- Thời sự
.jpg)
Báo Điện tử VTC News trân trọng giới thiệu 28 nghị định của Chính phủ về phân quyền, phân cấp; phân định thẩm quyền giữa Chính phủ và chính quyền địa phương 2 cấp.
1. Nghị định số 120/2025 của Chính phủ quy định về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 2 cấp trong lĩnh vực quản lý Nhà nước của Bộ Tư pháp.
2. Nghị định số 121/2025 của Chính phủ quy định về phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực quản lý Nhà nước của Bộ Tư pháp.
3. Nghị định số 122/2025 của Chính phủ quy định về phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực quản lý thuế.
4. Nghị định số 124/2025 của Chính phủ quy định về phân quyền, phân cấp; phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp trong lĩnh vực công tác dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo.
5. Nghị định số 125/2025 của Chính phủ quy định về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 2 cấp trong lĩnh vực quản lý Nhà nước của Bộ Tài chính.
6. Nghị định số 126/2025 của Chính phủ quy định về phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực dự trữ quốc gia.
7. Nghị định số 127/2025 của Chính phủ quy định về phân cấp thẩm quyền quản lý Nhà nước trong lĩnh vực quản lý, sử dụng tài sản công.
8. Nghị định số 128/2025 của Chính phủ quy định về phân quyền, phân cấp trong quản lý Nhà nước lĩnh vực nội vụ.
9. Nghị định số 129/2025 của Chính phủ quy định về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 2 cấp trong lĩnh vực quản lý Nhà nước của Bộ Nội vụ.
10. Nghị định số 130/2025 của Chính phủ quy định về phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực thống kê.
11. Nghị định số 131/2025 của Chính phủ quy định phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 2 cấp trong lĩnh vực quản lý Nhà nước của Bộ Nông nghiệp và môi trường.
12. Nghị định số 132/2025 của Chính phủ quy định về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 2 cấp trong lĩnh vực quản lý Nhà nước của Bộ Khoa học và Công nghệ.
13. Nghị định số 133/2025 của Chính phủ quy định về phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực quản lý Nhà nước của Bộ Khoa học và Công nghệ.
14. Nghị định số 134/2025 của Chính phủ quy định về phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực đối ngoại.
15. Nghị định số 136/2025 của Chính phủ quy định phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường.
16. Nghị định số 137/2025 của Chính phủ quy định về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 2 cấp trong lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch.
17. Nghị định số 138/2025 của Chính phủ quy định về phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch.
18. Nghị định số 139/2025 của Chính phủ quy định về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 2 cấp trong lĩnh vực quản lý Nhà nước của Bộ Công Thương.
19. Nghị định số 140/2025 của Chính phủ quy định về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 2 cấp trong lĩnh vực quản lý Nhà nước của Bộ Xây dựng.
20. Nghị định số 141/2025 của Chính phủ quy định về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp trong lĩnh vực quản lý Nhà nước của Thanh tra Chính phủ.
21. Nghị định số 142/2025 của Chính phủ quy định về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương hai cấp trong lĩnh vực quản lý Nhà nước của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
22. Nghị định số 143/2025 của Chính phủ quy định về phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực quản lý Nhà nước của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
23. Nghị định số 144/2025 của Chính phủ quy định về phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực quản lý Nhà nước của Bộ Xây dựng.
24. Nghị định số 145/2025 của Chính phủ quy định về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 2 cấp, phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực quy hoạch đô thị và nông thôn.
25. Nghị định số 146/2025 của Chính phủ quy định về phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực công nghiệp và thương mại.
26. Nghị định số 147/2025 của Chính phủ quy định về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 2 cấp trong lĩnh vực quản lý Nhà nước của Bộ Y tế.
27. Nghị định số 148/2025 của Chính phủ quy định về phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực y tế.
28. Nghị định số 151/2025 của Chính phủ quy định về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 2 cấp, phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực đất đai.
Dù đã có thời gian chuẩn bị trước vài năm, song các cơ quan chức năng vẫn lo ngại nếu đồng loạt kiểm định tất cả xe máy theo lộ trình đề xuất sẽ dẫn đến quá tải nghiêm trọng tại 2 thành phố lớn nhất nước.
