Mỹ: Đô thị 'đói' cư dân; Phong trào phi đô la hóa; Chống nhập cư bất hợp pháp; Siết đầu tư vào TQ; Thông điệp từ quốc yến

Nỗi ám ảnh khó tin với các đô thị một thời sầm uất của nước Mỹ: Đói… cư dân

Người dân, người lao động đang lựa chọn rời đi khỏi các khu vực trung tâm thành phố tạo, ra những vấn đề nan giải với nền kinh tế lớn nhất thế giới.

Có thể bạn đã nghe về tình trạng gọi là “hiệu ứng bánh vòng” hay thậm chí là “cái chết của những khu vực trung tâm các đô thị”…. Đây là những thuật ngữ được dùng để mô tả việc người dân đang rời khỏi các đô thị để lựa chọn những nơi sống khác tại Mỹ. Hình ảnh những trung tâm thương mại vắng hoe, các tòa nhà công sở trống vắng đang ngày càng trở nên quen thuộc.

Tình trạng này không chỉ xảy ra ở những đô thị sầm uất hàng đầu như San Francisco và Seattle mà nó là vấn đề trên diện rộng. Các thành phố miền Trung Tây nước Mỹ đang phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng còn tệ hơn thế. Không chỉ là hậu quả của thời kỳ Covid-19, tình trạng suy giảm dân cư xảy ra ở đây cả thập kỷ….

Để thoát khỏi vòng xoáy đáng sợ, các nhà kinh tế và quy hoạch đô thị cho biết các thành phố miền Trung Tây nước Mỹ cần nghiêm túc trong cải thiện tiện ích và nâng cao chất lượng cuộc sống ở các khu vực trung tâm thành phố. Thay vì biến đô thị thành những nơi mọi người buộc phải tới để đi làm, hãy biến chúng thành nơi mọi người muốn ghé qua.

Để đánh giá số người có mặt ở trung tâm các thành phố miền Trung Tây nước Mỹ, đứng ở quảng trường đếm người có vẻ không phải phương án khả thi. Thay vào đó, các nhà nghiên cứu sử dụng dữ liệu điện thoại di động để đánh giá thực trạng. Kết quả được thu thập trong vài năm qua cho thấy một con số đáng buồn.

Trong số 10 vùng trung tâm thành phố có mật độ điện thoại di dộng thấp nhất nước Mỹ, 5 trong số đó nằm ở vùng Trung Tây. 9 trong số 13 thành phố nằm trong diện theo dõi ở khu vực này xếp ở nửa dưới của bảng xếp hạng. Các chỉ số khác về sức khỏe của các khu trung tâm thương mại, cao ốc văn phòng… cũng rất kém.

Những gì đang xảy ra hiện nay ở khu vực Trung Tây nước Mỹ có thể bắt nguồn từ những lựa chọn cách đây 7 thập kỷ. Đầu thế kỷ 20, các thành phố miền Trung Tây nước Mỹ bùng nổ, thu hút người lao động và các gia đình muốn tìm việc làm.

Tuy nhiên, tất cả đã thay đổi vào năm 1950, khi nơi đây dựa vào một ngành hay thậm chí là một công ty duy nhất để củng cố nền kinh tế của mình. Cleveland có ngành công nghiệp thép, Detroit được chế tạo bằng ô tô và Akron là trụ sở của các nhà sản xuất lốp xe. Vì vậy, để ngăn các doanh nghiệp rời đi, các nhà lãnh đọa địa phương bắt đầu tập trung thu hút các doanh nghiệp, ngay cả khi việc này khiến cuộc sống của người dân trở nên khó khăn hơn.

Nửa cuối thế kỷ 20, hầu hết các thành phố miền Trung Tây lựa chọn hy sinh để giữ chân doanh nghiệp. Họ san phẳng các khu dân cư, xây dựng đường cao tốc xuyên qua mọi nơi chỉ để vận chuyển hàng hóa nhanh chóng và thuận tiện hơn. Họ bỏ qua các nguyên tác cơ bản, điều giúp giữ chân người dân suốt hàng trăm năm qua đó là sự gặp gỡ, tiện lợi và an toàn.

