EU: Nỗi lo an toàn thực phẩm; Cần 1.000 tỷ đô để vực dậy ngành quốc phòng; Thúc đẩy ‘đám mây chủ quyền’; Lo kịch bản ‘ác mộng’ với Mỹ

CÁC VỤ BÊ BỐI SỮA BỘT TẠI CHÂU ÂU LÀM DẤY LÊN NỖI LO VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM

Hàng loạt tập đoàn sữa hàng đầu thế giới như Nestlé, Danone và Lactalis đang đối mặt với làn sóng chỉ trích gay gắt sau khi buộc phải thu hồi sữa công thức trẻ em.

Hồi chuông cảnh báo an toàn thực phẩm

Theo thông tin từ truyền thông quốc tế, Tập đoàn Danone (Pháp) đã tự nguyện thu hồi một lô sữa bột trẻ em Aptamil First Infant Formula tại Vương quốc Anh do phát hiện nguy cơ nhiễm độc tố cereulide. Vụ thu hồi sữa Aptamil diễn ra trong bối cảnh rộng hơn của một cuộc khủng hoảng an toàn sữa công thức trẻ em tại châu Âu, với nhiều hãng sản xuất lớn như Nestlé và Lactalis gần đây cũng đã thu hồi các sản phẩm tương tự do liên quan đến nguy cơ nhiễm cereulide - một độc tố do vi khuẩn Bacillus cereus sinh ra, có thể gây nôn mửa, tiêu chảy và đau bụng, đặc biệt nguy hiểm đối với trẻ nhỏ. Độc tố này rất bền nhiệt và không bị loại bỏ bằng cách đun nấu thông thường, nên nguy cơ đối với trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ được đánh giá là cao nếu tiêu thụ sản phẩm nhiễm độc.

Các cuộc điều tra ban đầu cho thấy nguồn gốc của sự cố đến từ một nhà cung cấp dầu ARA (arachidonic acid) tại Trung Quốc. Đây là thành phần quan trọng thường được bổ sung vào các dòng sữa công thức cao cấp nhằm hỗ trợ phát triển não bộ và thị giác của trẻ sơ sinh. Việc một nguyên liệu then chốt bị nhiễm độc đã kéo theo hệ quả dây chuyền, buộc nhiều tập đoàn phải rà soát toàn bộ chuỗi cung ứng.

Lactalis là doanh nghiệp mới nhất gia nhập "làn sóng thu hồi" khi tuyên bố rút 6 lô sữa Picot khỏi thị trường tại 18 quốc gia. Các lô sản phẩm này đã được bày bán từ tháng 1/2025 và có hạn sử dụng kéo dài đến năm 2027. Công ty cho biết ngay sau khi nhận được cảnh báo, đơn vị phụ trách mảng dinh dưỡng đã tiến hành kiểm nghiệm độc lập thông qua các phòng thí nghiệm được công nhận.

Danone, trong khi đó, thông báo thu hồi với quy mô nhỏ hơn. Một lô sữa sản xuất tại Thái Lan đã bị Cơ quan Thực phẩm Singapore yêu cầu thu hồi trước khi kịp đưa ra thị trường. Doanh nghiệp khẳng định đây là biện pháp phòng ngừa, nhấn mạnh rằng các quy trình kiểm soát nội bộ không phát hiện sai phạm về tiêu chuẩn sản xuất.

Nghiêm trọng hơn cả là trường hợp của Nestlé. Tập đoàn Thụy Sĩ này là đơn vị đầu tiên tiến hành thu hồi sữa công thức tại hơn 60 quốc gia, biến vụ việc thành một trong những chiến dịch thu hồi lớn nhất trong lịch sử công ty. Nhiều thương hiệu quen thuộc tại châu Âu như SMA, Beba, Guigoz hay Alfamino đều bị ảnh hưởng. Dù Nestlé khẳng định chưa ghi nhận trường hợp bệnh lý nào liên quan trực tiếp đến các sản phẩm bị thu hồi, quy mô và phạm vi của sự cố đã làm dấy lên lo ngại sâu sắc trong dư luận.

Tranh cãi minh bạch và hệ lụy chính trị - pháp lý kéo dài

Không dừng lại ở vấn đề an toàn thực phẩm, các vụ thu hồi sữa bột tại châu Âu nhanh chóng chuyển thành khủng hoảng niềm tin, kéo theo những tranh cãi gay gắt về cách thức xử lý thông tin của các tập đoàn đa quốc gia.

