EU: Khủng hoảng BĐS; Công nghiệp tụt hậu; Hiệp ước Maastricht; Cấm vận Nga mất 1.500 tỷ đô; Pháp tăng hiện diện ở Trung Á

Khủng hoảng bất động sản lan rộng khắp châu Âu

Phần lớn những quốc gia châu Âu chịu tác động lớn nhất từ cuộc khủng hoảng bất động sản lại là các nền kinh tế lớn nhất trong khu vực

Tại thành phố Dusseldorf của Đức, gia đình Milena và Manuel David đã lên kế hoạch khởi công xây dựng căn nhà mới vào mùa Hè vừa qua.

Tuy nhiên, sau khi hai vợ chồng người Đức nhận được giấy phép xây dựng sau 16 tháng chờ đợi, mức lãi suất thế chấp đã tăng gấp 3 lần và chi phí xây dựng ngôi nhà mới dự kiến tăng thêm tới 85.000 euro (90.000 USD). Họ buộc phải hoãn kế hoạch ngôi nhà mơ ước trong nhiều năm do cuộc khủng hoảng xây dựng tồi tệ nhất ở châu Âu trong nhiều thập kỷ gần đây.

Tình cảnh khó khăn như gia đình David không còn là trường hợp hiếm tại châu Âu trong năm nay.

Đặc biệt hơn, phần lớn những quốc gia châu Âu chịu tác động lớn nhất từ cuộc khủng hoảng bất động sản lại là các nền kinh tế lớn nhất trong khu vực. Cụ thể, số lượng giấy phép xây dựng nhà ở tại Đức đã giảm hơn 27% trong 6 tháng đầu năm nay, còn tại Pháp là 28% tính đến tháng 7. Tại Vương quốc Anh, số lượng giấy phép xây dựng mới dự kiến ​​sẽ giảm hơn 25% trong năm nay.

Lĩnh vực bất động sản của Thụy Điển cũng đang trải qua thời kỳ suy thoái tồi tệ nhất kể từ cuộc khủng hoảng những năm 1990 khi tỷ lệ xây dựng nhà ở mới hiện chỉ đáp ứng được 1/3 nhu cầu của người dân.

Giá tiêu dùng tăng mạnh do hậu quả của xung đột Nga - Ukraine đã buộc Ngân hàng Trung ương châu Âu phải mạnh tay tăng lãi suất để kiềm chế lạm phát, đẩy mạnh chi phí thế chấp lên cao và từ đó kéo giá bất động sản cũng như tỷ suất lợi nhuận của các dự án xây dựng giảm xuống.

Các nhà phát triển bất động sản tại châu Âu cũng đang phải chịu chi phí nguyên liệu thô cao hơn, một vấn đề đã bắt đầu từ thời kỳ đại dịch nhưng càng trở nên trầm trọng hơn do ảnh hưởng từ xung đột ở Ukaine.

Các chuyên gia kinh tế nhận định cuộc khủng hoảng bất động sản hiện tại đang là lực cản đối với đà tăng trưởng kinh tế của các nước châu Âu và có nguy cơ gây ra những bất ổn xã hội.

Theo tờ Bloomberg, hai vợ chồng David ở Thành phố Dusseldorf của Đức vẫn không đủ khả năng tài chính để xây dựng nhà ở mới dù họ đang có công việc, thu nhập ổn định, và quan trọng nhất là họ được bố mẹ tặng mảnh đất. Hoàn cảnh trớ trêu như gia đình David cho thấy những tác động nghiêm trọng từ cuộc khủng hoảng bất động sản đối với người dân các nước châu Âu.

“Chúng tôi đã gặp nhiều trở ngại trong việc xây nhà mới dù đã được hỗ trợ rất nhiều. Với những người lao động khác thì có lẽ họ khó có thể vượt qua được” – chị Manuel chia sẻ thêm.

Làn sóng phá sản trong ngành bất động sản

Không chỉ ảnh hưởng đến các dự án nhà ở riêng lẻ, hàng loạt các doanh nghiệp nhà ở lớn tại châu Âu cũng đang đối mặt thách thức. Vonovia SE, tập đoàn bất động sản hàng đầu của Đức, gần đây đã quyết định tạm dừng vô thời hạn nhiều dự án. Tại Anh, khoảng 45.000 công ty xây dựng nhà ở đã đóng cửa trong 5 năm qua.

Riêng tại Thụy Điển, đã có khoảng 1.145 công ty trong ngành xây dựng đã nộp đơn xin phá sản trong 10 tháng đầu năm nay, tăng 35% so với cùng kỳ năm ngoái, theo dữ liệu từ Creditsafe.

Cuộc khủng hoảng nhà ở cũng khiến chính phủ nhiều nước châu Âu khó có thể hiện thực hóa những cam kết với cử tri. Chính phủ Thụy Điển hứa cung cấp nhà ở giá rẻ cho người dân, song tình trạng khan hiếm căn hộ cho thuê trong nhiều thập kỷ đã đẩy giá nhà tăng cao và buộc nhiều người phải chấp nhận thuê nhà với giá “cắt cổ”.

Giới chức Anh hiện vẫn chưa đạt được mục tiêu xây dựng mới 300.000 ngôi nhà mỗi năm do chính phủ cam kết vào năm 2019.