Amanda Weinstein, giáo sư kinh tế tại Đại học Akron, nói rằng: “Quá trình biến đổi đã khiến trung tâm các thành phố miền Trung Tây không có gì ngoài những tòa nhà chọc trời và đường cao tốc. Chúng thực sự chỉ là nơi dành cho công việc hoặc công việc là tất cả những gì người dân làm khi tới đó”.

Sau nhiều năm bị phớt lờ, mối quan hệ trong cộng đồng người lao động bắt đầu rạn nứt. Người ta bắt đầu tìm kiếm nhưng đồng cỏ xanh tươi hoặc những vùng ngoại ô để sinh sống thay vì chen chúc trong các trung tâm đô thị. Người ta đã rời Rust Belt (Vành đai rỉ sét – mô tả các thành phố nổi lên với các ngành công nghiệp cũ) tới Sun Belt (Vành đai mặt trời – mô tả các thành phố với với các ngành như công nghệ) vì được trả thù lao tốt hơn và chất lượng cuộc sống cao hơn.

Ngay cả những người tiếp tục làm việc ở các trung tâm đô thị, họ cũng không chọn sống ở đó. Các vùng ngoại ô nhiều cây cối trở thành lựa chọn được ưa thích hơn.

Để sửa sai, các chuyên gia cho rằng giới chức các thành phố miền Trung Tây nước Mỹ cần ưu tiên người dân hơn các doanh nghiệp. Khi có những cộng đồng cư dân đa dạng ở các trung tâm thành phố, họ sẽ thu hút được các nhà tuyển dụng và từ đó, sức sống sẽ trở lại. Đã qua rồi cái thời người ta chạy theo công việc. Giờ đây, các doanh nghiệp phải thực sự cạnh tranh để có được nguồn nhân lực cần thiết.

(Nguồn: CafeF)

Phong trào phi đô la hóa (Kỳ I): “Cú sốc” với USD

Các cấm vận của Mỹ và phương Tây đối với Nga dựa trên sức mạnh của đồng USD đang khiến có nhiều lời kêu gọi phi đô la hóa trên toàn cầu và dùng các đồng tiền khác thay thế USD.

Phi đô la hóa được định nghĩa là việc các nước nỗ lực giảm lệ thuộc của họ vào đồng USD với tư cách là đồng tiền giao dịch thương mại, thanh toán và dự trữ quốc tế; và thay thế nó bằng một hoặc vài đồng tiền khác cho các chức năng nói trên.

Nền tảng nâng cao vị thế USD

Về lý thuyết, một đồng tiền của một quốc gia nào đó được công nhận là đồng tiền quốc tế cần phải có những điều kiện tiên quyết, như nền kinh tế có đồng tiền đó phải là một nền kinh tế lớn có tầm toàn cầu, qui mô giao dịch thương mại lớn, và cũng phải có nền quốc phòng và quân đội hùng mạnh để giảm thiểu rủi ro bị tấn công bởi một quốc gia khác bất kỳ lúc nào.

Về lịch sử, trước đồng USD, thế giới đã có những đồng tiền quốc tế khác, như đồng Bảng Anh, Franc của Pháp, Franc Thụy Sĩ, Mác của Đức... tương ứng với những quốc gia đế quốc trước Thế chiến thứ II. Sau Thế chiến thứ II, nền kinh tế Mỹ gần như không bị tàn phá bởi chiến tranh, do đó, nó đương nhiên trở thành nền kinh tế lớn nhất, và cũng là một quốc gia có nền quốc phòng và quân đội hùng mạnh nhất thế giới. Đặc biệt, nước Mỹ đã luôn duy trì và đảm bảo được mọi điều kiện nói trên cho đến nay.

Quan trọng hơn, một loại sự kiện, tình huống và yếu tố khác xuất hiện sau đó đã khiến đồng USD dần trở thành một đồng tiền quốc tế siêu mạnh như hiện nay. Những yếu tố đó bao gồm:

Thứ nhất, kế hoạch Marshall năm 1948 hay còn gọi là Chương trình tái thiết châu Âu sau Thế chiến thứ II. Theo đó, Mỹ cung cấp hơn 15 tỷ USD để tài trợ các nỗ lực xây dựng lại lục địa này. Điều này giúp USD có vị thế gần như thống trị trong giao dịch tài chính và thương mại qui mô toàn cầu một cách nhanh chóng.

