- Thời sự
.jpg)
Trong 4 năm qua, các nước EU đã mất gần 2/3 kim ngạch xuất khẩu sang Nga, tổng thiệt hại lên tới khoảng 48 tỷ euro.
Thông tin này xuất phát từ các tính toán của RIA Novosti. Dữ liệu dựa trên số liệu thống kê của Eurostat và phản ánh tác động của chính sách trừng phạt.
Từ tháng 1 đến tháng 10 năm 2025, EU thu được 25 tỷ euro từ xuất khẩu sang Nga. Để so sánh, doanh thu trong cùng kỳ năm 2021 đạt 73 tỷ euro. Điều này thể hiện sự sụt giảm hơn 65% trong vòng 4 năm.
Đức chịu tổn thất nặng nề nhất, mất gần 74% doanh thu xuất khẩu. Kim ngạch xuất khẩu sang Nga giảm xuống còn 16,3 tỷ euro so với trước khủng hoảng. Ba Lan mất 71,2% kim ngạch xuất khẩu, làm giảm doanh thu xuống còn 4,7 tỷ euro.
Kim ngạch xuất khẩu của Pháp giảm gần 70% xuống còn 3,7 tỷ euro. Hà Lan cũng mất khoảng 60% doanh thu xuất khẩu, ghi nhận kết quả tương tự. Ý mất 71% doanh thu xuất khẩu, chịu tổn thất 3,2 tỷ euro.
Phần Lan mất hơn 91% kim ngạch xuất khẩu, giảm xuống còn 2,8 tỷ euro. Litva và Cộng hòa Séc cũng chứng kiến doanh thu xuất khẩu giảm hơn 85%. Bỉ và Tây Ban Nha nằm trong top 10 quốc gia chịu tổn thất tài chính lớn nhất.
Từ năm 2022, gần 31.000 lệnh trừng phạt khác nhau đã được áp đặt lên Nga. Trong thời gian này, Liên minh châu Âu đã phê duyệt 19 gói trừng phạt chống Nga.
Hiện tại, gói thứ 20 đang được chuẩn bị và Moskva đã nhiều lần tuyên bố rằng nền kinh tế của họ đã thích nghi với áp lực từ bên ngoài. Các nhà lãnh đạo Nga đã nhiều lần nhận định: "Phương Tây thiếu can đảm để thừa nhận sự thất bại của các biện pháp trừng phạt đối với Nga".
Đồng thời, những nghi ngờ về hiệu quả của chính sách trừng phạt ngày càng được nêu ra ở chính các quốc gia thành viên EU.
Trong suốt 80 năm qua, điều gắn Mỹ với châu Âu là cam kết chung về phòng thủ và một hệ giá trị chung: bảo vệ dân chủ, nhân quyền và pháp quyền.
Kỷ nguyên này được khai mở vào tháng 3/1947, trong một bài phát biểu kéo dài 18 phút của Tổng thống Harry Truman, khi ông cam kết Mỹ sẽ ủng hộ việc bảo vệ châu Âu trước nguy cơ Liên Xô bành trướng tầm ảnh hưởng.
Mỹ đóng vai trò dẫn dắt trong việc thành lập NATO, Ngân hàng Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Liên Hợp Quốc. Đồng thời, Washington tự ràng buộc mình vào cái gọi là "trật tự quốc tế dựa trên luật lệ", trong đó các quốc gia cam kết thực hiện một loạt nghĩa vụ chung và chia sẻ gánh nặng, nhằm bảo vệ thế giới dân chủ trước các thế lực độc tài thù địch.
Tuy nhiên, Chiến lược An ninh Quốc gia (NSS) mới của Mỹ, được công bố vào tháng 12/2025, cho thấy đối với Nhà Trắng, nỗ lực chung đó đã chấm dứt. Nhiều điều mà thế giới lâu nay vẫn mặc nhiên coi là vai trò của Mỹ nay không còn nữa.
Bản đánh giá này nhắc tới cái gọi là "trật tự quốc tế dựa trên luật lệ", đặt cụm từ này trong ngoặc kép: một cách phủ nhận giá trị hợp pháp bằng dấu câu.
Phó Tổng thống JD Vance đã cảnh báo các đồng minh châu Âu của Mỹ về điều này trong một bài phát biểu tại Hội nghị An ninh Munich vào tháng 2/2025.
Ông nói rằng mối đe dọa thực sự đối với châu Âu không đến từ Nga, mà từ bên trong – từ những lực lượng kiểm duyệt tự do ngôn luận, đàn áp đối lập chính trị và qua đó làm suy yếu nền dân chủ châu Âu. Ông cũng chỉ trích gay gắt cái gọi là "mạng lưới tự do cánh tả".
Báo Le Monde của Pháp nhận định bài phát biểu này là một tuyên bố "chiến tranh ý thức hệ" nhằm vào châu Âu.
NSS gia được công bố tháng trước đã chính thức hóa các phát biểu của ông Vance và, bằng văn bản rõ ràng, nâng quan điểm này lên thành học thuyết.
"Rõ ràng nước Mỹ không còn là quốc gia thúc đẩy các giá trị toàn cầu đã tồn tại kể từ khi Thế chiến II kết thúc," bà Karin von Hippel, người từng giữ các vị trí cấp cao tại Bộ Ngoại giao Mỹ và là cựu Giám đốc Viện Nghiên cứu Quốc phòng Hoàng gia Anh (RUSI), một tổ chức nghiên cứu tại Whitehall, nhận định.
