- Thời sự
- Thế giới
.jpg)
Tình thế khó xử mới của các lực lượng Nga là làm thế nào để bảo vệ một khu vực rộng lớn như Siberia với khả năng phòng không hạn chế tại đây.
UAV Ukraine vươn xa, Nga đối mặt thách thức mới
Ngày 6/7, một cuộc tấn công bằng máy bay không người lái (UAV) của Ukraine đã gây ra hỏa hoạn lớn tại nhà máy lọc dầu lớn nhất của Nga ở Omsk, Siberia. Vụ việc này đánh dấu sự mở rộng đáng kể về phạm vi tấn công của Kiev, khi Omsk nằm cách Ukraine khoảng 2.400km theo đường chim bay, vượt xa giới hạn 1.600km trước đây.
Các UAV được sử dụng trong chiến dịch này, do Fire Point sản xuất, có tầm hoạt động tối đa khoảng 3.400km. Điều này đặt ra yêu cầu Nga phải xem xét lại chiến lược phòng thủ cho các vùng lãnh thổ rộng lớn, bao gồm các trung tâm công nghiệp dầu khí ở Tây Siberia và hàng trăm cơ sở quân sự trọng yếu.
Hệ thống phòng không Nga được cho là đã bị dàn trải mỏng hơn do các cuộc tấn công liên tục của Kiev. Tất cả các nhà máy lọc dầu lớn ở khu vực châu Âu của Nga đều đã bị tấn công trong năm nay, gây thiệt hại và làm giảm sản lượng xăng dầu ước tính ít nhất 25%, dẫn đến tình trạng thiếu hụt cục bộ.
Phó Thủ tướng Nga Alexander Novak ngày 8/7 thông báo Nga sẽ cấm xuất khẩu dầu diesel và bắt đầu nhập khẩu nhiên liệu từ tháng 7 để giải quyết vấn đề nguồn cung trong nước.
James Henderson, nhà nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu Năng lượng Oxford, nhận định: "Việc tấn công Omsk có thể là giọt nước tràn ly. Điều này thực sự nghiêm trọng, nếu Ukraine càng tấn công sâu thì hệ thống năng lượng của Nga càng bị ảnh hưởng nghiêm trọng".
Phản ứng từ Moscow và chiến lược mới của Kiev
Tổng thống Nga Vladimir Putin, trong cuộc họp khẩn cấp ngày 8/7, đã giảm nhẹ tầm quan trọng của các cuộc tấn công, cho rằng đây chủ yếu là chiến dịch tâm lý nhằm gây lo lắng trong xã hội Nga. Ông Putin khẳng định khả năng phục hồi của hệ thống năng lượng Nga rất cao và những khó khăn hiện tại chỉ là tạm thời. Ông cũng kêu gọi các công ty dầu khí lớn cung cấp nhiên liệu cho các trạm xăng độc lập thay vì tích trữ.
Chiến dịch "tấn công sâu" của Kiev nhằm vào các mục tiêu trên khắp nước Nga được kết hợp với chiến dịch "tấn công tầm trung" song song, tập trung vào các khu vực do Moscow kiểm soát ở miền Nam Ukraine và bán đảo Crimea, trong phạm vi từ 80-230km. Các UAV tuần tra các tuyến đường cao tốc chính, tấn công tàu chở nhiên liệu, hậu cần quân sự, cơ sở lưu trữ nhiên liệu và hạ tầng điện.
Trong những ngày gần đây, Ukraine đã tấn công hàng chục tàu chở dầu nhỏ vận chuyển nhiên liệu đến Crimea ở Biển Azov và Biển Đen, gây mất điện kéo dài nhiều ngày tại bán đảo này.
Các mục tiêu mới nằm trong tầm với của Ukraine bao gồm nhà ga khí đốt tự nhiên hóa lỏng chính của Nga trên bán đảo Yamal ở Bắc Cực, các cơ sở sản xuất dầu khí chính ở Tây Siberia, các nút đường ống và trạm bơm, cũng như một số bộ phận nhạy cảm nhất của ngành công nghiệp quân sự Nga.
Ukraine đang phóng hàng trăm UAV tầm trung và tầm xa mỗi ngày. Các nhà kinh tế nhận định, trong bối cảnh có nhiều mục tiêu mới, các nhà máy lọc dầu vẫn là điểm yếu chí mạng của Nga.
Mục tiêu chiến lược của chiến dịch không kích của Ukraine là buộc Nga phải đồng ý ngừng bắn dọc theo các chiến tuyến hiện tại.
Sau cuộc gặp với Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky tại hội nghị thượng đỉnh NATO ở Thổ Nhĩ Kỳ ngày 8/7, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã ủng hộ các cuộc tấn công tầm xa của Kiev nhằm vào Nga, cho rằng "đây là một sự leo thang, nhưng đó cũng là một sự leo thang có thể giúp dẫn đến kết thúc cuộc chiến".
Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có dấu hiệu nào cho thấy cách tiếp cận này có hiệu quả. Phía Nga đã đáp trả các cuộc tấn công của Ukraine vào các nhà máy lọc dầu bằng cách liên tục tập kích tên lửa đạn đạo vào thủ đô Kiev, trong bối cảnh Ukraine được cho là đang cạn kiệt tên lửa đánh chặn Patriot.
Quyền kiểm soát eo biển Hormuz đã trở thành 'vũ khí vàng' đối với Iran, khiến nước này coi trọng hơn cả chương trình hạt nhân mà họ phải chịu hàng chục năm trừng phạt.
Sau nhiều năm tránh phong tỏa eo biển Hormuz, các nhà lãnh đạo Iran nay coi tuyến đường thủy hẹp này là quân bài mạnh nhất trong các vấn đề mâu thuẫn với phương Tây, đồng thời tin rằng chính lợi thế này đã buộc Washington phải chấm dứt cuộc chiến.
“Hãy công nhận trật tự mới của Iran tại eo biển Hormuz. Đó là con đường duy nhất để tiến lên phía trước”, ông Ebrahim Azizi - thành viên Ủy ban An ninh quốc gia và chính sách đối ngoại của Quốc hội Iran, viết trong bài đăng trên mạng xã hội để gửi thông điệp tới Mỹ.
Theo nguồn tin, từng có những cuộc thảo luận về việc liệu Iran có đang “đi quá xa” hay không, nhưng quan điểm chủ đạo trong giới lãnh đạo ở Tehran là không quốc gia tỉnh táo nào lại từ bỏ đòn bẩy chiến lược quan trọng như vậy.
“Nếu nói đến Hormuz - ‘vũ khí vàng’ của Iran, giờ đây họ muốn tước nó khỏi Iran, và điều đó hoàn toàn không thể xảy ra”, nguồn tin nói thêm.
Mặc dù thỏa thuận tạm thời mà Tổng thống Mỹ Donald Trump ký tháng trước đã mở lại eo biển cho hoạt động hàng hải, nhưng nội dung văn bản vẫn để ngỏ số phận của tuyến đường này trong dài hạn.
Bản ghi nhớ nêu rằng Iran “sẽ thu xếp bằng mọi nỗ lực để bảo đảm các tàu thương mại được đi lại an toàn mà không thu bất kỳ khoản phí nào trong thời hạn 60 ngày”.
Các nhà đàm phán Iran cho rằng câu này đồng nghĩa với việc Mỹ đã thừa nhận quyền của Cộng hòa Hồi giáo trong việc quản lý eo biển Hormuz, dù Tehran không được thu phí hay lệ phí trong 2 tháng đầu.
Mỹ và các quốc gia vùng Vịnh bác bỏ cách diễn giải này. Họ cho rằng điều khoản trên chỉ yêu cầu Iran tạo điều kiện cho tàu thuyền lưu thông an toàn, chứ không trao cho Tehran quyền áp đặt hạn chế bằng vũ lực.
Một trong những nguyên nhân khiến Iran giữ lập trường cứng rắn là mất lòng tin với Mỹ, nhất là từ khi ông Trump rút khỏi thỏa thuận hạt nhân năm 2018, triển khai chiến dịch tấn công Iran, kể cả khi 2 bên vẫn đang đàm phán.
Một nguồn tin cấp cao cho biết nếu Iran nhượng bộ về Hormuz, ông Trump sẽ chỉ càng tăng yêu sách ở những lĩnh vực khác, bao gồm chương trình hạt nhân và kho tên lửa thông thường của Iran.
“Nếu làm vậy thì chẳng khác nào đầu hàng, và điều đó là không thể”, nguồn tin nói.
Không còn gì để mất
Trong nhiều năm qua, Iran nhiều lần cảnh báo có thể đóng cửa eo biển Hormuz, thậm chí tuyên bố việc này “dễ như uống cốc nước”. Tuy nhiên, các quan chức cấp cao cũng thừa nhận trong các cuộc trao đổi kín rằng họ không muốn sử dụng biện pháp này và chỉ coi đó là lựa chọn cuối cùng.
Tuy nhiên, khi Mỹ và Israel phát động cuộc tấn công ngày 28/2, Tehran cho rằng họ không còn gì để mất. Iran sau đó đóng cửa eo biển Hormuz, gây ra sự gián đoạn lớn nhất trong lịch sử đối với nguồn cung năng lượng toàn cầu.
Sau thời gian cân nhắc tác động đến giá dầu, Washington tiếp tục áp đặt lệnh phong tỏa các cảng biển của Iran vào tháng 4.
Cuối cùng, tổn thất kinh tế do việc phong tỏa Hormuz gây ra trở nên quá lớn, buộc 2 bên phải chấp nhận thỏa thuận. Tuy nhiên, sau khi một lần buộc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán nhờ đóng eo biển, Iran hiện tin rằng họ cần chính thức hóa khả năng kiểm soát đó.