Thứ hai là USD dầu lửa (Petrodollar). Kể từ Thế chiến thứ II, Mỹ là nền kinh tế lớn nhất và tiêu dùng dầu lửa (và cả các hàng hóa nguyên liệu cơ bản khác) lớn nhất thế giới. Do đó, việc thanh toán các hàng hóa này cũng được mặc định bằng USD.

Thứ ba, tự do tài khoản vốn là việc một nền kinh tế phải cho phép dòng vốn ra và vào một một cách hoàn toàn tự do. Hệ quả là nền kinh tế đó phải chấp nhận thu nạp mọi nguồn tiết kiệm quốc tế thông qua thị trường tài sản tài chính nội địa. Nền kinh tế Mỹ luôn thỏa mãn điều kiện này một cách đầy đủ nhất.

Thứ tư, USD đã có sự thừa nhận và phê chuẩn rộng rãi toàn cầu từ tất cả các định chế tài chính toàn cầu, giúp nó duy trì và mở rộng vị thế đồng tiền quốc tế.

Thứ năm, nền thể chế của Mỹ được xem là nền thể chế rõ ràng, minh bạch, công khai nhất, do đó dễ đoán định nhất. Và đó là nền tảng quan trọng nhất tạo ra lòng tin quốc tế vào USD. Trong đó, phải kể đến FED hoàn toàn độc lập với chính trị và với chính quyền.

Thứ sáu là phát minh và công nghệ. Nước Mỹ là nguồn cung ứng các phát minh khoa học và công nghệ lớn nhất trong vòng 50 năm qua. Vì vậy, bất kỳ quốc gia nào cũng muốn và cần phải giao dịch với Mỹ để có được công nghệ tiên tiến, hàng hóa và dịch vụ từ Mỹ. Điều này có nghĩa là các quốc gia khác phải sở hữu và sử dụng USD để giao dịch với Mỹ.

“Tẩy chay” USD

Sự cấm vận của Mỹ và phương Tây đối với Nga vì cuộc chiến Ukraine khiến một số quốc gia lo ngại về sự lệ thuộc của họ vào đồng USD. Họ lo ngại rằng, trong bối cảnh có bất đồng với Mỹ thì họ cũng sẽ phải hứng chịu những hậu quả như Nga.

Mỹ loại Nga khỏi hệ thống SWIFT và đóng băng khoản dự trữ 300 tỷ USD khiến Nga không thể sử dụng USD cho các giao dịch quốc tế. Điều này khiến nhiều nước lo ngại một khi bị Mỹ cấm vận tương tự thì nền kinh tế sẽ không thể chịu đựng nổi. Đây là lý do khiến nhiều nước đang tìm cách giảm và/hoặc không sử dụng USD làm đồng tiền dự trữ và giao dịch thương mại quốc tế.

Đồng thời, việc FED tăng mạnh lãi suất nhằm kiểm soát lạm phát cũng khiến các đồng tiền khác mất giá. Do đó, các ngân hàng trung ương phải vất vả duy trì ổn định tiền tệ, cân bằng vĩ mô và nền kinh tế cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn. Hiện tại, họ đang phải vật lộn với khó khăn khi nguồn vốn chảy ra, đồng tiền mất giá và lạm phát tăng cao. Một số nước nghĩ rằng nếu giảm mức lệ thuộc sử dụng đồng USD sẽ giúp họ tránh được tình huống này.

Câu hỏi đặt ra là khi loại bỏ bớt USD thì đồng tiền nào sẽ được dùng làm đồng tiền thay thế? Hiện tại, người ta bàn tới sử dụng đồng Nhân dân tệ (NDT) của Trung Quốc làm đồng tiền thay thế, và bàn thảo liệu có nên lập ra một đồng tiền chung của khối các nền kinh tế mới nổi (BRICS) để thay thế cho USD hay không.

Trên thực tế, hiện đã có 8 nước tham gia phong trào phi đô la hóa và sử dụng NDT của Trung Quốc làm đồng tiền thay thế bao gồm Brazil, Nga, Argentina, Saudi Arabia, Bangladet, Pakistan, Iraq và Thái Lan. Đây có thể được coi là cú sốc với USD. Việt Nam cũng cần có chính sách ứng phó với viễn cảnh này trong tương lai.