Còn tại Đức- nền kinh tế lớn nhất EU, phát triển nhà ở giá rẻ là một trong những cam kết quan trọng được liên minh cầm quyền của Thủ tướng Olaf Scholz đưa ra khi lên nắm quyền vào năm 2021. Tuy nhiên, các nhà kinh tế dự báo chính quyền Berlin khó có thể đạt được kế hoạch xây dựng 400.000 ngôi nhà mới mỗi năm cho đến năm 2026.

Các nước châu Âu đang nỗ lực tìm nhiều giải pháp để giải quyết những khó khăn của lĩnh vực bất động sản. Đảng Lao động Anh đã cam kết thực hiện gói cải cách mới xây dựng mới khoảng 1,5 triệu ngôi nhà trong nhiệm kỳ Quốc hội tiếp theo. Chính phủ Bồ Đào Nha đặt mục tiêu đẩy mạnh các dự án nhà ở và đơn giản hóa thủ tục cấp phép xây dựng.

Chính quyền Berlin cũng cam kết đơn giản hóa các quy định xây dựng và tăng cường đầu tư công trong lĩnh vực bất động sản.Tuy nhiên, các chuyên gia bất động sản cảnh báo rằng, những đề xuất này của Chính phủ Đức vẫn chưa đủ.

Wolfgang Schubert-Raab - Chủ tịch Hiệp hội xây dựng ZDB, cho biết: “Thay vì thực hiện các dự án mới, các nhà phát triển bất động sản sẽ chờ đợi thêm những khoản trợ cấp mới có thể còn lớn hơn trong năm tới do tình hình thị trường được dự báo sẽ ảm đạm hơn”.

Công nghiệp EU tụt hậu so với Mỹ và Trung Quốc, 'đấu' với Nga vẫn đang thua cuộc?

'EU đã tụt hậu so với Mỹ và Trung Quốc về tốc độ tăng trưởng kinh tế và đổi mới. Ngành công nghiệp châu Âu đang đi lùi, đây thực sự là vấn đề rất đáng lo lắng'.

Hội nghị Bàn tròn của các nhà công nghiệp châu Âu (ERT) vừa đưa ra cảnh báo trên và kêu gọi các quốc gia thành viên hội nhập sâu hơn vào thị trường chung Liên minh châu Âu (EU), liên minh thị trường vốn và đưa ra các cơ chế tốt hơn nhằm khuyến khích đầu tư vào châu Âu.

ERT là một nhóm gồm 60 công ty công nghiệp lớn - là một trong những động lực chính, thúc đẩy sự phát triển ý tưởng thị trường chung châu Âu trong những năm 1980. Chủ tịch ERT Jean-François van Boxmeer, đồng thời là Chủ tịch của Công ty Viễn thông đa quốc gia Vodafone (Anh) cho biết, họ muốn đưa ra những phân tích, đánh giá cụ thể về thực lực cạnh tranh của ngành công nghiệp khu vực.

Công nghiệp châu Âu đang đi lùi

Và kết quả phân tích có vẻ “khá buồn”, chẳng hạn một nghiên cứu mới của ERT đã cho thấy, EU chi tiêu cho nghiên cứu và phát triển ít hơn đáng kể so với nhiều nước cùng trình độ phát triển – chỉ đạt 2,27% GDP, so với 2,40% ở Trung Quốc, 3,45% ở Mỹ và 4,81% ở Hàn Quốc.

Hơn nữa, 15 năm qua đã chứng kiến sự khác biệt đáng kể về tăng trưởng kinh tế giữa EU và Mỹ, khi EU mắc kẹt với các chính sách thắt lưng buộc bụng phản tác dụng về mặt kinh tế vĩ mô, làm giảm đầu tư, thì các nước có điều kiện tương đương, đều có đầu tư tích cực hơn.

"Nếu bạn nhìn vào sự khác biệt về tốc độ tăng trưởng giữa Mỹ và châu Âu, rồi dự đoán trong 10 năm nữa. Khi đó, nơi đây có thể trở thành một "khu bảo tàng siêu đẹp" để mọi người đến tham quan, nhưng không còn là một nơi thịnh vượng nữa”, Chủ tịch ERT nói.

Jacob Wallenberg - một thành viên khác thuộc Ban chỉ đạo ERT, đồng thời là Chủ tịch Investor AB, công ty đang nắm giữ cổ phần chi phối của nhiều công ty ở Bắc Âu, cũng lo lắng không kém.

“Đường phát triển của châu Âu đang thực sự có vấn đề, dường như là thiếu cảm giác phải cạnh tranh sống còn”. Công cụ theo dõi công nghệ của Viện Chính sách chiến lược Australia nhằm giám sát tác nhân nào đang dẫn đầu về công nghệ nào, cho thấy - trong số 44 công nghệ, Trung Quốc dẫn đầu tới 37 công nghệ, Mỹ đứng thứ hai. “EU đang vắng mặt một cách đau đớn”, ông Wallenberg nói.

Hiện tại, không có nhiều tín hiệu cho thấy, tăng trưởng kinh tế tại châu Âu sẽ lên cao trong các tháng tới. Một khảo sát do S&P Global thực hiện tuần trước cho thấy, hoạt động của các doanh nghiệp khu vực này hiện giảm mạnh nhất 3 năm. Số đơn hàng mới giảm mạnh. Các bộ phận mua hàng cũng giảm nhân lực lần đầu tiên kể từ đầu năm 2021.