"Nước Mỹ đang dịch chuyển sang một vị thế hoàn toàn khác."
Vậy nếu thế giới thực sự đang rời xa trật tự đó, thì đang tiến tới điều gì? Và điều này có ý nghĩa ra sao đối với phần còn lại của thế giới, đặc biệt là châu Âu?
'Chúng ta đang sống trong một thế giới khác'
"Các thể chế quốc tế, đặc biệt là Liên Hợp Quốc, đã bị nhuốm đậm tâm lý chống Mỹ và không còn phục vụ mục đích của chúng tôi – hay của bất kỳ quốc gia cụ thể nào khác," bà Victoria Coates, Phó Chủ tịch Quỹ Heritage, một tổ chức nghiên cứu bảo thủ nổi tiếng tại Washington, nhận định.
Theo quan điểm của bà Coates – người từng là Phó Cố vấn An ninh Quốc gia của Tổng thống Mỹ Donald Trump – trật tự quốc tế thay đổi là điều không thể tránh khỏi trong một thế giới đang biến chuyển.
"Vấn đề khác mà chúng ta phải đối mặt là khi cái gọi là trật tự quốc tế dựa trên luật lệ được thiết lập sau Thế chiến II, cách đây vỏn vẹn 80 năm, thì Trung Quốc chưa phải là một mối quan ngại lớn.
"Ngày nay, chúng ta đang sống trong một thế giới khác."
Trật tự quốc tế dựa trên luật lệ này, được xây dựng trong những năm sau Thế chiến II, là sản phẩm của một thế hệ trưởng thành trong thời đại địa chính trị của các cường quốc, và đã chứng kiến hệ thống đó hai lần trượt dốc thành các cuộc xung đột toàn cầu thảm khốc.
Trật tự quốc tế này – dù rõ ràng còn nhiều khiếm khuyết và chưa hoàn thiện – là di sản của những trải nghiệm đó.
Tuy nhiên, NSS lại trực tiếp lập luận rằng chiến lược của Mỹ đã đi chệch hướng trong những năm sau đó, và quy trách nhiệm cho "giới tinh hoa hoạch định chính sách đối ngoại của Mỹ" – theo cách gọi của văn bản này.
"Họ đã trói buộc chính sách của Mỹ vào một mạng lưới các thể chế quốc tế, trong đó một số bị chi phối bởi chủ nghĩa chống Mỹ công khai, còn nhiều thể chế khác thì bị dẫn dắt bởi một thứ chủ nghĩa xuyên quốc gia vốn công khai tìm cách làm xói mòn chủ quyền của các quốc gia riêng lẻ," NSS nêu.
Văn bản này cho thấy trong tương lai, Mỹ sẽ tìm cách thu hẹp ảnh hưởng của các thiết chế siêu quốc gia.
"Đơn vị chính trị căn bản của thế giới là – và và vẫn sẽ là – quốc gia-dân tộc… Chúng tôi đứng về quyền chủ quyền của các quốc gia, chống lại những sự can thiệp làm bào mòn chủ quyền của các tổ chức xuyên quốc gia hay can thiêpj nhất…"
Ở một đoạn khác, khi bàn về "cán cân quyền lực", văn bản nêu rõ: "Ảnh hưởng vượt trội của các quốc gia lớn hơn, giàu có hơn và mạnh hơn là một chân lý vượt thời gian của quan hệ quốc tế."
Điện Kremlin đã phản hồi bản đánh giá này bằng những lời tán dương, cho rằng nhiều nội dung trong đó phù hợp với tư duy của Moscow.
"Tôi cho rằng các ông Trump, Tập Cận Bình, Putin và những người đi theo khuynh hướng chuyên quyền kiểu đó đang tìm cách đưa chúng ta quay trở lại kỷ nguyên của chính trị cường quốc," Thống chế Field Marshal Lord Richards, từng là Tổng Tham mưu trưởng các lực lượng vũ trang Anh giai đoạn 2010–2013, nhận định.
Tuy vậy, Giáo sư danh dự Lawrence Freedman, chuyên gia Nghiên cứu Chiến tranh tại Đại học King's College London, cho rằng Chiến lược An ninh mới không tạo ra một sự đứt gãy triệt để với quá khứ như vẻ bề ngoài.
"Chúng ta cần thận trọng với khái niệm trật tự quốc tế dựa trên luật lệ - một thuật ngữ chỉ thực sự được sử dụng rộng rãi trong khoảng một thập kỷ trở lại đây," ông lập luận.
"Nếu nhìn lại, có thể thấy rất nhiều hành động vi phạm các 'luật lệ' đó, chẳng hạn như chiến tranh Việt Nam. Vì vậy, đôi khi quá khứ được phủ lên một lớp hào quang lãng mạn, và mọi người nên thận trọng với sự hoài niệm về một quá khứ phức tạp."
Tái khẳng định mạnh mẽ học thuyết Monroe
Chiến dịch quân sự của Washington tại thủ đô Caracas của Venezuela, dẫn đến việc bắt giữ Tổng thống Nicolás Maduro cùng phu nhân là bà Cilia Flores, là một ví dụ sớm cho thấy sự tái khẳng định mang tính cứng rắn hơn của chủ nghĩa đơn phương dựa trên chủ quyền.