“Cả hai bên đều lo ngại về những khó khăn kinh tế trước mắt mà họ phải đối mặt. Nhưng cả hai cũng đều tin rằng mình đã chiến thắng. Vì vậy, họ đều cho rằng chỉ cần tiến thêm một bước nữa là có thể đạt được điều mình muốn”, ông Ali Ansari, giáo sư lịch sử hiện đại tại Đại học St Andrews (Scotland), nhận định.
Hiện nay, Iran tập trung nhiều hơn vào vấn đề Hormuz hơn chương trình hạt nhân. Tehran cũng tin rằng Washington đã chấp nhận quyền làm giàu uranium của Iran cũng như việc pha loãng lượng uranium làm giàu ở mức cao ngay trong nước.
Trong gần 25 năm qua, chương trình hạt nhân là nguồn cơn mâu thuẫn lớn nhất giữa Iran và Mỹ, dẫn đến các lệnh trừng phạt quốc tế nghiêm khắc nhằm vào Tehran và cũng là lý do chính thức mà ông Trump viện dẫn để phát động cuộc chiến.
Tuy nhiên, trong thỏa thuận tạm thời, các cuộc đàm phán về chương trình hạt nhân Iran đã bị lùi sang giai đoạn tiếp theo.
Theo 2 nguồn tin cấp cao Iran, Tehran từ chối bắt đầu đàm phán về vấn đề hạt nhân cho đến khi Mỹ chấp nhận quyền quản lý hoàn toàn của Iran đối với eo biển Hormuz.
Các cuộc tấn công của Mỹ vào Iran lúc sáng sớm nay đã nhắm vào cầu đường sắt Agh Tappeh Khan ở tỉnh Golestan phía bắc Iran. Đây là tuyến đường thương mại nối Iran với Nga và Trung Quốc.
Hãng thông tấn bán chính thức FARS cho biết, tuyến đường sắt trên, đi qua cả Turkmenistan và Kazakhstan, là một hành lang vận tải đường bộ quan trọng kết nối Iran với Trung Quốc. Tuyến đường càng trở nên có ý nghĩa hơn trong năm nay, khi các cảng của Iran ở Vùng Vịnh bị Mỹ phong tỏa. Kể từ cuối năm 2025, Nga cũng đã sử dụng tuyến đường này để vận chuyển hàng hóa tới Iran.
Thông tin về vụ tấn công được đưa ra khi Iran đình chỉ dịch vụ đường sắt giữa Tehran và thành phố Mashhad ở đông bắc nước này. Người dân địa phương cho biết một đoạn đường sắt đã bị Mỹ và Israel tập kích.
Công ty Đường sắt Quốc gia Iran thông báo các đội sửa chữa đã được điều tới hiện trường và hành khách mắc kẹt sẽ được vận chuyển bằng đường bộ tới Mashhad.
Văn phòng Quan hệ Công chúng của Quân đoàn Neynava thuộc Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran (IRGC) tại tỉnh Golestan cho hay, vụ tấn công không gây thương vong đồng thời kêu gọi công chúng giữ bình tĩnh và bỏ qua các tin đồn.
Bộ Tư lệnh Trung tâm Mỹ (CENTCOM) xác nhận lực lượng nước này đã tiến hành thêm các cuộc không kích nhằm vào Iran để tiếp tục làm suy giảm năng lực của Tehran trong việc đe dọa tự do hàng hải tại eo biển Hormuz.
Ngày 17/6, Iran và Mỹ đã đạt được một thỏa thuận khung do Pakistan làm trung gian nhằm chấm dứt xung đột quân sự và mở đường cho một hiệp định hòa bình lâu dài. Tuy nhiên, đến ngày 9/7, Tổng thống Mỹ Donald Trump tuyên bố thỏa thuận này "đã kết thúc", mở ra một vòng đối đầu quân sự mới giữa hai bên.
Thay vì phụ thuộc điều hòa, nhiều thành phố châu Âu phát triển hệ thống làm mát tập trung tận dụng sông, biển để làm mát đô thị.
Nhiều năm qua, điều hòa nhiệt độ được xem là giải pháp hiệu quả để giảm thiểu số ca tử vong do nắng nóng . Tuy nhiên, Liên minh châu Âu (EU) cho rằng đây không phải lời giải lâu dài.
Theo Ủy ban châu Âu, điều hòa tiêu thụ lượng điện rất lớn, tạo áp lực lên hệ thống lưới điện vốn căng thẳng trong mùa hè, đồng thời làm gia tăng phát thải khí nhà kính.
Hơi nóng xả ra từ các thiết bị này cũng góp phần tạo nên hiện tượng “đảo nhiệt đô thị”, khi nhiệt bị giữ lại trong bê tông, nhựa đường và các công trình xây dựng, khiến thành phố nóng hơn về đêm.
Thay vì để mỗi tòa nhà tự làm mát, nhiều đô thị châu Âu đang đầu tư vào hệ thống làm mát tập trung (district cooling). Mô hình này sử dụng một nhà máy trung tâm để sản xuất nước lạnh, sau đó phân phối đến các công trình thông qua mạng lưới đường ống ngầm.