Nestlé đặc biệt đối mặt với làn sóng chỉ trích từ các tổ chức bảo vệ người tiêu dùng. Theo điều tra của tổ chức Foodwatch International, tập đoàn này đã xác nhận nguy cơ nhiễm độc từ đầu tháng 12/2025, song phải đến đầu tháng 1/2026 mới bắt đầu công bố rộng rãi việc thu hồi tại nhiều quốc gia. Foodwatch cho rằng sự chậm trễ này có thể vi phạm nghĩa vụ cảnh báo sớm và làm gia tăng rủi ro cho người tiêu dùng.

Giám đốc Foodwatch Hà Lan đặt câu hỏi về tính minh bạch trong công tác truy xuất nguồn gốc, cho rằng một tập đoàn có hệ thống kiểm soát toàn cầu như Nestlé lẽ ra phải hành động nhanh chóng và nhất quán hơn. Trước áp lực dư luận, Foodwatch tuyên bố đang chuẩn bị khởi kiện Nestlé và Lactalis, cáo buộc các doanh nghiệp này không thực hiện đầy đủ trách nhiệm thông tin.

Khủng hoảng cũng khiến nhiều chính phủ châu Âu và ngoài khu vực phải vào cuộc. Cơ quan an toàn thực phẩm tại Ireland, Anh, Pháp và Singapore đã ban hành cảnh báo khẩn, đồng thời tăng cường phối hợp với Ủy ban châu Âu nhằm giám sát việc thu hồi xuyên biên giới. Đáng chú ý, tại Pháp, giới chức y tế đang điều tra một trường hợp trẻ sơ sinh tử vong từng sử dụng sữa thuộc diện thu hồi của Nestlé, dù hiện chưa xác lập mối liên hệ nhân quả trực tiếp.

Những diễn biến này gợi lại ký ức không mấy tốt đẹp về các bê bối trong quá khứ, điển hình là vụ sữa nhiễm salmonella của Lactalis năm 2018, khi hơn 12 triệu hộp sữa bột phải thu hồi tại hơn 80 quốc gia. Điều đó cho thấy các vấn đề mang tính hệ thống trong quản trị rủi ro và giám sát chuỗi cung ứng vẫn chưa được giải quyết triệt để.

Về mặt chính trị - chính sách, khủng hoảng sữa bột lần này đang thúc đẩy các cuộc thảo luận tại Liên minh châu Âu về việc siết chặt tiêu chuẩn an toàn đối với thực phẩm cho trẻ em, tăng nghĩa vụ minh bạch và rút ngắn thời gian cảnh báo khi phát hiện nguy cơ. Các nhà lập pháp châu Âu cho rằng niềm tin của người dân, đặc biệt là các gia đình có trẻ nhỏ, chỉ có thể được khôi phục nếu các tập đoàn lớn chịu sự giám sát nghiêm ngặt và chế tài đủ mạnh.

CHÂU ÂU CẦN 1.000 TỶ USD ĐỂ VỰC DẬY NGÀNH CÔNG NGHIỆP QUỐC PHÒNG

Trong bối cảnh căng thẳng với Nga và quan hệ với Mỹ rạn nứt, châu Âu đang đẩy mạnh sản xuất vũ khí để tăng mức độ tự chủ về trang thiết bị quốc phòng. Dù vậy, khu vực này vẫn còn nhiều việc phải làm để đạt mục tiêu tự lực…

Những phát biểu của Tổng thống Donald Trump về việc sáp nhập Greenland vào Mỹ đang khiến các nước đồng minh của Mỹ trong Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) lo ngại và đặt ra câu hỏi: nếu quan hệ xuyên Đại Tây Dương rạn nứt sâu hơn, liệu châu Âu có đủ năng lực tự sản xuất vũ khí để tác chiến mà không phải dựa vào Mỹ hay không.