Một số chuyên gia luật quốc tế đã đặt câu hỏi về tính hợp pháp của các hành động do chính quyền Trump tiến hành, cho rằng Mỹ có thể đã vi phạm các quy định của luật pháp quốc tế liên quan đến việc sử dụng vũ lực.
Phía Mỹ khẳng định các hành động của mình là có cơ sở pháp lý.
"Theo luật pháp Mỹ thì chắc chắn là [hợp pháp]," ông Robert Wilkie, người từng giữ chức Thứ trưởng Quốc phòng trong nhiệm kỳ Trump đầu tiên, nói với BBC trước đây.
"Phần lớn các đối tác châu Âu của chúng tôi không công nhận chế độ của Maduro, nên ông ta là một nhân vật không hợp pháp. Vì vậy, ông ta không còn được hưởng những sự bảo vệ thông thường dành cho nguyên thủ quốc gia […] đặc biệt khi xét đến các quy định hiến pháp hiện hành tại Mỹ, vốn có giá trị cao hơn bất cứ điều gì mà Liên Hợp Quốc tuyên bố."
NSS khẳng định quyền của Mỹ, với tư cách là quốc gia đứng đầu, được giữ vai trò cường quốc ưu trội tại Tây Bán Cầu, đồng thời buộc các nước láng giềng ở Mỹ Latinh và Caribe phải điều chỉnh theo lợi ích của Washington.
Đây là sự tái khẳng định đầy cứng rắn học thuyết Monroe năm 1823, cùng lời hứa về vị thế tối thượng của Mỹ tại Tây Bán Cầu.
Colombia, Panama và Cuba đều nằm trong tầm ngắm của Tổng thống Mỹ.
"Điều này bắt đầu với Kênh đào Panama," bà Victoria Coates nói. "Không thể phóng đại về mức độ quan trọng của việc Mỹ kiểm soát được kênh đào này."
Hiện Trung Quốc đã trở thành đối tác thương mại lớn nhất của Mỹ Latinh và là một nhà đầu tư hạ tầng quan trọng tại khu vực. NSS đặt mục tiêu thu hẹp ảnh hưởng của Trung Quốc tại sân sau của Mỹ.
Khi kênh đào được bàn giao cho Panama vào năm 1999, theo bà Coates, "chúng tôi cho rằng Trung Quốc là một tác nhân phù hợp… nhưng điều đó hóa ra không đúng.
"Vì vậy, việc bảo đảm Mỹ duy trì vị thế then chốt đối với kênh đào là hết sức quan trọng, và tôi cho rằng lần đầu tiên Panama đang nhận được thông điệp đó một cách rõ ràng từ phía Mỹ."
Tuy nhiên, giáo sư Lawrence Freedman là một trong những người cho rằng khả năng kiểm soát các nước láng giềng của Mỹ không phải là vô hạn.
"Bản Đánh giá Chiến lược có thể nói rằng đây là bán cầu của chúng ta và chúng ta có thể làm những gì mình muốn, nhưng vẫn còn những giới hạn. Họ có thể đã bắt được Maduro và vợ ông ta, nhưng họ vẫn đang phải đối phó với chế độ cũ.
"Họ không điều hành đất nước, bất chấp những gì ông Trump nói," ông Freedman nhận định.
Theo chiến lược mới, Mỹ sẽ không còn gây sức ép buộc các chế độ độc đoán cải thiện hồ sơ nhân quyền nữa.
Trong một câu trích từ Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ năm 1776, văn kiện tuyên bố:
"Mọi quốc gia đều được hưởng 'những quyền theo luật tự nhiên và luật của Đấng Tạo Hóa' để có một 'vị thế riêng biệt và bình đẳng' với nhau."
Chẳng hạn, ở Trung Đông, Mỹ nói rằng họ sẽ từ bỏ "thí nghiệm sai trong việc thúc ép các quốc gia này – đặc biệt là các quốc gia quân chủ vùng Vịnh – từ bỏ truyền thống và hình thức chính phủ lịch sử của họ".
"Chìa khóa để có quan hệ thành công với Trung Đông," văn bản viết, "là chấp nhận khu vực, các nhà lãnh đạo và các quốc gia như họ vốn có, đồng thời hợp tác cùng nhau trên những lĩnh vực lợi ích chung."
Nhưng dường như mức độ tôn trọng tương tự đối với truyền thống và các hình thức chính phủ lịch sử đó lại không dành cho các quốc gia dân chủ và đồng minh ở châu Âu.
Văn bản đề cập đến sự gắn bó "tình cảm" của người Mỹ với châu Âu – cũng như với Anh và Ireland – nhưng điều gây chú ý là cố gắng định nghĩa lại điều gì là đáng được bảo vệ trong thế giới phương Tây.
Bản đánh giá này có phạm vi rộng về mặt "văn minh", và lập luận cho một nền văn minh không còn được xây dựng trên các giá trị chung của Học thuyết Truman nữa, mà thay vào đó trên ưu thế của quốc gia dân tộc có chủ quyền.
Tác động ra sao tới châu Âu?
Văn bản chỉ trích gay gắt "quỹ đạo hiện tại" của châu Âu và đặt ra câu hỏi liệu một số quốc gia châu Âu có thể được coi là đồng minh đáng tin cậy trong tương lai hay không.