Ủy ban châu Âu cho biết hệ thống này tiêu thụ ít năng lượng hơn điều hòa riêng lẻ và có thể tận dụng các nguồn năng lượng carbon thấp như nước biển, nước sông, địa nhiệt hoặc nhiệt thải.
Theo Chỉ thị Hiệu quả Năng lượng (EED), các thành phố có trên 45.000 dân hiện phải xây dựng kế hoạch sưởi ấm và làm mát địa phương. Nhờ đó, hạ tầng làm mát tập trung tại châu Âu đã tiếp tục mở rộng trong những năm gần đây.
Làm mát bằng nước biển
Tại thành phố Marseille của Pháp, nước Địa Trung Hải được sử dụng như một nguồn năng lượng tự nhiên để vừa sưởi ấm vào mùa đông, vừa làm mát vào mùa hè.
Hai mạng lưới Massileo và Thassalia với tổng chiều dài khoảng 4,4 km dẫn nước biển tới các máy bơm nhiệt, sau đó cung cấp nhiệt, không khí mát và nước nóng cho nhiều khu dân cư.
Theo số liệu từ dự án, hệ thống này giúp giảm khoảng 80% lượng khí CO₂ phát sinh trong quá trình sản xuất năng lượng so với sử dụng nhiên liệu hóa thạch.
Không dừng lại ở đó, Marseille còn nghiên cứu tận dụng lượng nhiệt thải từ các trung tâm dữ liệu AI để sưởi ấm nhà ở và các tòa nhà trong mùa đông, thay vì để nguồn nhiệt này thất thoát ra môi trường.
Dùng nước sông làm điều hòa cho cả thành phố
Tại Paris, mạng lưới Fraîcheur de Paris hiện là một trong những hệ thống làm mát tập trung lớn nhất châu Âu.
Khoảng 120 km đường ống ngầm đưa nước lạnh từ sông Seine đến gần 850 công trình, trong đó có cả Bảo tàng Louvre.
Thay vì lắp điều hòa riêng, các tòa nhà sử dụng bộ trao đổi nhiệt để truyền nhiệt từ bên trong sang dòng nước lạnh của mạng lưới. Sau khi hấp thụ nhiệt, nước được đưa trở lại nhà máy để làm lạnh và tiếp tục chu trình.
Theo EU, hệ thống này giúp giảm 35% điện năng tiêu thụ, cắt giảm 90% lượng môi chất lạnh phát thải, giảm 80% lượng hóa chất sử dụng và giảm khoảng 50% lượng khí CO₂.
Biến thư viện thành nơi tránh nóng
Không chỉ đầu tư vào hạ tầng ngầm, nhiều thành phố cũng tận dụng các công trình công cộng để giúp người dân vượt qua những ngày nhiệt độ cực đoan.
Barcelona hiện sở hữu một trong những mạng lưới “trú ẩn khí hậu” lớn nhất thế giới. Trong các đợt nắng nóng, thư viện, bảo tàng và nhiều tòa nhà công cộng mở cửa miễn phí, cung cấp nước uống và không gian làm mát cho người dân, đặc biệt là người cao tuổi và các nhóm dễ bị tổn thương.
Dưới lòng đất, thành phố cũng vận hành một trong những hệ thống phân phối năng lượng nhiệt lớn nhất Nam Âu.
Mạng lưới gồm bốn đường ống vận chuyển nước nóng và nước lạnh từ ba nhà máy năng lượng - trong đó có một nhà máy sử dụng nước biển để làm mát - tới 192 tòa nhà.
Theo đơn vị vận hành Districlima, hệ thống này giúp giảm khoảng 96% mức tiêu thụ năng lượng từ nhiên liệu hóa thạch.
Vòng tuần hoàn năng lượng ở Áo
Ở Vienna (Áo), trung tâm làm mát tập trung tại khuôn viên Đại học Y MedUni hoạt động theo nguyên lý thu hồi nhiệt dư từ các tòa nhà trong mùa hè.
Lượng nhiệt này được lưu giữ thông qua hệ thống bơm nhiệt và tái sử dụng để sưởi ấm vào mùa đông, tạo thành một vòng tuần hoàn năng lượng khép kín.
Theo đơn vị vận hành Wien Energie, trung tâm này giúp giảm khoảng 1.000 tấn CO₂ mỗi năm so với các hệ thống điều hòa truyền thống.
Công ty cho biết sẽ tiếp tục mở rộng mạng lưới làm mát tập trung tại trung tâm Vienna và đầu tư khoảng 90 triệu euro cho dự án đến năm 2030.
Hội nghị Thượng đỉnh NATO tại Ankara (ngày 7-8/7) có thể trở thành một dấu mốc quan trọng trong tiến trình chuyển đổi của liên minh quân sự lớn nhất thế giới.
