- Cư trú - Luật pháp
- Luật Pháp
.png)
Về cơ hội kiếm thêm tiền bổ sung tiêu chuẩn Trợ cấp Cơ bản vẫn được thực hiện theo Điều § 11b Quyển thứ hai Bộ luật Xã hội quy định về mức thu nhập bổ sung bị khấu trừ và không bị khấu trừ.
Điều đó có nghĩa là, giống như Trợ cấp Công dân, 100 Euro của tổng thu nhập sẽ được miễn khấu trừ vào tiêu chuẩn Trợ cấp Cơ bản.
Số thu nhập vượt quá 100 Euro, đến 520 Euro được miễn khấu trừ 20% vào tiêu chuẩn Trơ cấp Cơ bản, trên 520 đến 1.000 Euro được miễn trừ 30% vào tiêu chuẩn cơ bản
Thu nhập từ 1.000 Euro đến 1.200 Euro, được miễn trừ thêm 10%. Nếu gia đình có ít nhất có một trẻ vị thành niên hoặc nếu người được hưởng trợ cấp có con chưa thành niên, mức thu nhập trên được tăng lên 1.500 Euro.
Phần thu nhập cao hơn nữa được trừ vào tiêu chuẩn Trợ cấp Cơ bản.
Bảng tổng hợp
| Thu nhập bổ sung | Quy định hiện hành |
| Mức thu nhập bổ sung được miễn khấu trừ vào tiêu chuẩn | 100 Euro đầu tiên. |
| Mức thu nhập bổ sung từ 100 đến 520 Euro | Được miễn trừ 20% số còn lại bị khấu trừ vào tiêu chuẩn cơ bản. |
| Từ 520 đến 1.000 Euro | Được miễn trừ 30%. |
| Từ 1.000 đến 1.200 Euro | Được miễn trừ 10%. |
| Từ 1.200 đến 1.500 Euro | 10 % vẫn được miễn trừ nếu ít nhất có một trẻ vị thành niên sống trong gia đình hoặc người hưởng trợ cấp có con chưa thành niên |
| Thu nhập vượt mức trên | Bị trừ hoàn toàn vào tiêu chuẩn Trợ cấp Cơ bản. |
Thu nhập bổ sung đối với các hoạt động xã hội mang tính làm thêm
Theo Bộ luật Xã hội, Quyển 2, quy định về thu nhập được miễn thuế tại Điều §3 số 12, 26 và 26a của Đạo luật thuế thu nhập, những người hưởng Trợ cấp Cơ bản, làm thêm trong các lĩnh vực xã hội, như huấn luyện viên, nhà giáo dục, giám sát viên hoặc các hoạt động tương đương có thu nhập lên đến 3.000 Euro/năm không được tính là thu nhập, nghĩa là không bị khấu trừ vào tiêu chuẩn Trợ cấp Cơ bản.
Nếu thu nhập vượt quá 3.000 Euro/năm, phần vượt quá này được tính là thu nhập và khấu trừ vào tiêu chuẩn trợ cấp cơ bản..
Tiêu chuẩn bổ sung do quá khó khăn
Quy định về về trường hợp quá khó khăn được ghi trong Quyển II của Bộ luật Xã hội luôn được áp dụng nếu việc áp dụng các quy định thông thường trong trường hợp cá biệt này sẽ dẫn đến kết quả không hợp lý.
Đó là trường hợp khó khăn đặc biệt do có nhu cầu bổ sung đặc biệt theo Điều § 21 (6) Bộ Luật Xã hội SGB II. Ngoài ra, Bộ Luật SGB II công nhận các khó khăn đặc biệt khác, như trong trường hợp phạt, nếu áp dụng biện pháp giảm tiêu chuẩn cơ bản gây cho họ khó khăn đặc biệt, hoặc trong trường hợp học nghề thực sự bị cắt trợ cấp, có thể cung cấp trợ cấp cho họ bằng cách cho vay như một trường hợp khó khăn đặc biệt. Điều quan trọng là người liên quan phải trình bày cụ thể và chứng minh khó khăn đặc biệt cụ thể.