NSS nói tới "sự suy giảm kinh tế", bổ sung rằng điều này "bị lu mờ bởi viễn cảnh thực tế và đen tối hơn về sự sụp đổ của văn minh".
Ở một đoạn khác, văn bản nêu rằng: "Việc một vài thành viên NATO sẽ có đa số không phải người châu Âu là hoàn toàn có thể trong vài thập kỷ tới". Theo bản chiến lược, điều làm dấy lên nghi ngờ về khả năng họ đóng vai trò đối tác an ninh lâu dài.
"Đây là một văn kiện mang tính bản địa cực đoan," bà Karin von Hippel lập luận.
"Nó mang nặng ý thức hệ. Thông điệp ẩn sau là đàn ông da trắng Cơ đốc giáo không còn nắm quyền ở nhiều quốc gia [phương Tây] nữa, và chúng ta đang chứng kiến một mối đe dọa đối với sự thống trị mà đàn ông da trắng Cơ đốc giáo từng có ở Mỹ và châu Âu.
"Họ rất cẩn thận không nói điều đó một cách rõ ràng, nhưng tôi nghĩ đó chính là điều ngụ ý."
Tuy nhiên, bà Victoria Coates lập luận rằng, theo quan điểm của bà, "cuộc đấu tranh lớn hơn mà chúng ta đang tham gia" thực sự mang tính văn minh.
"Chủ quyền cũng là một vấn đề then chốt," bà nói. "Nhìn vào dự án Liên minh châu Âu, đặc biệt sau Brexit, tôi nghĩ nhiều quốc gia đang tự hỏi liệu việc đặt lợi ích quốc gia dưới quyền Brussels có phải là một chiến lược thắng lợi hay không.
"Tôi thực sự nghĩ rằng đây là một trong những thể chế mà NSS hoài nghi."
Điều này tương đồng với lợi ích của các tập đoàn công nghệ Mỹ, vốn là những công ty phản đối nỗ lực của EU trong việc điều tiết hoạt động của họ tại châu Âu.
Tháng trước, ông Elon Musk đã đăng trên X rằng Liên minh châu Âu nên bị bãi bỏ và chủ quyền nên được trả về cho các quốc gia riêng lẻ.
'Nuôi dưỡng sự phản kháng quỹ đạo châu Âu'
Bản đánh giá nêu rõ cách châu Âu có thể lấy lại "sự tự tin".
"Ảnh hưởng ngày càng tăng của các đảng phái châu Âu yêu nước thực sự mang đến lý do để lạc quan. Mục tiêu của chúng ta nên là giúp châu Âu điều chỉnh quỹ đạo hiện tại của mình. Chúng ta sẽ cần một châu Âu mạnh để giúp chúng ta cạnh tranh thành công."
Và một trong các chính sách để thực hiện điều này là "nuôi dưỡng sự phản kháng đối với quỹ đạo hiện tại của châu Âu bên trong các quốc gia châu Âu."
Ý nghĩa chính xác của "nuôi dưỡng sự phản kháng" đặt ra nhiều nghi vấn.
Tại châu Âu, một số người đã kết luận rằng Mỹ có thể không còn là đồng minh đáng tin cậy, trong bối cảnh mối đe dọa từ Nga ngày càng lớn.
Sau bài phát biểu của Phó Tổng thống Vance tại Munich, Thủ tướng Đức Friedrich Merz nói rằng châu Âu sẽ cần "đạt được độc lập" khỏi Mỹ thông qua một NATO được tái định hình.
Nhưng điều này cần thời gian.
"Điều đó không thể thực hiện trong ngắn hạn," Sir Lawrence nói. "Người châu Âu đã trở nên rất phụ thuộc vào Mỹ, và đó là một lựa chọn: rẻ hơn và đơn giản hơn.
"Mặc dù về thực tế sẽ mong muốn có khả năng hành động mà không cần Mỹ… nhưng thực tế là sẽ mất nhiều năm để tự tách mình ra. Và cái giá sẽ cực kỳ cao.
"Vì vậy châu Âu đang đối mặt với khó khăn: không thể dựa vào Mỹ, nhưng cũng không thể vận hành dễ dàng khi thiếu họ."
Trả lời câu hỏi cấp bách là điều này có ý nghĩa gì đối với châu Âu – và EU – trong tương lai gần, Lord Richards đưa ra một cảnh báo nghiêm trọng:
"[Nó] có nguy cơ rơi vào khoảng trống."
"EU không thể là một cường quốc, cũng như bất kỳ quốc gia thành viên nào của nó," ông lập luận. "[Vậy] Vương quốc Anh/EU phải quyết định họ nên trú ẩn dưới bóng ai?
"Câu trả lời là họ có khả năng vẫn thuộc về phạm vi ảnh hưởng của Mỹ - và trong một NATO được tái định hình."
'Cuộc nổi dậy của quần chúng chống lại giới tinh hoa'
Nhưng Lord Richards cũng tin rằng việc cam kết tăng chi tiêu quốc phòng là một hành động đã quá muộn.
"Các quốc gia châu Âu sẽ phải chi nhiều hơn cho quốc phòng của chính họ. Điều này đã được chờ đợi lâu nhưng Vương quốc Anh vẫn chưa hiện thực hóa điều này. Trên thực tế, năm nay lực lượng vũ trang phải tiết kiệm thay vì chi tiêu thêm."
Mỹ đã thúc ép châu Âu tăng chi tiêu quốc phòng trong nhiều năm, theo giáo sư Lawrence.
