel đã siết chặt phong tỏa Dải Gaza, và các đợt leo thang bạo lực thường xuyên xảy ra, với các cuộc đột kích của lực lượng vũ trang và các nhóm phóng pháo nhằm vào Israel, trong khi phía Israel dội bom và tiến hành các cuộc tấn công nhằm kiềm chế lực lượng kháng chiến.

Trong khi đó, ở Bờ Tây, Hamas cũng đang dần phát triển.

Việc tham gia cuộc bầu cử lập pháp của Chính quyền Palestine (PA) năm 2006 đã giúp Hamas giành đa số ghế, nhờ vào sự thất vọng của cử tri đối với Fatah vì không thể mang lại nền độc lập cho người Palestine, cũng như không thể quản trị một cách minh bạch, không tham nhũng.

Hamas sau đó đã dùng vũ lực trục xuất PA khỏi Dải Gaza, dẫn đến sự chia cắt giữa Gaza — nơi trở thành trung tâm của cuộc kháng chiến vũ trang — và Bờ Tây do Fatah kiểm soát, vốn vẫn cam kết với các hiệp ước hòa bình.

Tuy vậy, đã xuất hiện những dấu hiệu cho thấy lập trường của Hamas có phần thay đổi, gợi mở khả năng tham gia chính trị trong tương lai, với các đề xuất ngừng bắn dài hạn và gợi ý rằng một nhà nước Palestine có thể được thành lập trên phần lãnh thổ bị Israel chiếm đóng từ năm 1967.

Tuy nhiên, Hamas vẫn không thay đổi cương lĩnh của mình — trong đó kêu gọi loại bỏ sự tồn tại của Israel.

Về phía Israel, nước này tiếp tục mở rộng các khu định cư ở Bờ Tây cả về quy mô lẫn dân số — một xu hướng vẫn tiếp diễn cho đến năm 2025.

Theo thời gian, Hamas cũng tận dụng việc thiếu giám sát ở Gaza để tăng cường năng lực quân sự, với sự hỗ trợ từ các đồng minh như Hezbollah ở Lebanon — lực lượng hình thành một phần của cái gọi là "Trục kháng cự" (Axis of Resistance).

Các nhân tố mới

Một số nhân tố mới đã xuất hiện sau các cuộc tấn công ngày 7/10 và cuộc chiến ở Gaza.

Thủ tướng Netanyahu tuyên bố rằng lập trường phản đối việc thành lập Nhà nước Palestine của ông đã trở nên cứng rắn hơn kể từ ngày 7/10, với lý do rằng một viễn cảnh như vậy sẽ "đe dọa đến sự tồn tại [của Israel]".

Ông cam kết sẽ "duy trì toàn quyền kiểm soát an ninh đối với toàn bộ lãnh thổ phía tây sông Jordan", bao gồm cả Dải Gaza và Bờ Tây.

Quốc hội Israel đã thông qua một nghị quyết vào tháng 7/2024, bác bỏ việc thành lập một Nhà nước Palestine.

Những người ủng hộ Netanyahu theo khuynh hướng cánh hữu đã kêu gọi sáp nhập những vùng đất mà người Palestine mong muốn cho nhà nước tương lai của họ vào lãnh thổ Israel — bao gồm cả một số khu vực của Gaza.

Một số người ủng hộ cũng nói rằng họ muốn trục xuất vĩnh viễn người dân Gaza khỏi vùng đất này.

Ngoài ra, ở Israel hiện cũng có sự đồng thuận rộng rãi rằng Hamas phải bị tiêu diệt. Tuy nhiên, nỗ lực thực hiện điều này đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho dân thường ở Gaza.

Tuy nhiên, áp lực quốc tế lên Israel đã gia tăng để nước này tiến tới hòa bình, đặc biệt sau khi Israel tiêu diệt các chỉ huy quân sự cấp cao của Hamas cũng như làm suy yếu nhóm vũ trang Hezbollah và Iran.