Bảng tổng kết các trường hợp đặc biệt
| Những trường hợp khó khăn đặc biệt quy định tại Bộ luật Xã hội II SGB II | Những tình huống có thể được quyền đòi hỏi hoặc bảo vệ |
| Các nhu cầu đặc biệt liên tục không thể trừ bỏ theo Điều § 21.6 của Quyển 2 Bộ Luật Xã hội, mục 6 SGB II | Nếu có một nhu cầu đặc biệt, liên tục, không chỉ một lần và hoàn toàn cần thiết và không thể thay thế bởi tiêu chuẩn cơ bản hoặc hỗ trợ khác |
| Khó khăn đặc biệt trong trường hợp bị phạt theo Điều § 31 a, mục 3 của Quyển II Bộ luật Xã hội SGB II | Nếu việc giảm phúc lợi là không hợp lý đối với trường hợp cá nhân cụ thể; Trong trường hợp này, hình phạt có thể được miễn hoàn toàn hoặc không được áp dụng dưới hình thức này. |
| Bỏ lịch hẹn không báo cáo với lý do nghiêm trọng đặc biệt | Ngay cả trong trường hợp này cũng phải kiểm tra xem có khó khăn nghiêm trọng đặc biệt hay không; Nếu có, không thể cắt giảm. |
| Học nghề rơi vào tình huống đặc biệt khó khăn theo Điều § 27 Bộ Luật Xã hội, Quyển II SGB II | Nếu học sinh học nghề thực sự bị cắt trợ cấp của công dân, nhưng việc từ chối trợ cấp trong các trường hợp cá nhân này sẽ gây khó khăn cụ thể cho họ, thì vẫn cấp tiêu chuẩn trợ cấp cho họ, nhưng được coi là một khoản vay, sau này phải hoàn trả. |
| Bị nợ về tiền thuê nhà hoặc sưởi ấm theo Điều § 22 đoạn 8, Bộ Luật Xã hội II SGB II | Nếu các khoản nợ phải được thực hiện để đảm bảo chỗ ở hoặc để khắc phục tình huống khẩn cấp tương đương, sẽ được cấp tiền dưới hình thức cho vay. |
| Tài sản không thể bán ngay lập tức hoặc đặc biệt khó thực hiện | Nếu có tài sản, nhưng việc bán ngay lập tức là không thể hoặc không hợp lý về mặt pháp lý hoặc thực tế , thì vẫn có thể cấp tiêu chuẩn Trợ cấp Cơ bản nhưng dưới dạng vay. |
Khi kiểm tra tình hình thực tế, để quyết định, những điều sau đây được áp dụng: Khái niệm khó khăn đặc biệt không được áp dụng tự động mà chỉ sau khi đánh giá từng trường hợp cụ thể.
Bất kỳ ai viện dẫn chứng minh mình thuộc trường hợp khó khăn phải cung cấp cho Trung tâm Việc làm càng nhiều bằng chứng về tình huống đặc biệt càng tốt, ví dụ như bằng giấy chứng nhận y tế, bằng chứng về các chi phí đặc biệt đang diễn ra, đe dọa chấm dứt hợp đồng của chủ nhà hoặc bằng chứng về việc không sử dụng được tài sản.
Đặc biệt trong Bộ Luật Xã hội II SGB II, trường hợp khó khăn đặc biệt không phải là tiêu chuẩn trợ cấp bổ sung một lần, mà là một cơ chế ngoại lệ pháp lý cho các tình huống khó khăn đặc biệt, phải được giúp đỡ để họ vượt qua.
CÒN TIẾP
Luật Đức mới và sửa đổi tháng 11.2026 - PHẦN III
Luật Đức mới và sửa đổi tháng 11.2026 - PHẦN II
Luật Đức mới và sửa đổi tháng 11.2026 - PHẦN I
Cẩm nang nhập quốc tịch Đức năm 2026: Các điều kiện, những điểm đặc biệt và ngoại lệ - KỲ IV
Chuyên đề thuế: Những vấn đề thuế vụ thường kiểm tra đối với doanh nghiệp thuê người nhà – PHẦN II
Luật Đức mới và sửa đổi tháng 11.2026 - PHẦN IV
Luật Đức mới và sửa đổi tháng 11.2026 - PHẦN CUỐI
Bình luận và đánh giá
Gửi nhận xét đánh giá