Nhiều khu vực tại châu Âu đang đối mặt với thách thức lớn hơn. Đức phải vật lộn với việc liệu có thể duy trì ngành hóa chất đủ lâu để tìm các nguồn năng lượng mới, sạch và rẻ hơn hay không. Ngành này hiện tiêu tốn quá nhiều nhiên liệu. BASF - hãng hóa chất lớn nhất châu Âu, ngày 31/10 thông báo doanh thu 9 tháng đầu năm giảm mạnh so với cùng kỳ năm ngoái, vì vậy, họ sẽ giảm đầu tư mới.

Ngược lại, số liệu mới nhất cho thấy hoạt động sản xuất tại Mỹ tăng tốc trong tháng 10. Trong khuôn khổ "đầu tư khủng" từ bộ ba đạo luật then chốt của chính phủ đương nhiệm, gồm Đạo luật giảm lạm phát; Đạo luật chip và khoa học; Đạo luật đầu tư cơ sở hạ tầng và việc làm, giới chuyên gia cho rằng, với sức mạnh tổng hợp và năng lực đổi mới sáng tạo của Mỹ, sẽ là sai lầm chiến lược nếu đánh giá thấp sự hồi sinh nền sản xuất công nghiệp hàng đầu này.

Với nền kinh tế Trung Quốc, các số liệu được công bố cuối tháng 10 cho thấy, lợi nhuận của các doanh nghiệp công nghiệp lớn tại nước này trong tháng 9 đã tăng 11,9% so với cùng kỳ năm ngoái. Nhu cầu phục hồi và các biện pháp hỗ trợ của chính phủ đã góp phần thúc đẩy lĩnh vực sản xuất của Trung Quốc dần thoát ra khỏi giai đoạn khó khăn. Động lực phục hồi được dự báo có thể kéo dài sang quý IV và cả đầu năm 2024, đặc biệt khi các biện pháp kích thích mới tiếp tục được triển khai.

Kinh tế Nga hồi sinh

Trong khi đó, trong “nỗi buồn” của EU, chính các lệnh trừng phạt chống Nga do chính họ phát động được cho là đã bộc lộ những điểm yếu của kinh tế phương Tây.

Trong một báo cáo gần đây, Hội nghị của Liên hiệp quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD) dự báo, năm 2023, Nga sẽ là một trong số ít nước G20 có tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng tốc. GDP năm 2024 tiếp tục được dự đoán tăng trưởng.

Tăng trưởng của nền kinh tế Nga trong năm 2023 và 2024 cũng đã được Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) dự báo.

Mới đây nhất, trong bản cập nhật Triển vọng Kinh tế thế giới công bố ngày 10/10, Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) lần thứ 3 nâng dự báo tăng trưởng kinh tế Nga năm 2023 lên 2,2%, tăng mạnh so với dự đoán hồi tháng 4 là 0,7% và tháng 7 là 1,5%.

Điều đáng ngạc nhiên là, tổng khối lượng xuất khẩu khí đốt và dầu mỏ của Nga - nguồn thu ngoại tệ chính của nước này, không thay đổi đáng kể, bất chấp 11 vòng trừng phạt từ phương Tây nhằm vào ngành năng lượng.

IMF đã phải thừa nhận rằng, chính những nỗ lực của phương Tây nhằm cô lập nền kinh tế Nga, thông qua các lệnh trừng phạt, đã thúc đẩy Moscow thích nghi tốt hơn với các điều kiện khắc nghiệt mới. Và Moscow đã thành công trong việc tìm ra con đường vượt qua khó khăn.

Những đánh giá lạc quan nói trên được minh chứng cụ thể bằng số liệu năng lực sản xuất của Nga trong quý 2/2023, đạt mức tăng trưởng kỷ lục - 81%; chỉ số tăng trưởng khai thác mỏ, sản xuất và xây dựng đạt 77,7%, theo Ngân hàng Trung ương Nga.

Các nhà phân tích của Ngân hàng Trung ương Nga ghi nhận hoạt động đầu tư gia tăng. Các nhà máy đã định hướng lại theo nhu cầu trong nước. Kết quả là, việc tăng cường các chương trình thay thế nhập khẩu đã giúp họ tăng sản lượng. Các nhà sản xuất Nga cũng đầu tư vào hiện đại hóa và cải tiến sản xuất nhiều hơn trước đây.

Được biết, số kinh phí trước đây lẽ ra được đầu tư để đảm bảo các đường cung cấp cho châu Âu, giờ đã được chuyển hướng sang phát triển kinh tế của chính nước Nga – vấn đề mà các nhà hoạch định chính sách EU đã không nhận thấy khi họ ngăn chặn, hoặc không khuyến khích trao đổi thương mại với Moscow.

Các nhà phân tích thuộc Viện Chính sách kinh tế (IEP) Yegor Gaidar, dù khá dè dặt trong các đánh giá về nền kinh tế trong nước cũng đã cho biết, hoạt động sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy, dệt may và quần áo; sản xuất máy tính, sản phẩm điện tử, quang học, ô tô, kim loại thành phẩm, đồ nội thất và thiết bị điện… đều tăng trưởng tốt, đạt trên hàng chục phần trăm - điều chưa từng xảy ra trước đây với nhu cầu nội địa. Hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực sản xuất đã tăng trưởng tháng thứ 7 liên tiếp.