"Thông điệp nói rằng châu Âu cần làm nhiều hơn cho quốc phòng của chính mình đã tồn tại lâu. Cả ông Obama lẫn ông Biden đều thúc đẩy điều này."
Năm ngoái, ông Trump đã đạt được cam kết từ các đồng minh châu Âu về việc tăng chi tiêu quốc phòng lên 5% GDP – và trong quá trình đó có thể đã mang lại lợi ích an ninh cho châu Âu, bằng cách thúc đẩy họ, về lâu dài, hướng tới sự độc lập hoạt động lớn hơn khỏi Washington.
"Chi tiêu đã tăng khá đáng kể," Sir Lawrence nói. "Đức đã đạt được những bước tiến ấn tượng. Có sự thay đổi, không nhanh như nhiều người mong muốn, nhưng nó đang diễn ra."
Bản đánh giá cũng nêu rõ cách Mỹ nghĩ rằng họ có thể "giúp" châu Âu:
"Chúng tôi muốn hợp tác với những quốc gia đồng thuận, những quốc gia muốn khôi phục vinh quang trong quá khứ."
Cuối cùng, báo cáo không nói về một rạn nứt ý thức hệ phân tách Mỹ và châu Âu, mà là một rạn nứt cắt ngang cả hai lục địa.
Hai bên bờ Đại Tây Dương có những mối quan tâm chung nhất định, theo Victor Mallet, nhà báo ở Paris và tác giả cuốn sách sắp xuất bản Far Right France: Le Pen, Bardella and the Future of Europe (Tạm dịch: Cực hữu Pháp: Le Pen, Bardella và Tương lai của châu Âu).
"Sự lo ngại về nhập cư, kinh tế… và khoảng cách văn hóa cực kỳ lớn giữa những người ủng hộ các nhân vật như Donald Trump, Mặt trận Quốc gia ở Pháp, AfD ở Đức, và giới trí thức, đô thị, tự do, được giáo dục."
"Đây chắc chắn là một cuộc nổi dậy của quần chúng chống lại giới tinh hoa."
Ông tin rằng bất bình đẳng là một trong những vấn đề.
"Xét trung bình, Mỹ có nhóm người tiêu dùng giàu có nhất mà thế giới từng thấy, nhưng nhiều người Mỹ bình thường vẫn chật vật trang trải cuộc sống và điều tương tự cũng xảy ra ở Tây Âu."
Trong NSS, Mỹ cam kết loại bỏ một số chương trình, chẳng hạn như Đa dạng, Công bằng và Hòa nhập (Diversity, Equity and Inclusion), vốn nhận nhiều chỉ trích từ nhóm ủng hộ cơ sở của ông Trump.
Theo văn bản này, cuộc chiến văn hóa vốn định hình cuộc tranh luận công khai cay nghiệt ở Mỹ giờ cũng ở mức độ nào đó ảnh hưởng đến chính sách đối ngoại, và – theo đó – tác động tới an ninh phương Tây.
Nga không được nhắc đến như một cường quốc thù địch, mặc dù nước này đã xâm lược Ukraine, một đồng minh phương Tây.
Bởi lẽ, trong cuộc chiến văn hóa, một số người trong cơ sở ủng hộ MAGA của ông Trump không coi Tổng thống Nga Vladimir Putin là kẻ thù mà là đồng minh tự nhiên trong việc bảo vệ nền văn minh dân tộc chủ nghĩa Cơ đốc da trắng: một người tự hào bảo vệ đất nước, truyền thống và bản sắc của mình – những phẩm chất mà họ vốn trân trọng và ngưỡng mộ nơi ông Donald Trump.
.jpg)
Đối với Thủ tướng Đan Mạch Mette Frederiksen và các nhà lãnh đạo trên khắp châu Âu, việc Mỹ đe dọa sử dụng bạo lực từ đồng minh Mỹ là điều gây sốc.
Một khả năng đang được thảo luận là liệu Đan Mạch có thể đề nghị thay đổi quy chế pháp lý của Greenland mà không chuyển giao quyền sở hữu hay không. Về bản chất, như lời một quan chức, Mỹ có thể hành xử tại Greenland như thể sở hữu vùng lãnh thổ này, nhưng trên thực tế thì không.
Chẳng hạn, người dân Greenland có thể bỏ phiếu ủng hộ độc lập, sau đó liên kết với Mỹ để hưởng lợi về an ninh và kinh tế mà không trở thành một phần của nước Mỹ. Kịch bản này nhiều khả năng sẽ đòi hỏi một đề nghị kinh tế đáng kể dành cho khoảng 56.000 cư dân Greenland, vượt trội so với mức hỗ trợ khoảng 1 tỷ USD mỗi năm mà Đan Mạch hiện cung cấp.
“Đó sẽ là cách khôn ngoan nhất, đưa ra một ‘củ cà rốt’ đủ lớn,” chuyên gia Jon Rahbek-Clemmensen, Trung tâm Nghiên cứu An ninh Bắc Cực thuộc Học viện Quốc phòng Hoàng gia Đan Mạch, nhận định.
Tuần qua vấn đề Greenland đã nóng lên tại các bàn nghị sự ở châu Âu.