Năng lực đăng kiểm chỉ bằng một nửa nhu cầu
Trong góp ý dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ quy định lộ trình áp dụng Quy chuẩn kỹ thuật VN (QCVN) về khí thải xe mô tô, xe gắn máy lưu hành ở VN mà Bộ Xây dựng vừa gửi Bộ NN-MT có một đề xuất đáng chú ý là giãn lộ trình kiểm định khí thải (KĐKT) xe máy.
Theo dự thảo, Bộ NN-MT dự kiến từ ngày 1.1.2027 sẽ KĐKT xe máy lưu hành tại Hà Nội và TP.HCM. Từ ngày 1.1.2028 KĐKT với xe máy lưu hành tại 4 thành phố trực thuộc T.Ư gồm Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ, Huế. Từ ngày 1.1.2030 KĐKT xe máy đang lưu hành trên địa bàn các tỉnh, thành còn lại. Tùy theo tình hình thực tế, các tỉnh, thành này có thể thực hiện sớm hơn.
Đánh giá lộ trình này khó khả thi, Bộ Xây dựng đề xuất lùi thời gian chính thức áp dụng KĐKT xe máy tại TP.HCM và Hà Nội thêm 6 tháng, tới 1.7.2027. Đồng thời, không áp dụng đồng loạt ngay với tất cả các xe mà thực hiện với xe sản xuất trước năm 2008 (tiêu chuẩn khí thải mức 1). Hai năm sau (1.7.2029) mới KĐKT xe máy sản xuất trước 2016 (áp dụng mức 2) và từ 1.1.2032 áp dụng với xe sản xuất trước 2026 (mức 3). Các thành phố trực thuộc T.Ư còn lại (Hải Phòng, Đà Nẵng, Huế, Cần Thơ) áp dụng tương tự Hà Nội, TP.HCM nhưng lộ trình lùi 1 năm. Các địa phương khác KĐKT xe máy mức 1 từ 1.1.2029 với xe sản xuất từ 2008 trở về trước và mức 2 từ 1.1.2031 với xe sản xuất từ năm 2009 trở đi.
Lý giải chi tiết về tính khó khả thi của lộ trình trong dự thảo, lãnh đạo Cục Đăng kiểm VN phân tích: Để có thể đáp ứng nhu cầu KĐKT xe mô tô, xe gắn máy thì theo tính toán, ngoài các trung tâm đăng kiểm xe cơ giới hiện có, đến 1.1.2027, Hà Nội cần 340 cơ sở KĐKT thành lập mới, tương ứng 340 đăng kiểm viên hạng 3 trở lên và 340 thiết bị phân tích khí thải (xăng). Tương tự, TP.HCM cũng cần mở mới 400 cơ sở KĐKT với 400 đăng kiểm viên hạng 3 trở lên và 400 thiết bị phân tích khí thải (xăng). Tới 1.1.2028, toàn quốc cần có tổng số 1.005 (1.345) cơ sở KĐKT, tương ứng với 1.005 (1.345) đăng kiểm viên hạng 3 trở lên và 1.005 (1.345) thiết bị phân tích khí thải (xăng). Tới 1.1.2030, số lượng cơ sở KĐKT trên toàn quốc cũng như lượng đăng kiểm viên và thiết bị phải đạt con số 4.332.
Thực tế hiện nay, ngoài các trung tâm đăng kiểm hiện có thì chưa có các thành phần khác đủ điều kiện để tham gia dịch vụ KĐKT xe mô tô, xe gắn máy. Theo thống kê của Cục Đăng kiểm, hiện có 2.768 cơ sở bảo hành bảo dưỡng của các nhà sản xuất, nhập khẩu xe mô tô, xe gắn máy có khả năng tham gia dịch vụ KĐKT với điều kiện phải có sự đồng thuận các nhà sản xuất, nhập khẩu để vận động, yêu cầu các cơ sở bảo hành bảo dưỡng này phải tham gia. Tuy nhiên, các cơ sở này cũng chưa trang bị thiết bị phân tích khí thải (xăng) và chưa có đăng kiểm viên để thực hiện kiểm định.