Nền kinh tế Nga đã hồi sinh, điều này hực sự khiến các chuyên gia phương Tây bất ngờ. Trong khi ở phía bên kia, Chủ tịch Deutsche Bank Christian Stitch mới đây nhận định rằng, nền kinh tế đầu tàu - Đức sắp trở thành nền kinh tế yếu nhất trong EU, cả năng lượng và sản xuất đều đang suy giảm, chủ yếu là do chi phí năng lượng cao hơn đáng kể, kể từ khi nguồn cung từ Nga bị cắt.

Trước đây, Đức và Pháp đóng vai trò là động cơ sản xuất chính của EU và chia sẻ một phần sản lượng còn lại cho các vùng có lao động hoặc tài nguyên rẻ hơn. Nhưng nay, một phần động lực năng suất đó sẽ không quay trở lại, vì các nhà sản xuất lớn của khu vực hiện quan tâm hơn tới các cơ hội chuyển vùng tới các nền kinh tế khác ngoài EU.

Chẳng hạn, Volkswagen của Đức đã hủy bỏ việc xây dựng một nhà máy pin ở Đông Âu để tập trung cho cơ sở tương tự ở Canada, nhằm tận dụng hàng tỷ USD trợ cấp và các khoản vay ưu đãi của chính phủ sở tại.

Dù không muốn, phương Tây hiện phải thừa nhận rằng, nền kinh tế Nga trên thực tế đang duy trì tốt vị thế của mình trước các lệnh trừng phạt do Mỹ và EU đang áp đặt. Một nghịch lý là, sau khi bị chặn đầu ra và ép giá trần, doanh thu từ dầu khí của Nga vẫn tăng, khối lượng xuất khẩu trong tháng 9 đã tăng lên mức trung bình 3,3 triệu thùng/ngày. Tháng 10, Bộ Tài chính Nga dự kiến sẽ nhận được nguồn thu bổ sung từ dầu khí gần gấp đôi vào ngân sách tài chính ban đầu là 513,48 tỷ Ruble (5,5 tỷ USD).

Giá dầu Urals của Nga hiện đã tăng lên trên 80 USD/thùng, cao hơn nhiều so với mức trần 60 USD/thùng mà các nước G7 đã cố gắng áp đặt. Hơn nữa, với xung đột ở Trung Đông, một số nhà phân tích còn dự đoán, giá dầu thế giới có thể còn tăng lên 150 USD/thùng. Đây lại là tin tốt cho Nga và xấu đối với EU.

Hiệp ước Maastricht định hình châu Âu mới

Từ những năm 50 của thế kỷ trước, một liên minh bắt đầu hình thành ở châu Âu. Thế nhưng phải đến khi Hiệp ước Maastricht ra đời, EU mới thực sự trở thành một liên minh có tầm ảnh hưởng toàn cầu.

Sau Thế chiến II, khuynh hướng liên kết khu vực và toàn cầu hóa bắt đầu diễn ra mạnh mẽ. Ở châu Âu, hàng loạt tổ chức, cộng đồng được hình thành.

Bước ngoặt của châu Âu

Ngày 18/1/1951, đại diện sáu quốc gia ở châu Âu, gồm Pháp, Đức, Italy, Bỉ, Hà Lan và Luxembourg ký Hiệp ước Paris thành lập Cộng đồng than thép châu Âu (ESCS) nhằm thống nhất việc sản xuất và phân phối sản phẩm than, thép trong các nước này. Hiệp ước Paris đã nhen nhóm kế hoạch của các nhà sáng lập ESSC muốn thiết lập nền tảng cho việc nhất thể hóa kinh tế châu Âu. Tiếp tục triển khai ý tưởng này, ngày 25/3/1957, sáu nước nói trên tiếp tục ký Hiệp ước Roma, thành lập Cộng đồng nguyên tử châu Âu (EURATOM) và Cộng đồng Kinh tế châu Âu (EEC). Đến ngày 1/7/1967, ba tổ chức trên được hợp nhất thành Cộng đồng châu Âu (EC).

Thế nhưng, khi các kế hoạch mới của EC được thảo luận hoặc bắt đầu vận hành thì tình hình châu Âu và thế giới có những biến động dữ dội, tác động mạnh tới các thành viên EC. Chiến tranh lạnh kết thúc, sự xuất hiện của những trung tâm kinh tế mới và xu hướng quốc tế hóa, khu vực hóa ngày càng phát triển…

Sự kiện Liên Xô tan rã, chấm dứt đối đầu hai cực trong Chiến tranh lạnh khiến đối thủ chung của cả Mỹ và Tây Âu không còn. Chất kết dính trong hợp tác chiến lược Mỹ-Tây Âu giảm đi, tạo cơ hội cho Tây Âu thoát khỏi sự phụ thuộc quá mức vào Mỹ để đi theo con đường độc lập nhằm vươn lên tìm lại “thời vàng son” trước đây.

Bên cạnh đó, việc nước Đức thống nhất cũng là một nhân tố quan trọng, tạo nên trật tự mới ở châu Âu, dẫn đến sự thay đổi về tương quan lực lượng trong nội bộ Tây Âu, đặc biệt trong quan hệ tế nhị giữa Pháp và Đức, hai trụ cột của EC.