Mở đầu là việc Stephen Miller, một trong những trợ lý thân cận nhất của Tổng thống Donald Trump, ngày 5/1 được hỏi về loại trừ khả năng sử dụng vũ lực quân sự để chiếm Greenland, vùng lãnh thổ tự trị thuộc Đan Mạch, hay không. Ông Miller không những phủ nhận mà còn đặt câu hỏi về quy chế của Greenland, phớt lờ các mối liên hệ lịch sử với Đan Mạch và chế giễu ý tưởng rằng châu Âu có thể đối đầu với quân đội Mỹ.
Dù Thủ tướng Frederiksen từ lâu đã coi các đe dọa của ông Trump là nghiêm túc, những phát biểu thẳng thừng của ông Miller đã phá vỡ nỗ lực kéo dài suốt một năm qua nhằm âm thầm thuyết phục Tổng thống Mỹ từ bỏ mong muốn kiểm soát Greenland, nguồn tin của NYT khẳng định.
Những bình luận của ông Miller, cùng với khẳng định trước đó của ông Trump rằng “chúng ta thực sự cần Greenland, chắc chắn là như vậy,” đã làm rõ mức độ rủi ro đối với các nhà lãnh đạo châu Âu, các quan chức cho biết. Hiện họ đang âm thầm xây dựng các kịch bản phản ứng, trong đó có ý tưởng tăng cường lực lượng NATO nhằm đối phó tốt hơn với ảnh hưởng của Trung Quốc và Nga, hoặc thậm chí đề nghị ông Trump quyền tiếp cận các mỏ khoáng sản khổng lồ của Greenland.
Một mối lo ngại được bày tỏ riêng trong giới chức châu Âu là vấn đề Greenland không chỉ liên quan đến an ninh hay tài nguyên kinh tế, mà còn phản ánh mong muốn của ông Trump “làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại,” như lời một ngoại trưởng châu Âu, và ghi dấu trong lịch sử với tư cách là người mở rộng lãnh thổ Mỹ lần đầu tiên sau nhiều thập niên.
Thủ tướng Đan Mạch Mette Frederiksen từng cảnh báo rằng một nỗ lực của Mỹ nhằm kiểm soát Greenland bằng vũ lực sẽ “đồng nghĩa với sự kết thúc của liên minh NATO.”
Ngay cả với một châu lục vốn đã quen với những đòn công kích lặp đi lặp lại của ông Trump nhằm vào các liên minh lâu đời ở châu Âu, việc Greenland trở thành mục tiêu vẫn khiến các quan chức chấn động, phẫn nộ và lo lắng.
Điều này cũng phơi bày sự thiếu thống nhất trong cách phản ứng. Một tuyên bố ủng hộ Đan Mạch được đưa ra ngày 6/1 bởi sáu quốc gia châu Âu, thay vì phải toàn bộ 27 nước thành viên Liên minh châu Âu. Ở hậu trường, các quan chức bất đồng về mức độ chỉ trích ông Trump, bởi sự hỗ trợ của ông được xem là then chốt đối với nỗ lực chấm dứt chiến tranh tại Ukraine, điều mà nhiều lãnh đạo châu Âu coi là mối đe dọa mang tính quyết định.
Bà Frederiksen đã công khai cảnh báo rằng một hành động dùng vũ lực của Mỹ kiểm soát Greenland sẽ “đồng nghĩa với sự kết thúc của NATO.”
Ngoại trưởng Pháp Jean-Noël Barrot trên đài phát thanh quốc gia phủ nhận khả năng ông Trump sẽ tấn công Greenland, tuy nhiên cũng nhấn mạnh rằng trước bất kỳ hình thức đe dọa nào, châu Âu phải “chuẩn bị để đáp trả, để phản công, và không hành động đơn độc.”
Trong khi đó, nhiều nỗ lực đang được thúc đẩy trên khắp châu Âu nhằm hạ nhiệt các phát ngôn cứng rắn, với hy vọng rằng các nghị sĩ Quốc hội Mỹ, bao gồm cả đảng Cộng hòa, có thể thuyết phục ông Trump và các trợ lý rút lui, theo lời ba nhà ngoại giao châu Âu và một quan chức quân sự cấp cao phương Tây.
Một số quan chức thừa nhận chưa có nhiều bằng chứng cho thấy một cuộc tấn công có thể sắp xảy ra. Các nhà lãnh đạo châu Âu vẫn đang tìm cách đánh giá mức độ thực tế của mối đe dọa và mục tiêu cụ thể của ông Trump.
Trên khắp châu Âu, các cuộc trao đổi về Greenland thực sự nóng lên vào sáng ngày 6/1, chỉ vài giờ sau phát biểu của ông Miller, khi lãnh đạo nhiều quốc gia châu Âu quy tụ tại Paris bàn cách chấm dứt chiến sự ở Ukraine. Ngày hôm sau tại Paris, các ngoại trưởng Ba Lan, Pháp và Đức tiếp tục thảo luận.
Các nhà lãnh đạo châu Âu đã chủ động trấn an Thủ tướng Đan Mạch Frederiksen, người vốn nổi tiếng thẳng thắn và cứng rắn, về sự ủng hộ của họ. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa đạt được sự đồng thuận về cách hành động nếu ông Trump quyết định hiện thực hóa các đe dọa.
Hơn 50 năm qua, dầu khí Biển Bắc luôn là một dòng chảy ngầm trong chính trường Anh. Nhưng nay nguồn tài chính này đang gần cạn kiệt và khả năng hồi sinh của vùng Biển Bắc đang rất viển vông.