Trong khi đó, để cơ sở KĐKT đủ điều kiện đi vào hoạt động, ngoài cơ sở vật chất kỹ thuật, nhân lực thì phải được Sở Xây dựng cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động. Hằng năm, thiết bị phân tích khí thải (xăng) còn phải thực hiện hiệu chuẩn theo quy định pháp luật về đo lường. Với số lượng cơ sở KĐKT cần có quá lớn, dự kiến việc cấp giấy chứng nhận cho tất cả cơ sở bảo hành, bảo dưỡng xe mô tô, xe gắn máy thuộc TP.Hà Nội và TP.HCM không thể hoàn thành trước 1.7.2027. Chưa kể, việc triển khai phần mềm quản lý KĐKT xe mô tô, xe gắn máy tới các cơ sở KĐKT cần thời gian từ 12 - 18 tháng.
Vì thế, lãnh đạo Cục Đăng kiểm lo ngại nếu đồng loạt KĐKT tất cả xe mô tô, xe gắn máy theo lộ trình dự thảo có thể dẫn tới "vỡ trận", tắc nghẽn không thể thực hiện được. Bên cạnh đó, theo nội dung của dự thảo, việc quy định áp dụng mức khí thải cao dần theo năm sản xuất xe có thể dẫn đến hậu quả là các xe sản xuất những năm gần đây bị áp dụng tiêu chuẩn khí thải cao hơn có thể không đạt yêu cầu và bị thải loại, trong khi các xe sản xuất từ hàng chục năm trước thì được áp dụng tiêu chuẩn khí thải thấp vẫn có thể tồn tại và phát thải cao gấp nhiều lần các xe có tiêu chuẩn khí thải cao.
Địa phương vẫn "vừa chạy vừa dò"
Việc Bộ Xây dựng đề xuất giãn lộ trình KĐKT xe máy là động thái khá bất ngờ, bởi từ năm 2024 Bộ này đã ban hành các văn bản về trình tự thủ tục KĐKT cũng như trình tự thủ tục cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động KĐKT xe mô tô, xe gắn máy nhằm chuẩn bị kỹ lưỡng, bảo đảm việc thực hiện thuận tiện nhất cho người dân khi chính thức áp dụng theo lộ trình từ luật Bảo vệ môi trường.
Song song, Bộ phối hợp Hiệp hội Các nhà sản xuất, nhập khẩu xe máy VN (VAMM) để tính toán, đề xuất sử dụng các cơ sở bảo hành, bảo dưỡng xe mô tô, xe gắn máy của các đại lý bán xe thuộc VAMM và các cơ sở xã hội hóa tham gia thực hiện KĐKT xe mô tô, xe gắn máy. Thời điểm đó, Cục Đăng kiểm cũng trấn an người dân sẽ không xảy ra ùn tắc nhờ có khoảng 3.000 cơ sở đảm bảo. Ngoài ra, Thông tư 47 quy định đối với xe mô tô, xe gắn máy có thời gian sử dụng đến 5 năm, Cục Đăng kiểm thực hiện cấp giấy chứng nhận KĐKT trên phần mềm quản lý kiểm định, chủ xe không phải nộp hồ sơ KĐKT và không phải mang xe đến cơ sở đăng kiểm để KĐKT. Điều này góp phần giảm số lượng, giảm ùn tắc tại các cơ sở KĐKT trong giai đoạn đầu thực hiện.
Thực tế, việc kiểm soát khí thải xe máy đã được đề cập từ rất nhiều năm trước và đã được thí điểm tại Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng. Đây cũng được coi là bước đệm để các địa phương lấy số liệu, chuẩn bị cơ sở, thiết bị, xây dựng phương án và mức chi phí…
Không chỉ Bộ Xây dựng mà đại diện Sở Xây dựng TP.HCM cũng chia sẻ với PV Thanh Niên rằng TP.HCM vẫn chưa thể đánh giá lộ trình theo dự thảo đề xuất có thể khả thi hay không vì đến nay các tiêu chuẩn về định mức khí thải, tiêu chuẩn về cơ sở đăng kiểm, điều kiện kỹ thuật của đăng kiểm viên… vẫn chưa có. Sau quá trình triển khai thí điểm kiểm tra khí thải xe máy quy mô nhỏ trên địa bàn TP hồi năm 2020, Sở Xây dựng ghi nhận mỗi cửa hàng bảo dưỡng, sửa chữa xe máy làm hết công suất 1 ngày có thể kiểm tra được 200 xe, trên chi phí đầu tư 1 cơ sở như vậy là khoảng 500 triệu đồng. Với tổng lượng phương tiện mô tô, xe gắn máy trên địa bàn TP sau sáp nhập khoảng 12 triệu xe, tình hình có thể sẽ rất căng thẳng. Chưa kể, Nhà nước tính phương án kêu gọi xã hội hóa nhưng đến giờ kêu gọi ra sao, tỷ lệ phần trăm cho các doanh nghiệp thế nào hiện cũng chưa có phương án.