Cần khoảng một nghìn tỷ USD

Giới phân tích và các nghị sĩ nhìn chung cho rằng châu Âu có thể tiến tới mục tiêu này, nhưng sẽ cần thời gian. Ngành công nghiệp quốc phòng của khu vực này, vốn bị đánh giá là ì ạch trong nhiều năm, đang đẩy mạnh sản xuất máy bay không người lái, xe tăng, đạn dược và các loại vũ khí khác với tốc độ nhanh nhất trong nhiều thập kỷ. Điều này diễn ra trong bối cảnh châu Âu đối mặt căng thẳng với Nga và bất đồng gia tăng trong quan hệ với Mỹ.

Tuy nhiên, các nhà phân tích cho rằng châu Âu vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết. Theo Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế (IISS), chi phí để thay thế trang bị và lực lượng Mỹ đang hiện diện tại châu Âu là khoảng 1 nghìn tỷ USD. Khu vực này cũng chưa tự chủ ở một số năng lực then chốt, gồm máy bay chiến đấu tàng hình, tên lửa tầm xa và năng lực tình báo vệ tinh.

Những năm gần đây, sản xuất quốc phòng ở châu Âu có xu hướng gia tăng nhưng ngành này vẫn phân mảnh nên quy mô và năng lực khó sánh kịp với các doanh nghiệp Mỹ - nhóm được hậu thuẫn bởi ngân sách quân sự lớn nhất thế giới.

Dù vậy, làn sóng tăng chi tiêu quân sự trên khắp châu Âu, cùng việc đẩy mạnh đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, đang kéo châu lục này đến gần mục tiêu tự chủ về năng lực tác chiến. Ở một số mảng, tiến độ diễn ra nhanh hơn dự kiến.

Vào cuối năm 2024, doanh nhân Clemens Kurten lập một công ty cung cấp máy bay không người lái cho quân đội các nước châu Âu khi thậm chí chưa có thiết kế hoàn chỉnh hay đội ngũ nhân sự. Nhưng chỉ sau một năm, công ty Đức có tên Twentyfour Industries này đã bán ra hàng trăm thiết bị.

Sức ép với châu Âu trong việc tìm cách ứng phó với hướng đi của Mỹ đang tăng lên, không chỉ xoay quanh Greenland mà còn liên quan tới tương lai của cấu trúc an ninh rộng hơn đã gắn kết Washington với châu Âu từ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai.

“Nếu Mỹ bắt đầu giảm hiện diện trên lục địa châu Âu... dĩ nhiên chúng tôi phải bắt đầu tính toán cách xây dựng một ‘trụ cột châu Âu’ trong NATO”, ông Andrius Kubilius, quan chức Liên minh châu Âu (EU) phụ trách thúc đẩy phục hồi ngành công nghiệp quốc phòng, phát biểu hôm thứ Tư tuần trước tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) ở Davos, Thụy Sỹ.

Theo ông Kubilius, điều đó đồng nghĩa châu Âu phải từng bước tự chủ về hệ thống bảo đảm năng lực tác chiến mà hiện vẫn phụ thuộc vào Mỹ, như hệ thống vệ tinh.

Thời gian qua, Tổng thống Trump nhiều lần thúc giục châu Âu tăng chi tiêu quốc phòng. Trong bối cảnh Mỹ ngày càng dồn trọng tâm sang Mỹ Latin và châu Á, một số nhà phân tích cho rằng Washington có thể điều chuyển một phần khí tài khỏi châu Âu.

Gần đây, các bất đồng giữa Nhà Trắng và châu Âu về vấn đề Ukraine, rồi tới Greenland, càng làm dấy lên lo ngại rằng Mỹ có thể ngừng cung cấp vũ khí do Mỹ sản xuất, thậm chí hạn chế châu Âu sử dụng cả những hệ thống đã mua từ Mỹ.

Cũng tại Davos vào thứ Tư tuần trước, Tổng thống Phần Lan Alexander Stubb cho biết phi đội tiêm kích do Mỹ sản xuất, đang phục vụ trong không quân Phần Lan, khó có thể vận hành lâu dài nếu thiếu phụ tùng thay thế và các bản cập nhật phần cứng từ Mỹ.

Vì vậy, Phần Lan phải đặt niềm tin rằng Washington sẽ tiếp tục hỗ trợ để các máy bay này duy trì hoạt động - và ông Stubb cho rằng điều đó cũng mang lại lợi ích cho Mỹ.

Tăng tốc tự chủ quốc phòng

Theo nhiều lãnh đạo doanh nghiệp quốc phòng châu Âu, nỗ lực xây dựng một ngành công nghiệp quốc phòng tự chủ ở châu lục này đang ngày càng tăng tốc.