(Nguồn: Diễn Đàn Doanh Nghiệp)

Tòa Tối cao Mỹ giữ nguyên luật chống khuyến khích nhập cư bất hợp pháp

Một đạo luật liên bang vốn quy định một người khuyến khích nhập cư bất hợp pháp là phạm tội, không xâm phạm các biện pháp bảo vệ quyền tự do ngôn luận theo hiến pháp, theo phán quyết hôm 23/6 của Tòa án Tối cao Hoa Kỳ.

Phán quyết với tỷ lệ 7-2, do Thẩm phán bảo thủ Amy Coney Barrett soạn thảo, đã đảo ngược quyết định của tòa án cấp thấp hơn về việc hủy bỏ điều luật vừa kể trong đạo luật di trú, trong một vụ án liên quan đến một người đàn ông California tên là Helaman Hansen, người đã lừa dối di dân thông qua một chương trình “nhận bảo trợ người trưởng thành” rởm. Tòa án cấp dưới nhận thấy luật này quá rộng vì nó có thể hình sự hóa quyền tự do ngôn luận được bảo vệ bởi Tu chính án Thứ nhất của Hiến pháp Hoa Kỳ.

Luật đó cấm xúi giục hoặc khuyến khích những người không phải là công dân “đến, nhập cảnh hoặc cư trú” tại Hoa Kỳ một cách bất hợp pháp, kể cả vì lợi ích tài chính.

Tán thành quan điểm của chính quyền Biden, thẩm phán Barrett viết: “Được diễn giải đúng cách, điều khoản này chỉ cấm việc cố ý xúi giục hoặc tạo điều kiện dễ dàng cho một số hành vi trái pháp luật.”

Hai Thẩm phán cấp tiến Ketanji Brown Jackson và Sonia Sotomayor không đồng ý với quyết định này.

Luật sư Esha Bhandari của Liên đoàn Tự do Dân sự Hoa Kỳ, người đại diện cho ông Hansen, nói: “Luật đã khiến mọi người băn khoăn không biết họ có thể nói gì một cách an toàn về chủ đề di trú.”

Tòa Phúc thẩm Liên bang khu vực số 9 trụ sở ở San Francisco đã hủy bỏ bản án năm 2017 kết tội ông Hansen vi phạm luật này. Ông Hansen cũng bị kết tội lừa đảo qua thư tín và lừa đảo qua các phương tiện thông tin liên lạc và bị kết án 20 năm tù. Ộng Hansen đang tại ngoại trong khi chờ kháng cáo được xét xử.

Các công tố viên liên bang cáo buộc ông Hansen lừa dối những di dân vào Hoa Kỳ bất hợp pháp bằng cách hứa với họ từ năm 2012 đến 2016 rằng họ có thể có được quốc tịch Mỹ thông qua chương trình “bảo trợ người trưởng thành” do công ty của ông ở Sacramento điều hành.

Công tố nói ông Hansen đã thuyết phục ít nhất 471 người tham gia chương trình của mình, tính phí mỗi người tới 10.000 đô la mặc dù ông “biết rằng việc nhận bảo trợ người trưởng thành mà ông quảng cáo sẽ không dẫn đến quốc tịch Hoa Kỳ.” Ông Hansen và chương trình của ông đã thu được hơn 1,8 triệu đô la thông qua chương trình này, nhà chức trách cho biết.

Tòa Phúc thẩm đã phán quyết rằng điều luật kể trên đã hình sự hóa ngay cả những lời nói thông thường và hình sự hóa việc tư vấn cho di dân bất hợp pháp các dịch vụ xã hội hiện có.

Chính quyền Biden lập luận rằng điều luật đó không bao gồm một số tình huống giả định mà Tòa Phúc thẩm quan ngại.

Nhiều nhóm ủng hộ tự do ngôn luận và tự do báo chí đã đệ trình các bản trình bày ủng hộ ông Hansen. Các nhóm này lập luận rằng luật đe dọa luật sư, bác sĩ, học giả và bất kỳ ai khác lên tiếng ủng hộ di trú.

(Nguồn: VOA)

Ý định siết đầu tư vào Trung Quốc của Mỹ

Viện dẫn an ninh quốc gia, chính phủ Mỹ cân nhắc thắt chặt quy định về vốn ra nước ngoài nhưng khả năng thực thi sẽ nhiều thách thức.