Những yếu tố này thôi thúc EC phải đẩy nhanh các tiến trình liên kết nội khối, tìm ra phương hướng phát triển mới. Ngày 7/2/1992, đại diện 12 quốc gia thành viên EC khi đó là Bỉ, Đan Mạch, Pháp, Đức, Hy Lạp, Ireland, Italy, Luxembourg, Hà Lan, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và Vương quốc Anh đã gặp nhau tại Maastricht, Hà Lan và ký một hiệp ước lịch sử sau quá trình thương thuyết đầy gian nan.

Hơn một năm sau, vào ngày 1/11/1993, Hiệp ước Maatricht với tên gọi chính thức là Hiệp ước về Liên minh châu Âu (EU) bắt đầu có hiệu lực, đưa EU sang một giai đoạn phát triển mới.

Ba trụ cột, nhiều ý nghĩa

Ba trụ cột chính của EU được hình thành đã phản ánh mục tiêu đầy tham vọng của tiến trình nhất thể hóa châu Âu. Ủy ban, Nghị viện và Tòa án là những cơ quan quyền lực cao nhất tạo nên trụ cột thứ nhất của EC để thay thế cho EEC giải quyết những vấn đề khác nhau của liên minh như thuế quan, chính sách nông nghiệp, nghề cá, luật cạnh tranh và môi trường...

Trụ cột thứ hai của Hiệp ước hướng tới các chính sách an ninh và đối ngoại chung của Liên minh. Tuy nhiên, theo Euronews, do tính nhạy cảm chính trị của các vấn đề hiện tại mà các quyết định được thông qua trên cơ sở đồng thuận của các quốc gia thành viên dường như rất ít hoặc thậm chí không có sự tham gia của EC và EP.

Trụ cột thứ ba của Hiệp ước Maastricht là sự hợp tác của cảnh sát và tư pháp đối với các vấn đề như khủng bố, di cư, buôn bán người và tội phạm có tổ chức. Vấn đề di cư và việc ngăn chặn tội phạm xuyên biên giới trở nên cấp thiết, nhất là sau khi Hiệp ước Schengen ký năm 1985, bãi bỏ việc kiểm tra tại biên giới.

Hiệp ước Maastricht ra đời được coi là bước đột phá ở châu Âu. Thứ nhất, Hiệp ước đánh dấu một bước ngoặt trong tiến trình nhất thể hóa châu Âu, đưa ra một hình thức hợp tác hoàn toàn mới, chưa có tiền lệ trong lịch sử.

Thứ hai, Hiệp ước lập ra đồng tiền chung (Euro) khiến giao dịch tiền tệ trở nên dễ dàng hơn, đồng thời cung cấp một đồng tiền dự trữ khác bên cạnh các đồng tiền mạnh như USD, Yên Nhật… Hiện nay, Euro là một đồng tiền mạnh, được sử dụng chính thức ở 24 quốc gia, gồm 19 nước thành viên EU và năm quốc gia châu Âu khác.

Thứ ba, Hiệp ước đưa ra các tiêu chí về lạm phát, mức nợ công, lãi suất và tỷ giá hối đoái ổn định.

Thứ tư, Hiệp ước mở rộng quyền công dân, cho phép mọi công dân các nước thành viên có thể tự do ứng cử và tham gia bầu cử EP, có thể làm việc tự do trong bất kỳ nước thành viên nào, từ đó có thể cải thiện chất lượng cuộc sống.

Thách thức hiện hữu

EU hiện nay đang phải đối mặt với rất nhiều thách thức, bao gồm các vấn đề như xung đột ở Ukraine, bất ổn ở Trung Đông – châu Phi, vấn đề nhập cư, di dân, biến đổi khí hậu, cạnh tranh chiến lược và đặc biệt là sự đồng thuận, tìm được tiếng nói thống nhất trong giải quyết các vấn đề của của EU và thế giới.

Nhà nghiên cứu EU R. Daniel Kelemen tại Đại học Rutgers (Mỹ) nhận định, bất kỳ chính sách đối ngoại nào của EU đều phụ thuộc rất lớn vào quyết định của từng thành viên. Trong khi đó, EU đưa ra hầu hết các quyết định lớn của khối trên cơ sở đa số tuyệt đối, song các quốc gia thành viên lại miễn cưỡng trong việc từ bỏ quyền phủ quyết với chính sách đối ngoại, vì thế về cơ bản, các đối thủ có thể kết nối với chính phủ các nước và biến họ thành “con ngựa thành Troy” trong lòng EU.

Bên cạnh đó, giữa các nước Tây và Đông Âu còn tồn tại những khoảng cách và “hố sâu chia cắt” nhất định. Tại lễ kỷ niệm 25 năm Hiệp ước Maastricht (năm 2016), Chủ tịch EC Jean-Claude Juncker nhận định rằng, nếu không có EU thì không một nước thành viên nào tự mình có khả năng tạo ảnh hưởng và uy tín trên thế giới. Và cũng theo dự đoán của ông Jean-Claude Juncker, trong 20 năm tới không một nước thành viên nào của EU còn có thể duy trì vị trí là thành viên của G7.

Chưa kể một “cú sốc” mà có lẽ thời điểm ký kết Hiệp định Maatricht không ai có thể ngờ tới, khi ngày 31/1/2020 đánh dấu ngày Vương quốc Anh chính thức rời EU hay còn gọi là Brexit. Điều thực sự thay đổi sau ngày Brexit đó là lần đầu tiên EU mất đi một thành viên vốn là một trong những quốc gia lớn nhất và giàu nhất, chiếm 15% sức mạnh kinh tế. Với sự ra đi của 66 triệu người, EU chứng kiến dân số giảm xuống còn 446 triệu người, diện tích lãnh thổ của EU sẽ giảm 5,5%.