Ngành dầu khí Biển Bắc của Anh, từng rất thịnh vượng, đã trụ được qua năm 2025 - năm khó khăn nhất kể từ thập niên 1960, khi hydrocarbon lần đầu được phát hiện tại khu vực này.
Sản lượng dầu khí từ các mỏ đã trưởng thành tiếp tục suy giảm trong năm qua, trong khi bất ổn gia tăng do ngành chờ đợi thay đổi chính sách của chính phủ Anh. Chính sách này áp mức thuế rất nặng lên các nhà khai thác, nhưng lại thiếu ưu đãi hay cơ chế khuyến khích đầu tư. Trước sự không chắc chắn ngày càng lớn, các doanh nghiệp hoạt động ngoài khơi Anh đã cắt giảm đầu tư và đóng băng nhiều kế hoạch.
Việc đầu tư sụt giảm, cùng với sự dè dặt của chính phủ trong cấp phép mới, đã khiến hoạt động thăm dò tại Biển Bắc rơi xuống mức thấp kỷ lục. Do chính sách tài khóa khó lường, năm 2025 trở thành năm đầu tiên kể từ 1960 nước Anh không có một giếng thăm dò nào ngoài khơi, theo cảnh báo của hãng tư vấn Wood Mackenzie.
Thuế “đánh vào lợi nhuận bất thường” bóp nghẹt đầu tư
Cuối năm 2025, ngành dầu khí Anh cuối cùng cũng có thêm thông tin rõ ràng về cơ chế tài khóa mà họ đã chờ đợi suốt hơn 6 tháng.
Chính phủ đã gỡ bỏ phần lớn bất định trong Ngân sách mùa thu công bố tháng 11. Tuy nhiên, thuế lợi nhuận bất thường vẫn được giữ nguyên đến năm 2030 - trái với kiến nghị và cảnh báo của ngành rằng mức thuế tổng cộng, bao gồm thuế này, lên tới 78%, trong khi không có ưu đãi hay khấu trừ, sẽ khiến ngành và chuỗi cung ứng “chết dần”.
Thực tế, điều chắc chắn duy nhất mà ngành nhận được là sắc thuế mang tính trừng phạt này, tên chính thức là Thuế Lợi nhuận Năng lượng (EPL), sẽ kéo dài tới hết thập niên. Trong năm 2025, thuế được kích hoạt khi giá dầu vượt 76 USD/thùng, hoặc giá khí tự nhiên vượt 59 xu. Dù giá dầu phần lớn dưới ngưỡng, giá khí vẫn duy trì trên mức 59 xu, kích hoạt thuế lợi nhuận bất thường 35%.
Năm ngoái là một năm tồi tệ đối với Biển Bắc của Anh. Tâm lý chung trong ngành cho rằng những năm khó khăn vẫn chưa kết thúc, và việc đầu tư, thăm dò tiếp tục lao dốc sẽ bóp chết ngành, đồng thời làm tăng nhu cầu nhập khẩu dầu khí của Anh. Điều này khiến một trong những nền kinh tế lớn của châu Âu càng dễ tổn thương trước biến động của thị trường dầu, khí và LNG quốc tế.
Theo Wood Mackenzie, sắc thuế này - được chính phủ áp dụng lần đầu trong cao điểm khủng hoảng năng lượng năm 2022, và nay được kéo dài dưới thời Công đảng - sẽ xóa sổ mọi khoản đầu tư không thiết yếu tại thềm lục địa Anh, khi ngành phải cạnh tranh với các khu vực có chính sách thuế thân thiện hơn.
“Chính phủ đã từ chối 50 tỷ bảng đầu tư cho nước Anh, cùng cơ hội bảo vệ việc làm và các ngành công nghiệp giúp đất nước vận hành”, ông David Whitehouse, Giám đốc điều hành Offshore Energies UK, nói khi phản hồi quyết định giữ nguyên thuế lợi nhuận bất thường.
“Thay vào đó, họ đã chọn con đường khiến mỗi tháng tiếp tục mất 1.000 việc làm, gia tăng nhập khẩu năng lượng và tạo ra hiệu ứng lây lan tiêu cực trong toàn bộ chuỗi cung ứng, cũng như các trung tâm công nghiệp của chúng ta”, ông Whitehouse nói thêm.
Phòng Thương mại Aberdeen & Grampian nhận định: “Dầu khí Biển Bắc coi như tắt đèn khi Bộ trưởng Tài chính vẫn giữ thuế lợi nhuận bất thường”.
Giám đốc điều hành Phòng Thương mại, ông Russell Borthwick, cho biết, thay vì lắng nghe khuyến nghị từ ngành, “chính phủ Anh lại chọn cách kết thúc khai thác ở Biển Bắc theo kiểu rơi tự do và đánh thuế đến chết ngành này trong vòng 5 năm. Hàng nghìn việc làm sẽ bị mất trực tiếp vì sự thất bại trong hành động của chính phủ”.
Sắc thuế này đã khiến nhiều công ty trong những năm gần đây phải dừng đầu tư tại Anh và cắt giảm nhân sự.
Thông báo mới nhất đến từ Harbour Energy, một trong những nhà khai thác độc lập lớn nhất, khi công ty cho biết tháng trước sẽ cắt thêm khoảng 100 việc làm, bên cạnh 600 vị trí đã bị loại bỏ kể từ năm 2023.