Những tháng gần đây, cuộc tranh luận về chủ đề siết quy định rót vốn đầu tư vào Trung Quốc trở nên sôi nổi tại chính trường Mỹ. Tháng 3, hai bộ Tài chính và Thương mại Mỹ đã đưa ra các dự thảo về kế hoạch này.

Đến tháng 4, Cố vấn an ninh quốc gia Jake Sullivan tiết lộ chính sách trong một bài diễn thuyết. Dự kiến, Tổng thống Biden ban hành sắc lệnh hành pháp liên quan. Các đồng minh của Mỹ cũng đang xem xét các hạn chế tương tự. Vào ngày 20/6, Ủy ban châu Âu đã công bố kế hoạch, nhưng chưa nêu chi tiết.

Nội dung cụ thể trong chính sách của Mỹ cũng chưa được công bố. Tuy nhiên, Economist dự đoán sắc lệnh hành pháp của ông Biden có khả năng tập trung vào kiểm soát đầu tư 3 loại công nghệ được xem là đóng vai trò "củng cố sức mạnh" quốc gia, gồm: chất bán dẫn tiên tiến, trí tuệ nhân tạo (AI) và điện toán lượng tử. Paul Rosen, Phụ trách giám sát an ninh đầu tư của Bộ Tài chính tiết lộ rằng các quy định sẽ tập trung vào "vốn đầu tư gắn với bí quyết và chuyên môn".

Các lĩnh vực cần kiểm soát đầu tư này không phải là ý tưởng hoàn toàn mới. Một số công ty có quan hệ với quân đội Trung Quốc bị hạn chế nhận đầu tư. Đạo luật chip của Mỹ cũng cấm các công ty nhận trợ cấp của chính phủ thực hiện các khoản đầu tư có thể mang lại lợi ích cho ngành công nghiệp bán dẫn của Trung Quốc.

Theo Economist, các quy định siết chặt có thể sẽ chỉ ảnh hưởng đến một phần nhỏ các khoản đầu tư của Mỹ vào các công ty Trung Quốc, với lũy kế đến cuối 2021 hơn 1.000 tỷ USD. Theo dữ liệu từ công ty nghiên cứu Rhodium Group, các công ty Mỹ đã thực hiện 120 tỷ USD đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Trung Quốc và 62 tỷ USD đầu tư vốn mạo hiểm (VC) trong thập kỷ qua.

Tuy nhiên, việc siết quy định cho các nhà đầu tư đi vẫn đi kèm với rủi ro. Một là đặt ra các quy tắc quá rộng có thể hạn chế dòng vốn và tạo gánh nặng cho các nhà đầu tư mà không có lý do chính đáng. Hai là tìm ra những khoản đầu tư nào có khả năng bị rò rỉ bí quyết công nghệ là không dễ.

Một gã khổng lồ công nghệ muốn mở rộng các nỗ lực đầu tư lĩnh vực máy tính tiên tiến ở Trung Quốc có thể dễ dàng xác định vi phạm quy định. Tuy nhiên, hoạt động rót vốn của các quỹ đầu tư sẽ phức tạp hơn. Ví dụ một quỹ có thể mua lại công ty nhưng không mang lại lợi thế hoạt động nào. Trong khi, một khoản đầu tư vốn mạo hiểm nhỏ có thể đi kèm với chuyên môn kỹ thuật đáng được bảo vệ.

Theo Trung tâm An ninh và Công nghệ mới nổi - đơn vị nghiên cứu chính sách tại Wasington, trong giai đoạn 2015-2021, vốn của các nhà đầu tư Mỹ - bao gồm các quỹ đầu tư mạo hiểm của Intel và Qualcomm - chiếm 37% trong số 110 tỷ USD mà các công ty AI của Trung Quốc huy động được.

Khao khát lợi nhuận của các quỹ hưu trí Mỹ đã khiến họ được hưởng lợi từ những khoản đầu tư như vậy. Đơn cử, GGV Capital là một trong những nhà đầu tư tích cực nhất của Mỹ vào các công ty AI của Trung Quốc, theo dữ liệu từ PitchBook. GGV Capital cũng đã nhận được khoảng 2 tỷ USD từ 6 quỹ khác với tổng tài sản 600 tỷ USD trong thập kỷ qua.