Không chỉ xoay quanh các cam kết tăng chi tiêu quốc phòng hay hỗ trợ Ukraine, hội nghị còn phản ánh sự thay đổi sâu sắc trong tư duy chiến lược và cơ chế vận hành của NATO.
Mỹ vẫn giữ vai trò hạt nhân chiến lược, nhưng châu Âu đang được yêu cầu đảm nhận nhiều hơn về năng lực quân sự, công nghiệp quốc phòng và trách nhiệm bảo đảm an ninh của chính mình. Những chuyển động này cho thấy mô hình mà nhiều học giả gọi là “NATO 3.0” đang từng bước định hình.
Từ “chiếc ô an ninh” của Mỹ đến mô hình chia sẻ gánh nặng
Khác với nhiều kỳ hội nghị trước, chương trình nghị sự tại Hội nghị thượng đỉnh Ankara không còn xoay quanh câu hỏi NATO có cần tồn tại hay Điều 5 của Hiệp ước Washington còn đủ sức răn đe hay không. Vấn đề trọng tâm hiện nay là liên minh phải vận hành như thế nào để thích ứng với môi trường an ninh đang thay đổi nhanh chóng. Nói cách khác, câu hỏi không còn là có cải tổ hay không, mà là cải tổ theo hướng nào để đối phó với cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc.
Hội nghị Ankara là điểm hội tụ của nhiều chuyển biến đã tích tụ trong những năm gần đây. Cuộc xung đột Nga - Ukraine làm thay đổi căn bản nhận thức của châu Âu về an ninh tập thể, buộc các nước thành viên nhìn nhận lại những giả định từng tồn tại suốt 3 thập niên sau Chiến tranh Lạnh. Trong khi đó, Mỹ ngày càng khẳng định các đồng minh châu Âu phải tự gánh vác phần lớn trách nhiệm bảo vệ lục địa để Washington có điều kiện tập trung nguồn lực cho khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, nơi cạnh tranh với Trung Quốc được xem là ưu tiên chiến lược dài hạn.
Sự giao thoa giữa hai xu hướng này đã tạo động lực thúc đẩy NATO bước vào giai đoạn chuyển đổi sâu rộng nhất kể từ sau năm 1991. Nếu trước đây sức mạnh của liên minh chủ yếu được đánh giá qua số lượng binh sĩ Mỹ đồn trú tại châu Âu hay quy mô lực lượng phản ứng nhanh, thì hiện nay các tiêu chí quan trọng hơn lại là năng lực sản xuất đạn dược, tên lửa và hệ thống phòng không; khả năng mở rộng công nghiệp quốc phòng; tốc độ huy động nền kinh tế thời chiến; cũng như mức chi tiêu quốc phòng của từng quốc gia thành viên.
Đó không chỉ là sự điều chỉnh về ngân sách mà còn phản ánh thay đổi căn bản trong tư duy chiến lược. Các chuyên gia phương Tây cho rằng NATO đang dịch chuyển từ mô hình “quản lý khủng hoảng” sang mô hình “chuẩn bị cho cạnh tranh cường quốc lâu dài”. Trong bối cảnh đó, khả năng duy trì sức mạnh quân sự và công nghiệp trong nhiều năm được coi là quan trọng không kém, thậm chí quan trọng hơn ưu thế trên chiến trường trong ngắn hạn.
Từ thực tế ấy, khái niệm “NATO 3.0” ngày càng được giới nghiên cứu sử dụng để mô tả giai đoạn phát triển mới của liên minh. Đây không phải một NATO hoàn toàn mới, cũng không phải sự thay đổi bản chất của Hiệp ước Washington, mà là quá trình tái phân chia vai trò giữa hai bờ Đại Tây Dương.
Theo mô hình này, Mỹ vẫn duy trì ưu thế về răn đe hạt nhân, chỉ huy chiến lược, tình báo, không gian và các năng lực tác chiến công nghệ cao. Trong khi đó, châu Âu phải đầu tư nhiều hơn vào lực lượng thông thường, công nghiệp quốc phòng, dự trữ đạn dược, hậu cần và khả năng phòng thủ tiền phương. Nói cách khác, Mỹ vẫn giữ vai trò xương sống chiến lược, còn châu Âu phải trở thành trụ cột quân sự đủ năng lực để chia sẻ gánh nặng trong cấu trúc an ninh xuyên Đại Tây Dương.
Nếu Hội nghị Madrid năm 2022 được xem là điểm khởi đầu cho quá trình “thức tỉnh chiến lược” sau khi xung đột Nga - Ukraine bùng phát, thì Hội nghị Ankara 2026 có thể là thời điểm quá trình chuyển đổi ấy được định hình rõ nét hơn bằng các quyết sách cụ thể. Liên minh đang chuyển từ mô hình chủ yếu ứng phó khủng hoảng và triển khai các chiến dịch ngoài khu vực sang một cấu trúc được thiết kế để duy trì năng lực răn đe lâu dài trước các đối thủ ngang tầm.