Cuối tháng 12, Giám đốc điều hành Harbour Energy, bà Linda Cook, nói với tờ Financial Times rằng Anh là “môi trường tài khóa tệ nhất trong tất cả các quốc gia mà chúng tôi đang hoạt động”.
Theo bà Cook, cơ chế thuế hiện nay buộc ngành dầu khí Anh phải cạnh tranh với các khu vực khác trong tình thế “bị trói một tay sau lưng”.
Sáp nhập để sống sót
Trong môi trường tài khóa bất lợi, các nhà khai thác tại Biển Bắc đang tìm đến những giải pháp khác để tăng lợi nhuận và tạo giá trị cho cổ đông. Sáp nhập đã trở thành lựa chọn phổ biến nhất khi ngành phải hợp nhất để đối phó với mức thuế trừng phạt.
Tháng trước, Harbour Energy công bố một thương vụ mua lại tại Biển Bắc, trong bối cảnh ngành tìm cách vượt qua ảnh hưởng nặng nề của thuế lợi nhuận bất thường.
“Giao dịch này là bước đi quan trọng của Harbour tại Biển Bắc, tiếp nối những nỗ lực chúng tôi đã thực hiện để duy trì vị thế trong bể trầm tích này trước các thách thức tài khóa và pháp lý kéo dài”, ông Scott Barr, Giám đốc điều hành mảng kinh doanh Anh của Harbour, nói về thương vụ mua Waldorf Energy Partners và Waldorf Production - hai công ty đang trong quá trình quản lý phá sản - với giá 170 triệu USD.
Harbour Energy là doanh nghiệp mới nhất tại Anh công bố mua lại tài sản, sau khi Shell và Equinor thành lập liên doanh 50/50, hợp nhất các hoạt động dầu khí ngoài khơi của Anh vào công ty mới mang tên Adura. Trước đó, đầu tháng 12, tập đoàn TotalEnergies của Pháp cho biết sẽ sáp nhập mảng thượng nguồn tại Anh với NEO NEXT để tạo ra nhà khai thác dầu khí độc lập lớn nhất nước Anh, mang tên NEO NEXT+.
Các nhà phân tích dự báo làn sóng hợp nhất sẽ còn tiếp diễn, trong khi ngành tiếp tục kêu gọi chính phủ cải cách chính sách tài khóa.
“Khôi phục đầu tư vào Biển Bắc không có nghĩa là từ bỏ cam kết khí hậu; điều này cần thiết để bảo vệ việc làm, ổn định kinh tế và duy trì một cây cầu chuyển tiếp tới tương lai năng lượng sạch hơn”, tập đoàn năng lượng và hóa chất Ineos của Anh - doanh nghiệp đã dừng đầu tư tại Anh - tuyên bố tháng trước. “Doanh nghiệp có thể đầu tư cho tương lai đó bằng cách nào nếu họ đang bị đẩy tới bờ vực phá sản?”.
Nguồn: Soha; BBC; Kinh tế & Đô thị; Năng Lượng Quốc Tế
Việt Nam: Ngọc nữ lọt top mỹ nhân đẹp nhất thế giới; Đường dây rửa tiền xuyên quốc gia; Quy hoạch công viên Thủ Lệ; Thánh đường 5.000 người trước ngày khánh thành
Việt Nam: Đề nghị kỷ luật Sử Ngọc Anh; Cáp treo mới 16.234 tỷ; Thiên đường nghỉ dưỡng; Cựu Phó TGĐ Ngân hàng VNCB trốn truy nã; Đấu giá biệt thự Chủ tịch AIC
Người Việt hải ngoại: Mỹ nhân mở tiệc 3 ngày 3 đêm ở Mỹ; Du học sinh tốt nghiệp ở Bắc Kinh, về quê làm khu công nghiệp; Đại hội Phụ nữ vùng Kansai, Nhật Bản
Việt Nam: Lãi suất ngân hàng 12/10; Khách sạn lọt top 3 tốt nhất Đông Nam Á; Chung cư 90 triệu đồng/m2; Chuyển trái phép 900 tỷ ra nước ngoài; Ngân hàng bán bất động sản xử lý nợ
Người Việt hải ngoại: Dàn sao Kiều Nữ Và Đại Gia sau 18 năm; Nữ nghệ sĩ rời Mỹ về nước; Những ngày biểu tình ở Pháp; Luật Người lao động làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng
Người Việt hải ngoại: Thiên Ân dự đám cưới Kỳ Duyên; Con gái NSND Trần Hiếu sinh con ở Mỹ; Nàng Hậu được ĐH Anh vinh danh; Trại sách cộng đồng ở Nhật; Gắn kết cộng đồng ở châu Âu
Việt Nam: Giá vàng hôm nay; Điều chỉnh quy hoạch đô thị sông Hồng; Xử lý 18 000 căn hộ sai quy hoạch; Shark Thủy bị truy tố lần 2; Hộ kinh doanh “đứng tên” bị hoãn xuất cảnh
Việt Nam: Vùng biển hoang sơ thành thiên đường du lịch; Chiến lược tích trữ vàng; Tân hoa hậu Miss Universe Vietnam bị phạt; Khởi tố lãnh đạo doanh nghiệp 3.600 tỷ
Bình luận và đánh giá
Gửi nhận xét đánh giá