Rủi ro an ninh quốc gia mà Mỹ đặt ra do các khoản đầu tư như vậy là một câu hỏi mở. Liệu các nhà đầu tư nội địa Trung Quốc có thể thế chỗ để tài trợ vốn nếu các nhà đầu tư Mỹ bị hạn chế hay không?

Một số ý kiến cho rằng chính quyền Biden nên đưa ra câu trả lời chắc chắn hơn trước khi yêu cầu các nhà quản lý tài sản và quỹ hưu trí - vốn thường tiếp xúc với hàng trăm quỹ đầu tư toàn cầu - tra soát dấu vết của các công ty công nghệ Trung Quốc trong danh mục đầu tư của họ.

Một mối nguy hiểm khác là khả năng xảy ra nhập nhằng, khó kiểm soát. Dưới thời ông Biden, chính sách kinh tế và an ninh quốc gia ngày càng trở nên không thể phân biệt được, theo Economist.

Năm ngoái, tổng thống đã chỉ đạo Ủy ban Đầu tư nước ngoài vào Mỹ (CFIUS) - cơ quan giám sát đầu tư vào nước Mỹ, nhận nhiệm vụ xem xét các yếu tố rộng lớn hơn bao gồm khả năng phục hồi của chuỗi cung ứng.

Với đầu tư ra nước ngoài, việc đánh giá kỹ lưỡng thương vụ trên cơ sở các tiêu chuẩn chung về lợi ích quốc gia có thể khó thực thi. Chính những lo ngại về bộ máy hành chính quan liêu đã khiến một số người đề xuất kiểm soát bằng các chính sách trừng phạt hiện có.

Một vấn đề khác là dù chính sách ban đầu của ông Biden về đầu tư ra nước ngoài được cho là sẽ hạn chế các thương vụ đe dọa đến an ninh quốc gia, nhưng không thiếu những chính trị gia "diều hâu" bên ngoài Nhà Trắng tận dụng nó như một công cụ can thiệp cho chính sách công nghiệp rộng lớn hơn.

Vào năm 2021, một nhóm nghị sĩ lưỡng đảng đã đưa ra dự luật sàng lọc đầu tư ra nước ngoài đủ rộng để ảnh hưởng đến hơn 40% đầu tư của Mỹ vào Trung Quốc, theo Rhodium Group. Tháng trước, một phiên bản cập nhật đã được công bố. Nó sẽ thiết lập các hạn chế đối với đầu tư không chỉ vào công nghệ tiên tiến mà còn trong các ngành công nghiệp bao gồm sản xuất ôtô và dược phẩm, đồng thời trao cho Nhà Trắng quyền mở rộng danh sách.

Sự gia tăng các hạn chế thương mại không chỉ dừng lại ở Mỹ. Hội nghị G7 tháng 5 đã có một cam kết về vấn đề này. Tác động đối với đầu tư của phương Tây vào Trung Quốc sẽ phụ thuộc vào phạm vi hạn chế cuối cùng được thống nhất.

Dù vẫn là những dự kiến, thực tế đầu tư của Mỹ đã giảm. Dòng vốn đầu tư mạo hiểm sang Trung Quốc đã lao dốc hơn 80% kể từ mức đỉnh vào năm 2018. Một trong những lý do là môi trường kinh doanh ở Trung Quốc xấu đi.

Tháng này Sequoia - một công ty đầu tư mạo hiểm lớn của Mỹ, thông báo sẽ tách hoạt động kinh doanh tại Trung Quốc vào 2024. Do đó, các nhà hoạch định chính sách diều hâu hiện tạm an tâm rằng dòng vốn đã thu hẹp mà họ chưa cần ra tay.

(Nguồn: Vnexpress)

'Giải mã' thông điệp từ quốc yến Mỹ

Tiệc chiêu đãi cấp nhà nước của các Tổng thống Mỹ dành cho lãnh đạo nước ngoài cho thấy những cân nhắc chính trị và ưu tiên trong chính sách đối ngoại của Washington.

Tổng thống Joe Biden và đệ nhất phu nhân Jill Biden đã mời Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi dự tiệc chiêu đãi cấp quốc gia vào ngày 22-6 tại Nhà Trắng, theo đài CNN.

Những bữa tiệc chiêu đãi của chính quyền Washington dành cho lãnh đạo các nước không chỉ là một bữa ăn tối đơn thuần mà còn cho thấy nhiều thông điệp.