"UBND TP đang đề nghị Sở Xây dựng nghiên cứu trước phương án triển khai vùng phát thải thấp tại một số khu vực có điều kiện thuận lợi như Cần Giờ, Côn Đảo, trong đó yêu cầu chuyển đổi toàn bộ phương tiện sang xe điện. Đồng thời, nghiên cứu lộ trình cấm xe cá nhân vào trung tâm TP giống Hà Nội. Đây sẽ là những bước đệm để bắt vào triển khai lộ trình kiểm soát khí thải sau khi Chính phủ ban hành", đại diện Sở Xây dựng TP.HCM thông tin thêm.
.jpg)
Nhà ở xã hội tại Hà Nội ngày càng đắt đỏ, có dự án công bố lên tới 27 triệu đồng/m2. Chuyên gia cho rằng, giá nhà ở cao, vượt quá khả năng của nhiều người thu nhập thấp. Với quy định một cá nhân thu nhập dưới 15 triệu đồng/tháng, những người này khó có khả năng mua nhà ở xã hội đang tăng như hiện tại.
Giá nhà xã hội ngày càng đắt đỏ
Chủ đầu tư Dự án nhà ở xã hội Thượng Thanh (Rice City Long Châu) tại quận Long Biên, Hà Nội công bố giá bán căn hộ trung bình (tạm tính) khoảng 26 - 27 triệu đồng/m2. Với mức giá này, đây sẽ là dự án nhà ở xã hội đắt đỏ nhất Hà Nội từ trước đến nay.
Như vậy, với căn hộ diện tích 70m2, nhà ở xã hội tại đây có giá lên tới gần 1,9 tỷ đồng.
Nhà ở xã hội Rice City Long Châu (Long Biên, Hà Nội) đang thi công có giá cao nhất hiện nay.
Trước đó, dự án nhà ở xã hội công bố mức giá tạm tính cao nhất là N01 Hạ Đình (huyện Thanh Trì) với 25 triệu đồng/m2, theo sau là NHS Trung Văn với giá mở bán là 19,5 triệu đồng/m2.
Trong khi đó, nhà ở xã hội cách đây 5 - 10 năm chỉ khống chế mức giá dưới 15 triệu đồng/m2.
Ông Chử Văn Hải - Trưởng phòng Phát triển và Quản lý nhà ở xã hội, Cục Quản lý nhà và thị trường bất động sản - Bộ Xây dựng cho biết, mức giá của các khu nhà ở xã hội sẽ có sự khác nhau, tùy thuộc vào yêu cầu thiết kế mà chủ đầu tư đặt ra cũng như quy mô dự án. Trước đây, nhà ở xã hội tại Hà Nội chỉ có giá bán dưới 20 triệu đồng/m2. Tuy nhiên, hiện mức giá đó đã không còn, do chi phí nhân công, vật liệu xây dựng đều đã tăng lên.
Ông Hải giải thích thêm, nhà ở xã hội là phân khúc được Nhà nước ban hành các chính sách hỗ trợ nhằm giảm giá thành. Tuy nhiên, loại hình nhà ở này vẫn phải tuân thủ mọi tiêu chí về chất lượng, tiêu chuẩn như chung cư thương mại. Sự khác biệt giữa hai phân khúc chỉ nằm ở diện tích, thiết kế…
Giá nhà cao vượt xa mức thu nhập của đối tượng mua nhà
Gần 8 năm làm việc tại Hà Nội, tiết kiệm được hơn 600 triệu đồng, anh Nguyễn Quang Hưng (Thanh Xuân, Hà Nội) cho rằng, mức giá gần 1,5 tỷ - gần 1,9 tỷ đồng cho một căn nhà ở xã hội vẫn là rất “chát” đối với những người có thu nhập dưới 20 triệu đồng/tháng.