Đối tác quan trọng của Việt Nam

Quan hệ hợp tác Việt Nam-EU bắt đầu từ các vấn đề nhân đạo, khắc phục hậu quả chiến tranh. Hai bên chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao ở cấp Đại sứ từ năm 1990. Kể từ đó, EU luôn là đối tác quan trọng hàng đầu trong chính sách đối ngoại và hội nhập quốc tế của Việt Nam, hỗ trợ Việt Nam trong hoạch định chính sách và nâng cao năng lực thể chế.

Sự hỗ trợ này của EU được thực hiện trong nhiều chương trình, dự án khác nhau, tiêu biểu là Chương trình hỗ trợ quá trình chuyển tiếp sang nền kinh tế thị trường ở Việt Nam (EuroTAPViet) giai đoạn 1994-1999, Chương trình hỗ trợ chính sách Thương mại đa phương (MUTRAP) giai đoạn 1998-2017.

Tháng 6/2012, hai bên ký Hiệp định Đối tác và hợp tác toàn diện Việt Nam - EU (PCA), thể hiện cam kết của EU trong việc tiến tới mối quan hệ hiện đại, trên diện rộng và cùng có lợi với Việt Nam. Từ khi ký kết Hiệp định PCA, quan hệ hợp tác EU - Việt Nam mở rộng hơn trên tất cả các lĩnh vực như thương mại, môi trường, năng lượng, khoa học và kỹ thuật, quản trị công, văn hóa, di cư, chống tham nhũng và tội phạm có tổ chức…

Trong quá trình đồng hành cùng Việt Nam, hai bên ký kết nhiều thỏa thuận, hiệp định, bao gồm Hiệp định Đối tác tự nguyện về Lâm luật, Quản trị rừng và Thương mại lâm sản (VPA-FLEGT) có hiệu lực tháng 6/2019. Hiệp định khung về hợp tác quốc phòng - an ninh (FPA) tháng 10/2019… Các khuôn khổ hợp tác này đưa Việt Nam trở thành một trong những quốc gia châu Á có quan hệ toàn diện, sâu rộng nhất với EU, là nước ASEAN duy nhất có tất cả các trụ cột hợp tác với EU.

Về kinh tế - thương mại, việc đưa vào thực thi Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) từ tháng 8/2020 đã góp phần đưa EU thành đối tác thương mại và nhà đầu tư lớn thứ năm của Việt Nam. Hiện Nghị viện các nước EU đang trong quá trình hoàn tất phê chuẩn Hiệp định Bảo hộ đầu tư Việt Nam - EU (EVIPA). Trong lĩnh vực hỗ trợ phát triển, EU là nhà cung cấp viện trợ phát triển ODA không hoàn lại lớn nhất cho Việt Nam.

Có thể nói, EU đồng hành cùng Việt Nam trong suốt thời kỳ bắt đầu hội nhập quốc tế đầy khó khăn với những hoạt động hỗ trợ quan trọng, hiệu quả. Thành tựu hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế xã hội mà Việt Nam đạt được hôm nay có những đóng góp không nhỏ từ sự hợp tác, hỗ trợ quý báu của EU.

Trong buổi tiếp Đại sứ, Trưởng phái đoàn EU tại Việt Nam Giorgio Aliberti chào từ biệt trước khi kết thúc nhiệm kỳ ngày 6/7, Bộ trưởng Ngoại giao Bùi Thanh Sơn khẳng định, Việt Nam rất coi trọng và mong muốn thúc đẩy quan hệ với EU - một trong những đối tác quan trọng hàng đầu của Việt Nam.

Bộ trưởng Bùi Thanh Sơn đánh giá cao vai trò của EU trong thúc đẩy thiết lập khuôn khổ Đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng giữa Việt Nam với các đối tác quốc tế (JETP), đồng thời tiếp tục thúc đẩy Nghị viện các nước thành viên sớm phê chuẩn để đưa vào thực thi Hiệp định EVIPA, góp phần tạo đột phá mới trong hợp tác kinh tế hai bên.

Nga nói EU thiệt hại 1.500 tỷ USD vì cấm vận nước này

Các quốc gia thành viên Liên minh châu Âu (EU) đã thiệt hại khoảng 1.500 tỷ USD do các lệnh trừng phạt sâu rộng chống lại Moskva, theo Bộ Ngoại giao Nga.

Tuyên bố được Thứ trưởng Ngoại giao Nga Aleksandr Grushko đưa ra hôm 3/11, bên lề Diễn đàn kinh tế Á - Âu Verona ở Samarkand, Uzbekistan. "Toàn bộ tổn thất mà EU phải gánh chịu do việc áp dụng các lệnh trừng phạt và các quyết định cắt giảm hợp tác với Nga, theo ước tính thận trọng, đã lên tới khoảng 1.500 tỷ USD", ông nêu.

Năm 2013, thương mại song phương giữa Nga và các nước thành viên EU lên tới 417 tỷ USD. Tuy nhiên, ông Grushko cho hay kim ngạch đã giảm còn 200 tỷ USD vào 2022, và dự kiến còn dưới 100 tỷ USD năm nay. "Năm tới, nó sẽ tiếp tục giảm xuống còn 50 tỷ USD và sau đó hướng về 0", ông nói.