Nhà sử học cao cấp của Hiệp hội Lịch sử Nhà Trắng Matthew Costello cho rằng: “Đây không chỉ là những bữa tối. Còn rất nhiều thứ liên quan những bữa tiệc này, về mặt lập kế hoạch, về lời mời và rất nhiều điều về địa chính trị, chính sách đối ngoại”, theo tờ The New York Times.

Chẳng hạn, quốc yến lần đầu tiên do Tổng thống Ulysses S. Grant, nhiệm kỳ từ năm 1869 đến 1877, dành cho Vua David Kalakaua của Hawaii nhằm tạo quan hệ gần gũi, tăng cường thương mại.

Tổng thống Dwight Eisenhower mời Bí thư Thứ nhất Đảng Cộng sản Liên Xô Nikita Khrushchev tới Nhà Trắng vào năm 1959 trong bối cảnh ông Eisenhower đang tập trung vào việc làm dịu căng thẳng Mỹ - Xô trong Chiến tranh Lạnh sau sự kiện Liên Xô phóng thành công vệ tinh nhân tạo Sputnik.

Không chỉ vậy, qua các bữa tiệc tối cũng có thể thấy được những khu vực mà Mỹ đang ưu tiên.

Một nghiên cứu của Trung tâm Phát triển Toàn cầu - có trụ sở tại Washington D.C. và London, đã theo dõi các chuyến thăm cấp nhà nước tới Mỹ trong 40 năm, từ chính quyền Tổng thống Jimmy Carter đến chính quyền Tổng thống Barack Obama.

Nghiên cứu này cho thấy các quốc gia châu Âu và Mỹ Latin nhận được nhiều lời mời ăn của Tổng thống nhất, trong khi các quốc gia châu Phi cận Sahara và Đông Nam Á nhận được ít lời mời nhất.

Trong số 160 bữa tối, chỉ có 15 bữa tiệc chiêu đãi khách ở châu Phi cận Sahara, theo nghiên cứu.

Nhà sử học về Tổng thống Douglas Brinkley cho rằng có thể những nhà lãnh đạo nước ngoài không được mời dự chiêu đãi cấp nhà nước sẽ cảm thấy chạnh lòng. Mỹ dường như ưu tiên những bữa tiệc này cho những cường quốc, đồng minh, như lần này là Ấn Độ.

Lời mời của ông Biden dành cho ông Modi không phải là không gây tranh cãi vì hai bên có những bất đồng về mặt chính trị. Tuy nhiên, Nhà Trắng coi Ấn Độ là nguồn lực tiềm năng cho “liên minh” chống lại chiến dịch quân sự đặc biệt của Nga và cũng là một nhân tố quan trọng trong cuộc cạnh tranh với Trung Quốc.

Bữa tối cấp nhà nước đôi khi có thể là một giải pháp để xoa dịu những mâu thuẫn, trục trặc giữa các đồng minh, theo The New York Times.

Ông Biden đã tiếp đón Tổng thống Pháp Emmanuel Macron trong chuyến thăm cấp nhà nước đầu tiên tới Mỹ, hơn 1 năm sau khi Mỹ và Pháp mâu thuẫn về thỏa thuận cung cấp tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân cho Úc của Mỹ.

Ông Biden cũng đã mời Thủ tướng Úc Anthony Albanese thăm cấp nhà nước sau khi ông Biden hủy chuyến công du tới Úc vào hồi tháng 5 vì vướng các cuộc đàm phán về trần nợ với các thành viên đảng Cộng hòa trong quốc hội.

Ông Costello nói: “Đã nhiều lần chúng tôi thấy các tổng thống sử dụng các chuyến thăm này để không chỉ để trao đổi những mối quan tâm trước mắt mà còn để thảo luận về các giải pháp ngắn hạn và dài hạn”.

Danh sách khách được mời ăn tối đa dạng, từ chính khách đến doanh nghiệp.

Ví dụ, một thư ký làm việc cho cựu Tổng thống Obama lúc ông còn tại vị từ năm 2010 đến năm 2011 cho biết bà đã phụ trách mời các lãnh đạo đa số và thiểu số của Thượng viện, lần lượt là ông Harry Reid và Mitch McConnell, đến dự bữa tối cấp nhà nước để giảm căng thẳng.