“Với mức giá gần 1,9 tỷ đồng, nếu muốn mua nhà, tôi sẽ phải vay 1,3 tỷ đồng. Bỏ qua quy trình vay, với lãi suất hiện tại, tôi sẽ phải trả khoảng hơn 200 triệu đồng/năm (gốc và lãi). Kinh tế khó khăn, chi tiêu đội lên, đây thực sự là bài toán khó”, anh Hưng chia sẻ.
Trao đổi với PV Tiền Phong, ông Nguyễn Anh Quê - Uỷ viên Ban chấp hành Hiệp hội Bất động sản Việt Nam cho rằng, nguyên nhân khiến giá nhà ở xã hội có thể chỉ ra: Một là, chi phí xây dựng, trong đó có vật liệu xây dựng và nhân công tăng cao trong mấy năm qua; hai là, việc thay đổi quy định tại nghị định 100/2024 so với Nghị định 100/2015 trong cách tính lợi nhuận nhà ở xã hội và tính tiền thuế đất đối với 20% diện tích đất thương mại trong dự án nhà ở xã hội.
Để rõ hơn có thể ví dụ quy đổi ra giá bán của 2 dự án như sau; Dự án nhà ở xã hội NHS Trung Văn có giá phê duyệt 19,5 triệu đồng/m2 áp dụng theo Nghị định 100/2015, nếu áp dụng Nghị định 100/2024 sẽ có giá khoảng 27 triệu đồng/m2.
"Đối với các chủ đầu tư xây dựng nhà ở xã hội cho công nhân hay nhà ở xã hội ở các huyện, tỉnh có giá bán nhà ở xã hội dưới 15 triệu đồng/m2 và giá bán căn hộ thương mại dưới 20 triệu đồng thì họ lãi không nhiều. Tuy nhiên, ở các đô thị lớn như Hà Nội, TP HCM, Hải Phòng, Đà Nẵng, giá nhà ở xã hội có thể phê duyệt tới 27 triệu đồng/m2 và với 20% phần đất thương mại trong dự án có thể bán với giá gần 100 triệu đồng/m2...", ông Quê nói.
Theo đó, ông Quê kiến nghị nên gộp lợi nhuận phần nhà ở xã hội và lợi nhuận có được từ 20% phần đất thương mại trong dự án như trước kia và nâng lên mức lợi nhuận cho doanh nghiệp xây nhà ở xã hội lên 13%. Chính phủ cũng nên xem xét bỏ 5% thuế Giá trị gia tăng với nhà ở xã hội.
"Tôi tin rằng kiến nghị này nếu được chấp thuận và áp dụng thì Dự án nhà ở xã hội 214 Nguyễn Xiển sẽ có giá dưới 20 triệu đồng/m2 và dự án Rice City Long Châu sẽ có giá dưới 21 triệu đồng/m2...", ông Quê nói.
Ông Quê cũng cho biết thêm, trong Nghị định 100/2024 quy định điều kiện về thu nhập của người dân để được mua nhà ở xã hội là: phải thuộc hộ gia đình có thu nhập dưới 30 triệu đồng/tháng và hộ độc thân là dưới 15 triệu đồng/tháng. Quy định này phù hợp với các đô thị loại 1, 2, 3, 4, không phù hợp với các thành phố trực thuộc Trung ương, nhất là thành phố Hà Nội và TP HCM vì các thành phố này chi phí đắt đỏ hơn, nhất là chi phí thuê nhà.
Theo đó, ông Quê cũng kiến nghị, các thành phố trực thuộc Trung ương nên nâng mức thu nhập hộ gia đình từ dưới 50 triệu đồng/tháng, hộ độc thân là dưới 25 triệu đồng/tháng. Các đô thị loại 1, 2, 3, 4 mức thu nhập giữ nguyên theo Nghị định 100/2024.
Công an tỉnh Thanh Hóa vừa khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với ông Nguyễn Đức Quyền, cựu Phó Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa do sai phạm liên quan đến dự án của Tập đoàn FLC.