Nhà ngoại giao này ước tính nếu không có các lệnh trừng phạt, kim ngạch thương mại EU - Nga năm 2023 có thể đạt 700 tỷ USD. Ông cho biết không có dấu hiệu cho thấy EU sẽ đảo ngược chính sách đối với Moskva trong tương lai gần.

Tuy nhiên, điều này cũng gây khó cho châu Âu. Theo Thứ trưởng Ngoại giao Nga, ngành công nghiệp Đức hiện phải mua khí đốt với giá cao gấp 3 lần so với giá ở Mỹ. Trong khi, các dây chuyền sản xuất ở đầu tàu kinh tế châu Âu dần chuyển sang Bắc Mỹ.

Đến nay, Liên minh châu Âu đã đưa ra 11 gói trừng phạt chống lại Nga vì hoạt động quân sự của Điện Kremlin ở Ukraine. Số lượng các hạn chế chi tiết đã lên đến hàng chục nghìn. Dù vậy, một số quan chức ở EU và Mỹ từng thừa nhận hiệu quả của cấm vận chưa đáng kể như mong đợi.

Cũng hôm 3/11, Tổng thống Nga Vladimir Putin cho biết việc phương Tây xem Nga là "trạm xăng của thế giới chứ không phải một nền kinh tế" đã là chuyện quá khứ. Ngày nay, sản xuất chế biến đã chiếm 43% cơ cấu tăng trưởng kinh tế của nước này. Theo ông, nền kinh tế Nga nên "tự cung tự cấp những thành phần quan trọng để giúp đất nước không chỉ tồn tại mà còn phát triển mạnh", đồng thời đảm bảo họ khó bị loại khỏi các tổ chức quốc tế hơn.

Khẳng định sự hiện diện của Pháp ở Trung Á

Chuyến công du của ông chủ Điện Elysee diễn ra trong bối cảnh các quốc gia châu Âu đang tranh giành ảnh hưởng ở khu vực giàu tài nguyên, nơi Nga, Trung Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ và Liên minh châu Âu (EU) đều có lợi ích kinh tế.

Đến Kazakhstan và Uzbekistan, hai nước được xem là có vai trò quan trọng trong dự án “Những con đường tơ lụa mới” của Trung Quốc, Tổng thống Pháp hy vọng sẽ tìm thêm đồng minh và nhất là tìm thêm nguồn cung cấp uranium cho ngành điện hạt nhân. Ngành này hiện vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng sản lượng điện của Pháp.

Theo Hãng tin Bloomberg, Kazakhstan hiện là nước sản xuất uranium hàng đầu thế giới, chiếm tới 43% tổng sản lượng toàn cầu. Pháp đã đầu tư rất nhiều vào lĩnh vực này ở quốc gia Trung Á. Cụ thể, Tập đoàn Năng lượng hạt nhân Orano đang khai thác các mỏ uranium ở Kazakhstan trong khuôn khổ một liên doanh với Công ty nhà nước Kazatomprom. Công ty Điện lực Pháp (EDF) đang nỗ lực xây dựng nhà máy điện hạt nhân đầu tiên tại nước này và dự án sẽ được quyết định trong một cuộc trưng cầu dân ý thời gian tới. Các khoáng sản quan trọng đối với công nghệ năng lượng sạch mà Trung Á đang sở hữu cũng là một phần của các cuộc đàm phán.

Tổng thống Emmanuel Macron mong muốn tăng cường an ninh năng lượng cho Paris cũng như đặt dấu ấn chính trị và kinh tế của mình lên khu vực Trung Á. Những kỳ vọng này phù hợp với bối cảnh châu Âu đang tìm cách đa dạng hóa nguồn năng lượng, giảm phụ thuộc vào nhiên liệu từ Nga. Pháp hiện là nhà đầu tư nước ngoài lớn thứ năm ở Kazakhstan. Kim ngạch thương mại giữa hai nước đạt 5,3 tỷ euro (5,6 tỷ USD) vào năm 2022 và Kazakhstan cung cấp khoảng 40% nhu cầu uranium của Pháp.

Theo số liệu từ Bộ Kinh tế Pháp, ngoài việc là nhà cung cấp uranium lớn nhất, năm ngoái Kazakhstan còn là nguồn cung cấp dầu thô lớn thứ hai cho nước này. Michael Levystone, nhà nghiên cứu tại Viện Quan hệ quốc tế Pháp, có trụ sở tại Paris, cho biết: “Kazakhstan là chìa khóa cho an ninh năng lượng của Pháp. Chuyến thăm của Tổng thống Emmanuel Macron sẽ đóng vai trò như một lời nhắc nhở rằng, Paris sẵn sàng tăng cường hợp tác với Kazakhstan...”.

Sau cuộc gặp với Tổng thống Kazakhstan Kassym-Jomart Tokayev ở thủ đô Astana hôm 1-11, người đồng cấp Emmanuel Macron cho biết, để “tăng tốc hợp tác” trong các lĩnh vực then chốt, hai nhà lãnh đạo đã ký một số thỏa thuận quan trọng trong lĩnh vực kinh tế, công nghệ năng lượng sạch, dược phẩm và hàng không vũ trụ. Tổng thống Kazakhstan Kassym - Jomart Tokayev gọi Pháp là “đối tác quan trọng và đáng tin cậy” trong EU, đồng thời khẳng định sẽ tìm cách tạo thêm “động lực” cho mối quan hệ đối tác này.