Các thống đốc và thị trưởng đã bày tỏ sự ủng hộ hoặc vận động cho tổng thống đương nhiệm, cũng như các nhà tài trợ chính cho các chiến dịch tranh cử tổng thống có thể nhận được lời mời, đặc biệt nếu họ có mối quan hệ kinh doanh với quốc gia có lãnh đạo đến thăm.

Thông thường khi được mời, câu trả lời của khách sẽ là xác nhận tham dự, rất hiếm có trường hợp từ chối lời mời đặc biệt này.

Thực đơn quốc yến chiêu đãi Thủ tướng Modi

Theo Văn phòng của Đệ nhất phu nhân, bữa tối sẽ được tổ chức trong một không gian mở, có thể nhìn ra Nhà Trắng, Đài tưởng niệm Jefferson và Đài tưởng niệm Washington.

Ông Biden và ông Modi sẽ nâng ly chúc mừng với phông nền có hai loài chim quốc gia là đại bàng và công. Nhà Trắng cũng cho biết công cũng là nguồn cảm hứng cho phần lớn thiết kế, trang trí cho bữa quốc yến này.

Món ăn trong tiệc được chuẩn bị công phu, thuần chay vì ông Modi là người ăn chay. Theo đầu bếp phụ trách bữa tiệc, đó là những món ăn ngon nhất của Mỹ với các yếu tố và hương vị của Ấn Độ khiến thực khách của cả hai quốc gia trải nghiệm điều gì đó về văn hóa của nhau.

Thực khách sẽ dùng bữa với món đầu tiên gồm hạt kê ướp và ngô nướng với dưa hấu và sốt bơ thơm. Món chính sẽ là nấm portobello nhồi với cơm risotto ngâm nghệ tây. Món tráng miệng sẽ là một chiếc bánh dâu tây tẩm hoa hồng và bạch đậu khấu.

(Nguồn: Giáo Dục Thủ Đô)

Xem thêm:
Về trang trước

Chủ đề:

Bình luận và đánh giá
Gửi nhận xét đánh giá

Đọc nhiều nhất

Việt Nam: Ngọc nữ lọt top mỹ nhân đẹp nhất thế giới; Đường dây rửa tiền xuyên quốc gia; Quy hoạch công viên Thủ Lệ; Thánh đường 5.000 người trước ngày khánh thành

Việt Nam: Đề nghị kỷ luật Sử Ngọc Anh; Cáp treo mới 16.234 tỷ; Thiên đường nghỉ dưỡng; Cựu Phó TGĐ Ngân hàng VNCB trốn truy nã; Đấu giá biệt thự Chủ tịch AIC

Người Việt hải ngoại: Thiên Ân dự đám cưới Kỳ Duyên; Con gái NSND Trần Hiếu sinh con ở Mỹ; Nàng Hậu được ĐH Anh vinh danh; Trại sách cộng đồng ở Nhật; Gắn kết cộng đồng ở châu Âu

Người Việt hải ngoại: Mỹ nhân mở tiệc 3 ngày 3 đêm ở Mỹ; Du học sinh tốt nghiệp ở Bắc Kinh, về quê làm khu công nghiệp; Đại hội Phụ nữ vùng Kansai, Nhật Bản

Việt Nam: Vùng biển hoang sơ thành thiên đường du lịch; Chiến lược tích trữ vàng; Tân hoa hậu Miss Universe Vietnam bị phạt; Khởi tố lãnh đạo doanh nghiệp 3.600 tỷ

Người Việt hải ngoại: Dàn sao Kiều Nữ Và Đại Gia sau 18 năm; Nữ nghệ sĩ rời Mỹ về nước; Những ngày biểu tình ở Pháp; Luật Người lao động làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng

Người Việt hải ngoại: NSƯT biệt thự cả Việt Nam, Mỹ; 2 năm liền giành HCV Olympic Toán; Du học sinh quá hạn visa ở Hàn; V.League phát hiện báu vật; HIU mở cơ hội tại Đức, Nhật

Người Việt hải ngoại: Cộng đồng người nước ngoài lớn thứ hai tại Nhật; Bà chủ chuỗi nhà hàng ở Bỉ; Techcombank triển khai giải pháp nhận tiền quốc tế; Cùng chồng Đức bỏ phố về quê

Lên đầu trang