Vì vậy, Ankara có thể không phải nơi khai sinh NATO 3.0, nhưng nhiều khả năng sẽ được ghi nhớ như cột mốc đánh dấu sự hình thành rõ ràng của mô hình này. Đó là một NATO đặt trọng tâm vào chia sẻ trách nhiệm, tăng cường sức mạnh công nghiệp quốc phòng và xây dựng khả năng răn đe bền vững, nhằm duy trì ưu thế chiến lược trong môi trường cạnh tranh giữa các cường quốc ngày càng quyết liệt.
Mô hình NATO 3.0 dần hình thành
Nếu giai đoạn sau Chiến tranh Lạnh (1991) chứng kiến NATO mở rộng không gian hoạt động từ châu Âu sang nhiều khu vực khác như Balkan, Afghanistan hay Libya, thì những quyết sách được thảo luận tại Ankara cho thấy liên minh đang quay trở lại ưu tiên cốt lõi: bảo đảm phòng thủ tập thể trước nguy cơ cạnh tranh giữa các cường quốc. Khác biệt nằm ở chỗ NATO không chỉ chuẩn bị cho một cuộc xung đột ngắn hạn mà còn hướng tới xây dựng năng lực răn đe và duy trì sức mạnh trong một cuộc cạnh tranh chiến lược kéo dài.
Sau hơn 3 thập niên kể từ khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, nhiều quốc gia châu Âu từng tin rằng nguy cơ xảy ra một cuộc chiến quy mô lớn trên lục địa đã lùi vào quá khứ. Tuy nhiên, cuộc xung đột Nga - Ukraine đã đảo ngược nhận thức đó. Thực tế chiến trường cho thấy một cuộc chiến tiêu hao cường độ cao có thể nhanh chóng làm cạn kiệt kho dự trữ đạn dược, tên lửa và khí tài hiện đại nếu không có nền công nghiệp quốc phòng đủ năng lực bổ sung.
Vì vậy, chương trình nghị sự tại Ankara phản ánh sự thay đổi rõ rệt về ưu tiên chiến lược. Những chủ đề từng chiếm vị trí trung tâm như mở rộng thành viên hay các chiến dịch viễn chinh dần nhường chỗ cho các vấn đề nền tảng hơn: nâng mức chi tiêu quốc phòng; mở rộng năng lực sản xuất đạn dược, tên lửa và hệ thống phòng không; củng cố chuỗi cung ứng quốc phòng; tăng khả năng cơ động quân sự trên toàn châu Âu; xây dựng lực lượng có thể triển khai nhanh và duy trì tác chiến trong thời gian dài.
Đó là hệ quả trực tiếp từ bài học Ukraine. Trong chiến tranh hiện đại, ưu thế không chỉ phụ thuộc vào chất lượng vũ khí hay trình độ công nghệ, mà còn được quyết định bởi khả năng sản xuất, sửa chữa và bổ sung trang bị với quy mô lớn. Vì vậy, công nghiệp quốc phòng lần đầu tiên sau nhiều thập niên được đưa trở lại vị trí trung tâm trong chiến lược răn đe của NATO.
Song song với quá trình đó là sự điều chỉnh vai trò giữa Mỹ và châu Âu. Mỹ vẫn giữ những năng lực mà chưa đồng minh nào có thể thay thế hoàn toàn, từ răn đe hạt nhân, chỉ huy - kiểm soát, tình báo chiến lược, tác chiến không gian, an ninh mạng đến khả năng triển khai lực lượng quy mô lớn. Đây tiếp tục là nền tảng bảo đảm sức mạnh tổng thể của NATO.
Tuy nhiên, Mỹ không còn muốn một mình đảm nhận phần lớn trách nhiệm quân sự tại châu Âu. Trong bối cảnh phải đồng thời duy trì răn đe Nga ở Đại Tây Dương và cạnh tranh với Trung Quốc tại Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, Mỹ ngày càng yêu cầu các đồng minh tăng cường năng lực tự phòng vệ. Đây không phải là dấu hiệu Mỹ rút khỏi NATO, mà là sự điều chỉnh nhằm phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn trước sức ép của môi trường an ninh mới.
Ở chiều ngược lại, châu Âu cũng đang có những thay đổi đáng kể. Đức đẩy mạnh chương trình hiện đại hóa quân đội với quy mô lớn nhất trong nhiều thập niên. Ba Lan tiếp tục tăng mạnh chi tiêu quốc phòng và hướng tới xây dựng lực lượng lục quân hàng đầu châu Âu. Các nước Bắc Âu và vùng Baltic mở rộng lực lượng dự bị, nâng cấp hạ tầng quân sự và tăng khả năng tiếp nhận quân tiếp viện từ đồng minh. Việc Phần Lan và Thụy Điển gia nhập NATO cũng giúp liên minh hình thành một không gian phòng thủ thống nhất hơn tại khu vực Bắc Âu - Baltic, tạo điều kiện kiểm soát hiệu quả hơn Biển Baltic và sườn Đông Bắc châu Âu.