Ông Kurten, giám đốc điều hành Twentyfour Industries, cho biết công ty có thể nhanh chóng đi vào sản xuất nhờ nhà đầu tư châu Âu sẵn sàng rót vốn cho doanh nghiệp quốc phòng, nguồn nhân lực chấp nhận gia nhập lĩnh vực này và các cơ quan mua sắm công ra quyết định nhanh hơn.

“Cách đây 5 năm, điều này không thể xảy ra”, ông Kurten nói với tờ báo Wall Street Journal. Trước khi cùng một cộng sự thành lập Twentyfour Industries, ông làm tư vấn về máy bay không người lái.

Các lãnh đạo doanh nghiệp cho rằng xu hướng này còn được tiếp sức bởi đợt tăng chi tiêu quân sự mạnh nhất của châu Âu kể từ thời Chiến tranh Lạnh.

Theo ước tính của các nhà phân tích tại công ty chứng khoán Bernstein, năm ngoái châu Âu chi khoảng 560 tỷ USD cho quốc phòng, gấp đôi so với 10 năm trước. Bernstein dự báo vào năm 2035, chi tiêu quốc phòng của khu vực này sẽ đạt mức tương đương 80% của Mỹ, tăng từ mức dưới 30% vào năm 2019.

Nếu châu Âu chuyển sang ưu tiên vũ khí tự sản xuất, ngành quốc phòng Mỹ có thể chịu tác động lớn. Theo nhóm nghiên cứu Agency Partners có trụ sở tại Anh, châu Âu đóng góp tới 10% doanh thu của các nhà sản xuất quốc phòng Mỹ.

Một số doanh nghiệp châu Âu đã tăng tốc nâng cao công suất. Hãng công nghiệp quốc phòng Rheinmetall của Đức đã mở hoặc đang xây dựng tổng cộng 16 nhà máy mới kể từ khi Nga mở chiến dịch quân sự tại Ukraine vào tháng 2/2022. Tập đoàn quốc phòng Leonardo của Italy cũng tăng gần 50% nhân sự lên 64.000 người chỉ trong hơn 2 năm.

Vào mùa xuân năm ngoái, MBDA - nhà sản xuất tên lửa lớn nhất châu Âu - đã nâng công suất lên tên lửa phòng không tầm ngắn Mistral lên 40 quả/tháng, từ 10 quả trước khi xung đột ở Ukraine nổ ra, đồng thời tăng gấp đôi sản lượng tên lửa chống tăng lên 40 quả/tháng.

Các nhà sản xuất máy bay không người lái như Twentyfour Industries đang mọc lên trên khắp châu Âu. Trong mảng robot không người lái trên mặt đất, Estonia - một quốc gia nhỏ ở vùng Baltic 0 hiện là nước dẫn đầu thị trường toàn cầu.

Ở một số hạng mục, năng lực sản xuất của châu Âu thậm chí đã vượt Mỹ. Riêng hãng Rheinmetall dự kiến sớm đạt công suất 1,5 triệu quả đạn pháo cỡ 155 mm mỗi năm, cao hơn tổng công suất của toàn ngành công nghiệp quốc phòng Mỹ.

Châu Âu cũng gần như tự chủ nguồn cung xe bọc thép, trong đó xe tăng Leopard của Đức là dòng phổ biến nhất thế giới. Khu vực này có thể tự sản xuất tàu mặt nước và tàu ngầm với các mẫu tàu này bán chạy trên thị trường quốc tế hơn các sản phẩm tương đương của Mỹ.

Một số tín hiệu cho thấy vài quốc gia châu Âu đang nghiêng về vũ khí do khu vực sản xuất thay vì hàng do Mỹ chế tạo. Giai đoạn 2020-2024, 79% nhập khẩu quốc phòng của Đan Mạch đến từ Mỹ. Tuy nhiên năm ngoái, khi ông Trump gia tăng sức ép với Đan Mạch liên quan tới Greenland, hơn một nửa kim ngạch nhập khẩu mua sắm vũ khí của nước này lại đến từ châu Âu. Copenhagen phủ nhận đây là chủ trương có chủ đích.