Ngày 14/6, nguồn tin từ Công an tỉnh Thanh Hóa cho biết, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can, cấm đi khỏi nơi cư trú đối với cựu Phó Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa Nguyễn Đức Quyền (SN 1960).
Cùng bị khởi tố với ông Nguyễn Đức Quyền còn có 3 bị can khác là ông Hoàng Văn Thế, cựu Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường Thanh Hóa (nay là Sở NN&MT) và 2 cựu cán bộ cũng thuộc Sở này.
4 bị can bị Công an tỉnh Thanh Hóa khởi tố để điều tra về sai phạm trong quản lý đất đai liên quan dự án Khu nhà hỗn hợp FLC tại Khu đô thị mới Nam TP Thanh Hóa.
Được biết, tháng 5/2014, UBND tỉnh Thanh Hóa chấp thuận chủ trương đầu tư cho FLC thực hiện dự án Khu nhà hỗn hợp FLC thuộc Khu đô thị mới Nam TP Thanh Hóa.
Dự án có tổng mức đầu tư khoảng 600 tỷ đồng, gồm tòa nhà hỗn hợp cao 18 tầng (tại lô C5) và công trình hỗn hợp cao 6 tầng (tại lô C4) và các công trình phụ trợ kèm theo. Dự án sau đó được điều chỉnh tổng mức đầu tư xuống còn 291 tỷ đồng vào năm 2017, với thời gian thực hiện 3 năm.
Quá trình thực hiện dự án đã có nhiều sai phạm trong quá trình phê duyệt dự án, cấp đất thực hiện dự án không đúng quy định, không đúng với giấy phép quy hoạch và chủ đầu không thực hiện xây dựng theo tiến độ đã phê duyệt.
Nguồn: Soha; Thanh Niên; CafeF; Vietnamnet
Việt Nam: Đề nghị kỷ luật Sử Ngọc Anh; Cáp treo mới 16.234 tỷ; Thiên đường nghỉ dưỡng; Cựu Phó TGĐ Ngân hàng VNCB trốn truy nã; Đấu giá biệt thự Chủ tịch AIC
Người Việt hải ngoại: Thiên Ân dự đám cưới Kỳ Duyên; Con gái NSND Trần Hiếu sinh con ở Mỹ; Nàng Hậu được ĐH Anh vinh danh; Trại sách cộng đồng ở Nhật; Gắn kết cộng đồng ở châu Âu
Người Việt hải ngoại: Mỹ nhân mở tiệc 3 ngày 3 đêm ở Mỹ; Du học sinh tốt nghiệp ở Bắc Kinh, về quê làm khu công nghiệp; Đại hội Phụ nữ vùng Kansai, Nhật Bản
Việt Nam: Vùng biển hoang sơ thành thiên đường du lịch; Chiến lược tích trữ vàng; Tân hoa hậu Miss Universe Vietnam bị phạt; Khởi tố lãnh đạo doanh nghiệp 3.600 tỷ
Người Việt hải ngoại: Dàn sao Kiều Nữ Và Đại Gia sau 18 năm; Nữ nghệ sĩ rời Mỹ về nước; Những ngày biểu tình ở Pháp; Luật Người lao động làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng
Người Việt hải ngoại: Cộng đồng người nước ngoài lớn thứ hai tại Nhật; Bà chủ chuỗi nhà hàng ở Bỉ; Techcombank triển khai giải pháp nhận tiền quốc tế; Cùng chồng Đức bỏ phố về quê
Người Việt hải ngoại: NSƯT biệt thự cả Việt Nam, Mỹ; 2 năm liền giành HCV Olympic Toán; Du học sinh quá hạn visa ở Hàn; V.League phát hiện báu vật; HIU mở cơ hội tại Đức, Nhật
Người Việt hải ngoại: Nghiên cứu sinh bị đầu độc ở Mỹ; Cộng đồng ở St. Petersburg; Cộng đồng tại Saudi Arabia; Phu nhân Tổng Bí thư dự Ngày Việt Nam tại Pháp; Nam sinh chọn sống ở Mỹ
Bình luận và đánh giá
Gửi nhận xét đánh giá