Hội nghị Liên Hiệp Quốc do các nước Ả Rập và châu Âu đồng bảo trợ cùng các tuyên bố gần đây từ các quốc gia như Pháp và Anh về việc họ dự định công nhận một nhà nước Palestine đã cho thấy sự chuyển hướng trong quan điểm, nhằm gây áp lực lên Israel để tiến tới giải pháp hai nhà nước.

Tuy nhiên, Mỹ, vốn từ lâu là một trong những nước bảo trợ chính cho giải pháp hai nhà nước, dường như đang dần rút lui khỏi lập trường này.

Mặc dù Tổng thống Mỹ Donald Trump chưa công khai rõ ràng quan điểm của mình về vấn đề này, chính quyền của ông đã phản đối hội nghị Liên Hiệp Quốc.

Một bức điện của Mỹ mà Reuters có được cho biết: "Hoa Kỳ phản đối bất kỳ hành động đơn phương nào công nhận một nhà nước Palestine giả định, việc này sẽ tạo ra các rào cản pháp lý và chính trị đáng kể trong việc đạt tới các giải pháp cuối cùng cho cuộc xung đột và có thể gây áp lực lên Israel trong cuộc chiến, từ đó gián tiếp hỗ trợ cho kẻ thù của họ."

Khi được hỏi vào ngày 29/7 liệu có nên gây áp lực lên Israel để đạt được một giải pháp lâu dài hay không, ông Trump cho biết điều đó có thể bị coi là phần thưởng cho Hamas.

Và khi không có sự ủng hộ của Mỹ đối với các nỗ lực phục hồi giải pháp hai nhà nước, khả năng đạt được tiến triển trong vấn đề này vẫn còn rất bất định.

 

Nguồn: Tiền Phong; Vietnamnet; CafeF; BBC

Xem thêm:
Về trang trước

Chủ đề:

Bình luận và đánh giá
Gửi nhận xét đánh giá

Đọc nhiều nhất

Việt Nam: Ngọc nữ lọt top mỹ nhân đẹp nhất thế giới; Đường dây rửa tiền xuyên quốc gia; Quy hoạch công viên Thủ Lệ; Thánh đường 5.000 người trước ngày khánh thành

Việt Nam: Đề nghị kỷ luật Sử Ngọc Anh; Cáp treo mới 16.234 tỷ; Thiên đường nghỉ dưỡng; Cựu Phó TGĐ Ngân hàng VNCB trốn truy nã; Đấu giá biệt thự Chủ tịch AIC

Người Việt hải ngoại: Mỹ nhân mở tiệc 3 ngày 3 đêm ở Mỹ; Du học sinh tốt nghiệp ở Bắc Kinh, về quê làm khu công nghiệp; Đại hội Phụ nữ vùng Kansai, Nhật Bản

Người Việt hải ngoại: Thiên Ân dự đám cưới Kỳ Duyên; Con gái NSND Trần Hiếu sinh con ở Mỹ; Nàng Hậu được ĐH Anh vinh danh; Trại sách cộng đồng ở Nhật; Gắn kết cộng đồng ở châu Âu

Việt Nam: Lãi suất ngân hàng 12/10; Khách sạn lọt top 3 tốt nhất Đông Nam Á; Chung cư 90 triệu đồng/m2; Chuyển trái phép 900 tỷ ra nước ngoài; Ngân hàng bán bất động sản xử lý nợ

Người Việt hải ngoại: Dàn sao Kiều Nữ Và Đại Gia sau 18 năm; Nữ nghệ sĩ rời Mỹ về nước; Những ngày biểu tình ở Pháp; Luật Người lao động làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng

Việt Nam: Vùng biển hoang sơ thành thiên đường du lịch; Chiến lược tích trữ vàng; Tân hoa hậu Miss Universe Vietnam bị phạt; Khởi tố lãnh đạo doanh nghiệp 3.600 tỷ

Người Việt hải ngoại: Cộng đồng người nước ngoài lớn thứ hai tại Nhật; Bà chủ chuỗi nhà hàng ở Bỉ; Techcombank triển khai giải pháp nhận tiền quốc tế; Cùng chồng Đức bỏ phố về quê

Lên đầu trang