Còn nhiều việc phải làm

Tuy nhiên, ông Pieter Wezeman, nhà nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu Hòa bình Quốc tế Stockholm (SIPRI), cho rằng châu Âu vẫn chưa đạt được bước ngoặt thực sự trong việc phân ly với Mỹ. Một số quan chức quốc phòng châu Âu cũng cho rằng doanh nghiệp quốc phòng trong khu vực chưa phát triển đủ nhanh, đặc biệt ở lĩnh vực hàng không - vũ trụ.

Hãng chế tạo máy bay Dassault của Pháp hiện còn tồn đọng 220 đơn đặt hàng tiêm kích Rafale. Năm ngoái, công ty này bàn giao trung bình 2 chiếc mỗi tháng, trong đó mỗi máy bay mất khoảng 3 năm để hoàn thiện. Dassault cho biết năm nay sản lượng của công ty dự kiến tăng lên 3 chiếc mỗi tháng.

Ông Roberto Cingolani, giám đốc điều hành tập đoàn quốc phòng Leonardo, cho rằng một rào cản lớn khiến châu Âu tái vũ trang chậm là tình trạng phân mảnh của ngành này.

“Quốc gia nào cũng muốn có xe tăng riêng, máy bay riêng, tàu chiến riêng. Nhưng việc đầu tư, nghiên cứu - phát triển và mua sắm bị chia nhỏ như vậy không có lợi cho tiến trình tái thiết ngay quốc phòng của khu vực”, ông Cingolani nói trong một cuộc phỏng vấn với Wall Street Journal

Bên cạnh đó, châu Âu cũng tồn tại khoảng trống năng lực. Theo các nhà phân tích, khu vực này cần ít nhất 10 năm nữa mới có thể tự sản xuất được tiêm kích tàng hình. Châu Âu cũng tụt hậu hơn so với Mỹ về tình báo vệ tinh và hầu hết các nước đang dựa vào doanh nghiệp Mỹ trong mảng điện toán đám mây để vận hành và quản lý dữ liệu chiến trường.

Dù Đức phát minh tên lửa đạn đạo từ hơn 80 năm trước, châu Âu hiện hầu như không còn năng lực sản xuất loại vũ khí quan trọng này, cũng như các dòng tên lửa tầm rất xa khác. Vì vậy, hệ thống phòng thủ tên lửa tầm xa của Mỹ vẫn là lựa chọn hàng đầu của nhiều quốc gia châu Âu.

Một số quốc gia châu Âu đang tìm cách lấp các khoảng trống năng lực. Nhiều dự án được triển khai nhằm phát triển tên lửa có tầm bắn trên 1.000 dặm, tương đương khoảng 1.600 km, sau năm 2030. Anh gần đây cũng thiết lập chòm vệ tinh quân sự riêng, thay vì tiếp tục phụ thuộc vào Mỹ, trong khi một số nước châu Âu khác tăng hiện diện trên quỹ đạo. Tổng thống Pháp Emmanuel Macron gần đây cho biết 2/3 nguồn tình báo vệ tinh của Ukraine hiện đến từ Pháp.

“Châu Âu có thể tự trang bị vũ khí không? Có, nhưng cần thời gian. Quy mô hiện tại chưa đủ lớn và ở một số mảng, chất lượng cũng chưa tốt bằng sản phẩm của Mỹ”, ông Matthew Savill, giám đốc tại viện nghiên cứu Royal United Services Institute (RUSI), nhận xét.

CHÂU ÂU THÚC ĐẨY "ĐÁM MÂY CHỦ QUYỀN"

AWS công bố xây dựng hệ thống đám mây chủ quyền tại châu Âu, với hạ tầng và dữ liệu tách biệt, nhằm đáp ứng yêu cầu của EU về bảo mật, quản trị dữ liệu và chủ quyền số.

Amazon Web Services (AWS), công ty con chuyên về dịch vụ điện toán đám mây của Tập đoàn Amazon (Mỹ), mới đây thông báo phát triển một hệ thống điện toán đám mây dành riêng cho thị trường châu Âu, được gọi là “đám mây chủ quyền” (Sovereign Cloud).

Theo AWS, hệ thống này được thiết kế với hạ tầng tách biệt hoàn toàn khỏi mạng lưới đám mây toàn cầu hiện có, nhằm đáp ứng các yêu cầu của Liên minh châu Âu (EU) về bảo mật và quản trị dữ liệu.