Chặng dừng chân thứ hai của ông Emmanuel Macron tại Uzbekistan cũng trở thành chuyến công du đầu tiên của một Tổng thống Pháp tới đất nước này sau gần 30 năm. Nhà lãnh đạo Pháp đã tận dụng chuyến đi để ủng hộ chính sách mở cửa thương mại và đầu tư quốc tế của Uzbekistan. "Uzbekistan đang chuyển đổi. Chúng tôi phải có mặt ở đó", Tổng thống Emmanuel Macron phát biểu tại lễ khai mạc Diễn đàn Doanh nghiệp Pháp - Uzbek ở thành phố Samarkand.

Sau nhiều thập kỷ bị cô lập, Tổng thống Uzbekistan Shavkat Mirziyoyev đang cố gắng thu hút đầu tư toàn cầu và cải thiện hình ảnh của đất nước thuộc Liên Xô cũ. Ông Shavkat Mirziyoyev nêu rõ, chuyến thăm của Tổng thống Pháp có “ý nghĩa lịch sử” và hai nhà lãnh đạo đã “đồng ý thúc đẩy quan hệ song phương lên cấp độ đối tác chiến lược”. Khoảng 60 lãnh đạo doanh nghiệp Pháp đã tháp tùng ông Macron trong chuyến đi. Một số thỏa thuận ở các lĩnh vực năng lượng, khoáng sản và giao thông đã được ký kết. Tập đoàn Năng lượng hạt nhân Orano cho biết đã khai thác 350kg uranium trong một dự án thí điểm và có ý định tăng cường sự hiện diện ở nước này.

Trung Á từ lâu đã chịu ảnh hưởng của Nga đang nhận được sự chú ý ngày càng tăng từ các cường quốc khác khi Nga đang bận rộn với cuộc chiến ở Ukraine. Trung Quốc đang mở rộng tầm ảnh hưởng thông qua các dự án cơ sở hạ tầng Vành đai và Con đường. Mỹ đang tìm cách tăng cường sự hiện diện chính trị, trong khi EU đang nỗ lực kết nối khu vực này tạo thành hành lang thương mại và năng lượng chạy qua vùng Caucasus tới châu Âu.

Tổng thống Emmanuel Macron sẽ không phải là lãnh đạo phương Tây duy nhất gặp các lãnh đạo vùng Trung Á trong thời gian gần đây. Thủ tướng Hungary Viktor Orban và Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ Recep Tayyip Erdogan cũng đến thăm Astana vào cuối tuần này. Tất cả càng cho thấy, Kazakhstan và Uzbekistan đều hướng tới sự cởi mở kinh tế và ngoại giao theo hướng cân bằng hơn, mặc dù Nga vẫn là đối tác chính của họ.

Nguồn: Kinh tế & Đô thị; Báo Mới; Báo Quốc Tế; Vnexpress; Hà Nội Mới

Xem thêm:
Về trang trước

Chủ đề:

Bình luận và đánh giá
Gửi nhận xét đánh giá

Đọc nhiều nhất

Người Việt hải ngoại: Thiên Ân dự đám cưới Kỳ Duyên; Con gái NSND Trần Hiếu sinh con ở Mỹ; Nàng Hậu được ĐH Anh vinh danh; Trại sách cộng đồng ở Nhật; Gắn kết cộng đồng ở châu Âu

Người Việt hải ngoại: Mỹ nhân mở tiệc 3 ngày 3 đêm ở Mỹ; Du học sinh tốt nghiệp ở Bắc Kinh, về quê làm khu công nghiệp; Đại hội Phụ nữ vùng Kansai, Nhật Bản

Việt Nam: Vùng biển hoang sơ thành thiên đường du lịch; Chiến lược tích trữ vàng; Tân hoa hậu Miss Universe Vietnam bị phạt; Khởi tố lãnh đạo doanh nghiệp 3.600 tỷ

Người Việt hải ngoại: Dàn sao Kiều Nữ Và Đại Gia sau 18 năm; Nữ nghệ sĩ rời Mỹ về nước; Những ngày biểu tình ở Pháp; Luật Người lao động làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng

Người Việt hải ngoại: NSƯT biệt thự cả Việt Nam, Mỹ; 2 năm liền giành HCV Olympic Toán; Du học sinh quá hạn visa ở Hàn; V.League phát hiện báu vật; HIU mở cơ hội tại Đức, Nhật

Việt Nam: Xử Mr Pips, Shark Bình tại 3 điểm cầu; Chung cư Hà Đông rao giá 16 tỷ; Đường dây lừa đảo xuyên quốc gia; Công trình cao nhất thế giới; Đất nền rao bán cắt lỗ

Người Việt hải ngoại: Chế Linh 84 tuổi ở TP.HCM; 2 mỹ nhân sinh ra tại Nga; Câu chuyện hữu nghị tại Bonghwa; “Quái kiệt AI” rời Google mở startup; Ngày Đại đoàn kết tại Nhật

Người Việt hải ngoại: Nữ quân nhân ở Abyei; Đoàn tỉnh Phú Thọ gặp cộng đồng ở Séc; Số người bất hợp pháp tại Hàn; Doanh nhân Calvin P. Tran; Giết nhà làm phim ở Canada

Lên đầu trang