Những chuyển động này cho thấy châu Âu đang từng bước từ bỏ vị thế chỉ dựa vào “chiếc ô an ninh” của Mỹ để trở thành một chủ thể có trách nhiệm lớn hơn đối với an ninh của chính mình. Đó cũng là nền tảng quan trọng của mô hình NATO 3.0.
Dù vậy, quá trình chuyển đổi không diễn ra trong sự đồng thuận tuyệt đối. Một số ý kiến tại châu Âu lo ngại việc gia tăng nhanh chi tiêu quốc phòng sẽ tạo áp lực lên ngân sách và các chương trình phúc lợi xã hội. Trong khi đó, phía Nga cho rằng việc NATO mở rộng hiện diện quân sự ở sườn Đông và tăng cường đầu tư quốc phòng sẽ làm gia tăng nguy cơ đối đầu, kéo dài vòng xoáy mất lòng tin giữa hai bên.
Ngược lại, nhiều học giả phương Tây lập luận rằng chỉ khi sở hữu năng lực răn đe đủ mạnh, NATO mới có thể ngăn ngừa xung đột và duy trì ổn định lâu dài. Theo cách tiếp cận này, mục tiêu của liên minh không phải chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh với Nga, mà là xây dựng thế cân bằng sức mạnh đủ tin cậy để giảm nguy cơ tính toán sai lầm.
Từ những diễn biến tại Ankara có thể thấy, điều đang thay đổi không phải bản chất của NATO mà là cách thức tổ chức sức mạnh của liên minh. Nếu trước đây Mỹ là trụ cột gần như duy nhất bảo đảm an ninh châu Âu, thì mô hình mới hướng tới sự phân chia trách nhiệm cân bằng hơn. Mỹ tiếp tục giữ vai trò hạt nhân chiến lược, còn châu Âu phải xây dựng năng lực quân sự, công nghiệp quốc phòng đủ mạnh để trở thành trụ cột thứ hai của cấu trúc an ninh xuyên Đại Tây Dương. Chính sự chuyển dịch này là dấu hiệu rõ nhất cho thấy mô hình NATO 3.0 từng bước hình thành.
NATO 3.0: Cơ hội củng cố liên minh, nhưng cũng nhiều thách thức mới
Những quyết sách tại Hội nghị Thượng đỉnh Ankara cho thấy NATO đang bước vào giai đoạn chuyển đổi sâu rộng nhất kể từ sau Chiến tranh Lạnh. Tuy nhiên, việc định hình mô hình “NATO 3.0” không đồng nghĩa với việc quá trình chuyển đổi đã hoàn tất. Điều quyết định thành công của liên minh trong thập niên tới không nằm ở các tuyên bố chính trị, mà ở khả năng biến những cam kết thành năng lực quân sự và công nghiệp quốc phòng thực chất.
Thách thức đầu tiên là duy trì sự đồng thuận trong một liên minh gồm hơn 30 quốc gia với lợi ích và ưu tiên an ninh không hoàn toàn giống nhau. Xung đột Nga - Ukraine đã tạo nên mức độ thống nhất hiếm có, nhưng khi chiến sự kéo dài, áp lực ngân sách gia tăng và các cuộc bầu cử liên tiếp diễn ra ở nhiều nước thành viên, việc duy trì sự đồng thuận đó sẽ ngày càng khó khăn. Khác biệt trong cách tiếp cận đối với Nga, mức độ hỗ trợ Ukraine hay chia sẻ gánh nặng quốc phòng vẫn có thể trở thành những yếu tố tác động tới tính gắn kết của NATO.
Thách thức tiếp theo là năng lực công nghiệp quốc phòng. Sau nhiều năm cắt giảm đầu tư, phần lớn các nước EU đều phải khôi phục năng lực sản xuất trong bối cảnh thiếu lao động kỹ thuật cao, chuỗi cung ứng còn phân tán và phụ thuộc vào nhiều linh kiện chiến lược từ bên ngoài. Mặc dù hàng loạt chương trình mở rộng sản xuất đã được triển khai, khoảng cách giữa mục tiêu và năng lực thực tế còn khá lớn.
Bài học từ Ukraine cho thấy trong một cuộc chiến tiêu hao, tốc độ bổ sung vũ khí có ý nghĩa không kém chất lượng trang bị. Một nền công nghiệp quốc phòng hiện đại không chỉ phải sản xuất được các hệ thống vũ khí tiên tiến mà còn phải duy trì sản lượng lớn trong thời gian dài. Vì vậy, NATO 3.0 không đơn thuần hướng tới sở hữu nhiều vũ khí hiện đại hơn, mà hướng tới xây dựng một nền công nghiệp quốc phòng có khả năng chống chịu trước cạnh tranh chiến lược kéo dài.