AWS cho biết toàn bộ dữ liệu nhạy cảm của khách hàng châu Âu sẽ được lưu trữ và xử lý trong phạm vi EU, đồng thời việc vận hành, quản lý và giám sát hệ thống sẽ do đội ngũ nhân sự đặt tại châu Âu đảm nhiệm. Động thái này diễn ra trong bối cảnh các quốc gia EU ngày càng chú trọng tới vấn đề chủ quyền số và an ninh dữ liệu. Trước đó khoảng nửa năm, Microsoft, đối thủ lớn của AWS trong lĩnh vực điện toán đám mây, cũng đã triển khai một chiến lược tương tự tại châu Âu.

Trong nhiều năm qua, vấn đề lưu trữ và bảo mật dữ liệu số của EU và các quốc gia thành viên đã trở thành mối quan tâm lớn của giới chức châu Âu. Hiện nay, phần lớn những hạ tầng lưu trữ dữ liệu quy mô lớn trên thế giới vẫn do các tập đoàn công nghệ Mỹ như Microsoft, Amazon và Google nắm giữ. Trong bối cảnh tình hình quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp, việc bảo đảm quyền kiểm soát dữ liệu và hạ tầng số được coi là một trong những ưu tiên của EU.

Giáo sư Nicolas Van Zeebroeck, chuyên gia Kinh tế và Chiến lược số tại Trường Kinh tế và Quản lý Solvay Brussels thuộc Đại học Tự do Brussels (ULB), cho rằng đám mây chủ quyền là các hạ tầng được triển khai tại một khu vực hoặc quốc gia cụ thể và chịu sự kiểm soát của khu vực đó cả về mặt vật lý lẫn pháp lý. Theo ông, yếu tố pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc xác định quyền tài phán và bộ luật được áp dụng đối với dữ liệu lưu trữ.

Cuối tháng 4/2025, Microsoft tuyên bố sẽ tăng gấp đôi năng lực lưu trữ dữ liệu tại châu Âu, đồng thời cung cấp một hệ thống đám mây độc lập mà quyền truy cập và quản lý do phía châu Âu nắm giữ. Tiếp đó, AWS thông báo kế hoạch đầu tư gần 8 tỷ euro (9,48 tỷ USD) để xây dựng một trung tâm dữ liệu quy mô lớn tại Đức. Ngoài ra, các hạ tầng bổ sung dự kiến sẽ được triển khai tại một số khu vực lân cận Brussels, trung tâm chính trị của EU.

Một trong những nguyên nhân khiến châu Âu thúc đẩy xây dựng đám mây chủ quyền là các quy định pháp lý của Mỹ, trong đó có Đạo luật Đám mây (Cloud Act). Đạo luật này cho phép những cơ quan chức năng Mỹ yêu cầu tiếp cận dữ liệu của các công ty Mỹ, kể cả trong trường hợp dữ liệu được lưu trữ ngoài lãnh thổ Mỹ. Theo Giáo sư Van Zeebroeck, quy định này tạo ra khả năng thực thi quyền tài phán xuyên biên giới đối với dữ liệu do các doanh nghiệp Mỹ sở hữu hoặc quản lý.

Những quan ngại liên quan đến vấn đề quyền tài phán dữ liệu gia tăng kể từ khi Tổng thống Mỹ Donald Trump trở lại Nhà Trắng vào tháng 1/2025. Một số động thái trong chính sách đối ngoại và tư pháp của Mỹ được cho là có tác động trực tiếp tới các vấn đề pháp lý liên quan đến dữ liệu và hạ tầng số toàn cầu.

Mặc dù Microsoft và AWS đều khẳng định các hệ thống đám mây tại châu Âu sẽ hoạt động độc lập và tuân thủ đầy đủ những quy định của EU, song thực tế cho thấy phần lớn thiết kế và công nghệ cốt lõi của các hạ tầng này vẫn do những doanh nghiệp Mỹ phát triển. Theo các chuyên gia, việc dữ liệu được lưu trữ trong lãnh thổ châu Âu là một bước tiến đáng chú ý, song vấn đề kiểm soát toàn diện đối với hạ tầng và công nghệ vẫn là nội dung được EU quan tâm.

Hiện nay, châu Âu cũng có một số nhà cung cấp dịch vụ lưu trữ dữ liệu nội địa tại Pháp, Đức và Bỉ. Tuy nhiên, các doanh nghiệp này chưa đạt được quy mô tương đương với những tập đoàn công nghệ Mỹ, đặc biệt trong lĩnh vực dịch vụ phục vụ đại chúng, vốn đòi hỏi hạ tầng lớn và chi phí đầu tư cao.

Việc những tập đoàn công nghệ Mỹ công bố các dự án “đám mây chủ quyền” tại châu Âu phản ánh những điều chỉnh trong chiến lược đầu tư nhằm đáp ứng các yêu cầu ngày càng chặt chẽ của EU về bảo mật, quản trị và lưu trữ dữ liệu số.

EU 'LO NGAY NGÁY' TRƯỚC KỊCH BẢN 'ÁC MỘNG' VỚI MỸ

Các quan chức EU đang chuẩn bị cho tình huống cực kỳ bi quan trong bối cảnh quan hệ với Mỹ xấu đi.

Căng thẳng ngày càng gia tăng giữa châu Âu và Mỹ đang thúc đẩy một làn sóng ở lục địa già, đã đến lúc phải thoát ly khỏi sự phụ thuộc vào công nghệ Mỹ. Điều từng được coi là bất khả thi - một “cuộc chia tay” với những gã khổng lồ công nghệ Mỹ, nay đang được đặt lên bàn nghị sự với sự nghiêm túc chưa từng thấy.

Ý tưởng về việc Nhà Trắng có thể ra một sắc lệnh hành pháp nhằm cắt đứt quyền tiếp cận của châu Âu với các dịch vụ điện toán đám mây, hệ thống email hay công cụ phần mềm quan trọng - vốn là xương sống của cả nền kinh tế và bộ máy hành chính, từng bị cho là viển vông. Nhưng khi chính Tổng thống Trump đưa ra các lời đe dọa thẳng thừng, thậm chí bóng gió khả năng sử dụng vũ lực với đồng minh, như trong trường hợp Greenland, các nhà hoạch định chính sách châu Âu không thể ngồi yên.

Tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới ở Davos, chủ đề “thoát Mỹ về công nghệ” nổi lên như một trong những điểm nóng thảo luận. Các lãnh đạo doanh nghiệp và chính khách đều thừa nhận rằng việc cắt đứt hoàn toàn là cực kỳ khó, nhưng đồng thời khẳng định sự phụ thuộc hiện tại là không bền vững.

Năm 2024, khách hàng châu Âu đã chi gần 25 tỷ USD cho các dịch vụ hạ tầng công nghệ từ 5 tập đoàn Mỹ hàng đầu, chiếm đến 83% thị phần toàn khu vực, theo hãng nghiên cứu IDC.

Để giải quyết mối lo ngày một rõ rệt, Nghị viện châu Âu đã thông qua một nghị quyết về “chủ quyền công nghệ”. Qua đó, họ khuyến khích ưu tiên sử dụng sản phẩm châu Âu trong các gói thầu công và đề xuất các đạo luật mới hỗ trợ các nhà cung cấp dịch vụ đám mây nội địa.

Ủy ban châu Âu (EC) cũng đang soạn thảo một khung pháp lý mới nhằm thúc đẩy sự độc lập công nghệ. Nếu như chỉ cách đây 6 tháng, việc nêu công khai mối đe dọa từ công nghệ Mỹ còn là điều “không tưởng”, thì nay các quan chức EU đã nói thẳng rằng rủi ro an ninh đến từ sự kiểm soát dữ liệu bởi bên ngoài là điều không thể phớt lờ.

Tại Pháp và Đức, 2 đầu tàu công nghệ châu Âu, các nhà lãnh đạo đang thúc đẩy các sáng kiến đầy tham vọng. Tổng thống Emmanuel Macron biến việc xây dựng “những nhà vô địch công nghệ châu Âu” thành ưu tiên nhiệm kỳ. Ông đã tích cực hỗ trợ Mistral AI, một trong số ít công ty AI đẳng cấp ở châu Âu - tiếp cận các khách hàng lớn, đồng thời quảng bá lợi thế năng lượng hạt nhân của Pháp như một “nam châm” hút đầu tư vào trung tâm dữ liệu.