Bên cạnh đó là bài toán cân bằng ưu tiên chiến lược của Mỹ. Trong khi Nga vẫn được coi là thách thức trực tiếp đối với an ninh châu Âu, Mỹ ngày càng xác định cạnh tranh với Trung Quốc là trọng tâm của chiến lược toàn cầu. Điều đó buộc Mỹ phân bổ nguồn lực cho hai khu vực cùng lúc. Chính sức ép này là một trong những động lực quan trọng khiến Washington yêu cầu các đồng minh EU đảm nhận nhiều trách nhiệm hơn, thay vì tiếp tục phụ thuộc vào sức mạnh quân sự của Mỹ như trước.
Ở góc nhìn của Nga, quá trình chuyển đổi của NATO lại được đánh giá theo hướng khác. Nga cho rằng việc liên minh mở rộng hiện diện quân sự ở sườn Đông, tăng đầu tư quốc phòng và củng cố cơ sở hạ tầng quân sự sẽ làm gia tăng cạnh tranh an ninh, kéo theo nguy cơ hiểu lầm chiến lược và tính toán sai lầm nếu thiếu các cơ chế đối thoại hiệu quả.
Trong khi đó, nhiều học giả phương Tây cho rằng tăng cường năng lực răn đe không đồng nghĩa với việc theo đuổi đối đầu quân sự. Theo họ, mục tiêu của NATO vẫn là duy trì thế cân bằng sức mạnh đủ tin cậy để ngăn ngừa xung đột, đồng thời duy trì các kênh đối thoại khi điều kiện cho phép. Đây cũng là cách tiếp cận mà liên minh nhiều lần khẳng định trong các văn kiện chiến lược gần đây: kết hợp giữa răn đe, phòng thủ và đối thoại, dù bối cảnh hiện nay yếu tố răn đe được đặt lên hàng đầu.
Nhìn tổng thể, những gì diễn ra tại Hội nghị thượng đỉnh tại Ankara cho thấy NATO đang bước sang một giai đoạn phát triển mới. Nếu NATO 1.0 được hình thành để đối trọng Liên Xô trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, NATO 2.0 thích ứng với môi trường an ninh hậu Chiến tranh Lạnh thông qua mở rộng thành viên và triển khai các chiến dịch ngoài khu vực, thì NATO 3.0 đang hướng tới một liên minh của răn đe cường quốc, tự cường công nghiệp quốc phòng và chia sẻ trách nhiệm chiến lược giữa Mỹ và châu Âu.
Dẫu vậy, còn quá sớm để khẳng định mô hình này đã hoàn thiện. Việc tăng chi quốc phòng, mở rộng sản xuất vũ khí hay tái bố trí lực lượng mới chỉ tạo nền tảng ban đầu. Hiệu quả của NATO 3.0 sẽ phụ thuộc vào khả năng các quốc gia thành viên duy trì quyết tâm chính trị, bảo đảm nguồn lực tài chính, nâng cao năng lực công nghiệp quốc phòng, thích ứng với những biến động môi trường an ninh quốc tế.
Nguồn: Dân Trí; Báo Mới; Vietnamnet; CafeF
Thế giới: Điểm du lịch nổi tiếng sụp đổ; Chiến sự Ukraine 3/10; EU bác yêu cầu gia nhập của Ukraine; Tuồn máy chủ AI Mỹ sang Trung Quốc; Trump sẽ phát 1.000 tỷ USD cho dân
Thế giới: Thảo luận chấm dứt xung đột Ukraine; Trump chặn tài năng công nghệ đến Mỹ; Elon Musk dự báo; Chiến sự Ukraine 11/10; Tâm điểm hội nghị IMF - WB
Thế giới: Đồng euro rớt đáy 17 tháng; Sự thật về xung đột với Nga; Nga cảnh báo nhằm vào nhà máy vũ khí; Chiến sự Ukraine 2/10; Thế giới ngày 2.10
Thế giới: Du lịch Trung Quốc bùng nổ tour dài ngày; Trường học tại Pháp đóng cửa; Chiến sự Ukraine 5/10; Mỹ đề xuất đàm phán ba bên; Tin nóng hôm nay
Thế giới: Giá vàng đồng loạt giảm sâu; EU che giấu sự thật mua năng lượng Nga trị giá 320 tỷ USD; Chiến sự Ukraine 13/10; Nga không còn lằn ranh đỏ
Thế giới: 14 nhà khoa học Việt là “Ngôi sao đang lên”; Tin thế giới hôm nay; Nga-Mỹ bắt tay; Chiến sự Ukraine 8/10; Lithuania đưa quân đến sát Kaliningrad
Thế giới: Dự trữ khí đốt EU chạm đáy; Doanh nhân mở rộng kinh doanh, tăng tài sản; Chủ nhân giải Nobel Hòa bình 2026; Chiến sự Ukraine; Nóng thế giới 9/10
Thế giới: Ước mơ vực dậy nước Pháp; Kế hoạch hoà bình bốn điểm ở Ukraine; Trump liên tiếp trao “trái ngọt” cho Nga; Chiến sự Ukraine; Chiến sự Trung Đông 14/10
Bình luận và đánh giá
Gửi nhận xét đánh giá