Thủ tướng Đức Friedrich Merz tổ chức hội nghị thượng đỉnh về chủ quyền số, thúc đẩy nới lỏng các quy định EU và ưu tiên công nghệ nội khối trong mua sắm công. Bộ kỹ thuật số của Đức đã bắt đầu thử nghiệm openDesk - phần mềm mã nguồn mở thay thế bộ công cụ văn phòng Microsoft - trên máy tính của các cơ quan liên bang.

Các công ty Mỹ hiểu rõ rủi ro mất thị phần châu Âu, nơi họ đã xuất khẩu hơn 360 tỷ USD dịch vụ kỹ thuật số chỉ trong năm 2024, từ quảng cáo đến trí tuệ nhân tạo. Google, Amazon và Microsoft đều đã điều chỉnh chiến lược. Họ xây dựng trung tâm dữ liệu tại châu Âu, thành lập công ty con với ban điều hành người châu Âu, mở rộng liên doanh với các đối tác bản địa để triển khai các dịch vụ “sovereign cloud” (đám mây có chủ quyền).

Amazon vừa ra mắt dịch vụ đám mây mới tại Đức, chỉ do công dân EU điều hành. Microsoft tăng cường hợp tác với Delos Cloud, công ty con của SAP, để triển khai các dịch vụ Microsoft theo mô hình kiểm soát nội địa. Google cũng thiết lập liên doanh tại Pháp nhằm bảo vệ khách hàng trước các yêu cầu truy cập dữ liệu từ phía Mỹ.

Dù vậy, các chính phủ châu Âu hiện vẫn chưa yêu cầu thiết lập hệ thống hoàn toàn tách biệt khỏi Mỹ. Cựu lãnh đạo Google khu vực châu Âu, Matt Brittin, nhận định: “Điều họ thực sự tìm kiếm là sự kiểm soát và bảo mật ở mức cao hơn, chứ không phải là tách rời hoàn toàn.”

Nguồn: VTV; VnEconomy; Bnews; Soha

Xem thêm:
Về trang trước

Chủ đề:

Bình luận và đánh giá
Gửi nhận xét đánh giá

Đọc nhiều nhất

Việt Nam: Ngọc nữ lọt top mỹ nhân đẹp nhất thế giới; Đường dây rửa tiền xuyên quốc gia; Quy hoạch công viên Thủ Lệ; Thánh đường 5.000 người trước ngày khánh thành

Việt Nam: Đề nghị kỷ luật Sử Ngọc Anh; Cáp treo mới 16.234 tỷ; Thiên đường nghỉ dưỡng; Cựu Phó TGĐ Ngân hàng VNCB trốn truy nã; Đấu giá biệt thự Chủ tịch AIC

Người Việt hải ngoại: Mỹ nhân mở tiệc 3 ngày 3 đêm ở Mỹ; Du học sinh tốt nghiệp ở Bắc Kinh, về quê làm khu công nghiệp; Đại hội Phụ nữ vùng Kansai, Nhật Bản

Việt Nam: Lãi suất ngân hàng 12/10; Khách sạn lọt top 3 tốt nhất Đông Nam Á; Chung cư 90 triệu đồng/m2; Chuyển trái phép 900 tỷ ra nước ngoài; Ngân hàng bán bất động sản xử lý nợ

Người Việt hải ngoại: Dàn sao Kiều Nữ Và Đại Gia sau 18 năm; Nữ nghệ sĩ rời Mỹ về nước; Những ngày biểu tình ở Pháp; Luật Người lao động làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng

Việt Nam: Giá vàng hôm nay; Điều chỉnh quy hoạch đô thị sông Hồng; Xử lý 18 000 căn hộ sai quy hoạch; Shark Thủy bị truy tố lần 2; Hộ kinh doanh “đứng tên” bị hoãn xuất cảnh

Việt Nam: Vùng biển hoang sơ thành thiên đường du lịch; Chiến lược tích trữ vàng; Tân hoa hậu Miss Universe Vietnam bị phạt; Khởi tố lãnh đạo doanh nghiệp 3.600 tỷ

Người Việt hải ngoại: Cộng đồng người nước ngoài lớn thứ hai tại Nhật; Bà chủ chuỗi nhà hàng ở Bỉ; Techcombank triển khai giải pháp nhận tiền quốc tế; Cùng chồng Đức bỏ phố về quê

Lên đầu trang